Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
---------------------
Kế hoạch tài chính và chi tiêu trung hạn giai đoạn 2007-2009 có ý
nghĩa quan trọng trong việc tổ chức triển khai thực hiện các mục tiêu phát
triển kinh tế xã hội trong kế hoạch 5 năm 2006-2010 mà Đại hội Đảng và
Nghị quyết của Quốc hội đã thông qua.
Đây là kế hoạch huy động và đưa vào sử dụng các nguồn lực tài
chính quốc gia, đặc biệt là nguồn lực từ ngân sách nhà nước cho sự nghiệp
phát triển của đất nước trong giai đoạn trung hạn 2007-2009, hướng tới
việc hoàn thành mục tiêu chiến lược đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở
thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Kế hoạch tài chính và chi tiêu trung hạn giai đoạn 2007-2009 được
xây dựng trong bối cảnh đất nước chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ nước
ta tham gia vào tiến trình toàn cầu hóa một cách toàn diện và sâu sắc;
không những Việt Nam phải thực hiện đầy đủ các cam kết đã ký kết với
các nước và các tổ chức quốc tế mà còn hòa đồng vào một sân chơi đầy
thách thức và cũng nhiều cơ hội. Toàn cầu hóa sẽ làm tăng sức ép cạnh
tranh, nhất là sức ép đối với những nước có trình độ phát triển thấp như
nước ta.
Hòa nhập với cộng đồng quốc tế, việc xây dựng kế hoạch tài chính
và chi tiêu trung hạn là yêu cầu khách quan hết sức cần thiết với mục đích
cải thiện và nâng cao hiệu quả công tác xây dựng kế hoạch ngân sách nhà
nước năm 2007, khai thác có hiệu quả các nguồn lực của quốc gia, phân bổ
nguồn lực vào các mục tiêu ưu tiên; chủ động hợp tác và tạo ra những điều
kiện để tận dụng các cơ hội phát triển.
Giáo dục và Đào tạo là một trong bốn Bộ ngành Trung ương ( Bộ
Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Nông nghiệp và
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Phát triển Nông thôn) thực hiện thí điểm kế hoạch chi tiêu trung hạn giai
Cách lập ngân sách truyền thống sau thời gian dài thực hiện đã bộc
lộ những khuyết điểm của mình, nó không những không trở thành công cụ
hữu hiệu của nhà nước về quản lý ngân sách như mục đích vốn có của
mình mà những bất cập do nó tạo ra đã góp phần làm trầm trọng thêm bài
toán rắc rối về ngân sách. Những bất cập thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất là sự tách rời giữa chính sách, việc lập kế hoạch và lập
ngân sách. Trong khi Chính phủ tập trung vào việc xây dựng và thực hiện
các kế hoạch trung hạn 5 năm, và các chính sách do Chính phủ đề ra
thường có tác dụng kéo dài nhiều năm thì ngân sách lại chỉ được xây dựng
cho từng năm một. Mối liên hệ giữa ngân sách hàng năm với việc thực
hiện mục tiêu kế hoạch 5 năm là không rõ rang. Vì thế, các mục tiêu kế
hoạch trung hạn không được gắn với khả năng nguồn lực sẵn có và cũng
không được phản ánh thường xuyên trong ngân sách. Kết quả là, chính
sách có thể được tài trợ trong một vài năm nhưng sau đó có thể bị cắt bỏ
tùy tiện khi tình hình ngân sách không cho phép. Mối liên hệ giữa ngân
sách, chính sách và kế hoạch trung hạn vì thế rất lỏng lẻo. Kết quả tất yếu
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
của điều này là hiệu lực của kế hoạch trung hạn rất kém, khiến nó không
trở thành công cụ quản lý vĩ mô đắc lực, mang tình nhìn xa trông rộng của
nhà nước được.
Thứ hai, không đảm bảo tính kế thừa giữa kế hoạch và ngân sách
các năm. Ngay cả khi soạn lập ngân sách có tham chiếu đến các chỉ tiêu
của kế hoạch 5 năm hay các chương trình, chiến lược của chính phủ,
nhưng kế hoạch trung hạn hiện nay mang tính định kỳ 5 năm, tức là hết
thời kỳ 5 năm này thì chuyển qua xây dựng kế hoạch 5 năm tiếp theo. Điều
này hạn chế tính liên tục của các chính sách. Nếu thay cách lập kế hoạch
hay ngân sách này bằng một kế hoạch cuốn chiếu, tức là khi một năm trong
khuôn khổ 5 năm đó được thực hiện xong, nó sẽ ra khỏi khuôn khổ trung
hạn và một năm kế hoạch mới kế tiếp sẽ được bổ sung thì tại bất cứ thời
nhiệm. Kết quả là, trong các khoản chi thường xuyên hàng năm thiếu hẳn
phần dự toán chi vận hành bảo dưỡng cho các công trình công cộng đã và
đang được đưa vào hoạt động. Đây là một sự lãng phí nguồn lực vốn eo
hẹp của đất nước, vì các công trình công cộng không thể phát huy tối đa
công suất của mình, thậm chí còn xuống cấp rất nhanh chóng ngay sau khi
được xây dựng xong.
Tất cả những nhược điểm trên đều có thể được khắc phục được nếu
chuyển từ cách lập ngân sách truyền thống sang lập ngân sách theo khuôn
khổ chi tiêu trung hạn(MTEF).
1.2. Cơ sở lý luận về khuôn khổ chi tiêu trung hạn (MTEF)
a. Khái niệm
MTEF là một quy trình soạn lập và xây dựng kế hoạch ngân sách
minh bạch, trong đó đề ra giới hạn nguồn lực trung hạn được phân bổ từ
trên xuống nhằm đảm bảo kỷ luật tài khóa tổng thể và đòi hỏi việc xây
dựng các dự toán chi phí thực hiện chính sách từ dưới lên, thống nhất với
các chính sách chi tiêu theo các ưu tiên chiến lược.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Thảo luận chính sách
và xây dựng hạn
mức chi tiêu chính
thức
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nói một cách đơn giản, MTEF là quá trình kết hợp giữa việc xác
định các hạn mức chi tiêu chung cho toàn bộ nền kinh tế (hay còn gọi là kỷ
luật tài khóa tổng thể) ở cấp trung ương với việc phân bổ hạn mức đó cho
các ngành, các vùng theo các ưu tiên chiến lược của ngành hoặc vùng đó.
Và toàn bộ quá trình phân bổ ngân sách như vậy luôn được đặt trong bối
cảnh trung hạn (thường là ba năm), thay cho bối cảnh hàng năm như cách
lập ngân sách truyền thống.
b. Quy trình thực hiện MTEF(7 bước)
xếp thứ tự ưu
tiên các hoạt
động
Xây dựng các
dự toán trung
hạn thống nhất
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
như mục tiêu tiết kiệm ngân sách… để xác định tổng nguồn lực có thể sử
dụng để chi tiêu trong thời kì trung hạn.
(2) Các cơ quan phân bổ ngân sách TW sẽ sơ bộ xác định các hạn
mức chi tiêu cho các ngành theo các mục tiêu ưu tiên của chính phủ.
Những hạn mức này sẽ được chính phủ thông qua.
(3) Các bộ, ngành, địa phương sẽ xác định nhu cầu chi tiêu của mình
trong thời kì trung hạn(thường là 3 năm). Muốn làm được như vậy, các bộ
ngành, địa phương trước hết phải đánh giá lại chiến lược hoạt động của
đơn vị mình, rà soát lại các mục tiêu lâu dài, mục tiêu trước mắt, các đầu ra
dự kiến cũng như các hoạt động dự kiến cần thực hiện để có được đầu ra
mong muốn đó. Việc đánh giá này nhằm giúp các bộ, ngành, địa phương
nhận thức rõ ràng mối quan hệ logic giữa những hoạt động của đơn vị
mình với viêc thực hiện các đầu ra và các mục tiêu dự kiến. Nó sẽ đảm bảo
hoạt động của mỗi đơn vị đều có hướng đích đến một mục tiêu cụ thể nào
đó.
(4) Trên cơ sở đánh giá lại chiến lược hoạt động, các Bộ ngành địa
phương sẽ sắp xếp thứ tự ưu tiên các mục tiêu chiến lược và dự toán kinh
phí cần thiết để thực hiện chúng. Việc sắp xếp thứ tự ưu tiên các hoạt động
rất quan trọng. Nó cho phép các Bộ, ngành, địa phương thấy rõ những
công việc nào cần mở rộng giữ nguyên hay thu hẹp. Trong trường hợp tổng
hợp nhu cầu chi tiêu từ tất cả các Bộ, ngành, địa phương vượt quá hạn mức
chi tiêu cho phép thì các đơn vị buộc phải cắt giảm chi tiêu của mình. Việc
sắp xếp thứ tự ưu tiên sẽ giúp các đơn vị biết được cần cắt giảm ở những
huy động nguồn lực đáp ứng yêu cầu phát triển theo mục tiêu nhiệm vụ
kinh tế - xã hội, đồng thời cải thiện quy trình nâng cao chất lượng công tác
xây dựng kế hoạch và ngân sách nhà nước hàng năm của địa phương.
c. Ưu điểm của MTEF so với ngân sách truyền thống
Như vậy quy trình MTEF này đã thể hiện những ưu điểm hơn hẳn so
với quy trình lập nganh sách truyền thống, thể hiện ở chỗ:
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Ngân sách hàng năm luôn được đặt trong bối cảnh trung hạn, do đó
khi Quốc hội hay Chính phủ thông qua dự toán hàng năm, họ đều nhận
thức được rõ những gì sẽ tiếp tục được chi tiêu một cách nhất quán với kế
hoạch trung hạn của ngành và quốc gia trong những năm tiếp theo.
Nguồn lực khan hiếm luôn được đảm bảo phân bổ cho những lĩnh
vực ưu tiên. Việc tái phân bổ ngân sách cũng được thực hiện một cách
minh bạch, có những luận chứng chứ không phải là sự cắt giảm tùy tiện.
Các bộ ngành, địa phương chỉ được cấp ngân sách, để thực hiện
được các đầu ra hay mục tiêu đã dự kiến. Vì thế, việc quản lý ngân sách sẽ
chuyển từ kiểm soát đầu vào sang kiểm soát đầu ra và kết quả hoạt động
của các đơn vị thủ hưởng ngân sách. Điều này còn góp phần nâng cao tính
minh bạch và trách nhiệm giải trình của các đơn vị.
Việc phân bổ ngân sách sẽ căn cứ theo chiến lược và mục tiêu hoạt
động của các ngành và địa phương, vì vậy khắc phục được nhược điểm
tách rời giữa chi thường xuyên và chi đầu tư.
Mối liên hệ, trao đổi thông tin giữa trung ương và địa phương được
duy trì thường xuyên. Đồng thời, tính tự chủ của các bộ ngành địa phương
trong việc chi tiêu ngân sách cũng được nâng cao.
1.3. Những điều kiện tiền đề để có thể thực hiện thành công MTEF ở
Việt Nam
Nói chung điều kiện khi thực thi một chính sách mới đó là ý chí
quyết tâm của lãnh đạo, năng lực lãnh đạo, trang thiết bị cho chính sách
Phải có một đội ngũ cán bộ hoạch định kế hoạch và ngân sách có
trình độ cao từ cấp trung ương tới cấp địa phương. Điều này không thể
ngay một lúc mà có được, mà nó đòi hỏi phải có kế hoạch nâng cao năng
lực cán bộ lập ngân sách ngay từ bây giờ, với việc tranh thủ sự ủng hộ và
trợ giúp của các chuyên gia quốc tế.
Tóm lại, MTEF là một quy trình soạn lập và quản lý ngân sách hiệu
quả, nâng cao được tính minh bạch về ngân sách, đảm bảo được kỷ luật tài
chính tổng thể và phân bổ được các nguồn lực khan hiếm của ngân sách
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
vào các lĩnh vực được ưu tiên. Thực hiện MTEF đòi hỏi phải có sự chuẩn
bị chu đáo và chuyển đổi dần dần từ quy trình soạn lập ngân sách truyền
thống hàng năm. Tuy nhiên, với quyết tâm cao từ phía các nhà lãnh đạo,
việc chuyển đổi đó là có thể thực hiện được, giống như nhiều quốc gia
xung quanh chúng ta đã và đang thử nghiệm.
2. Vai trò của giáo dục với phát triển kinh tế
2.1. Giáo dục và Đào tạo và vai trò quyết định của nó trong đào tạo
nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế
Con người là trung tâm của sự phát triển, nó vừa là mục tiêu vừa là
động lực của phát triển. Tuy nhiên, nhân tố con người vốn nằm ở dạng
tiềm năng. Ðể nhân tố con người trở thành nguồn lực mạnh mẽ bao gồm
những người lao động, có ý thức tốt, trình độ cao, dồi dào tinh thần yêu
nước, trách nhiệm với công việc, sống có văn hóa, cầu thị chính là mục
tiêu và kết quả của giáo dục - đào tạo.
a. Vài nét về vốn con người
Thông thường khi nói đến vốn, người ta thường đề cập đến vốn vật
chất như: Nhà xưởng, máy móc, trang thiết bị kỹ thuật, dự trữ hàng hoá và
nguyên liệu thô. Nhưng “ vốn con người “- năng lực, tri thức và kỹ năng
của con người đóng vai trò rất quan trọng đối với sản xuất. Ở Mỹ thu nhập
dựa trên tri thức và kỹ năng (thông qua lương) gấp 14 lần so với thu nhập
thức thúc đẩy. Sự công nhận này xuất phát từ thực tế là các quốc gia quan
tâm phát triển tri thức thông qua đầu tư mạnh vào giáo dục. Hơn nữa, ngày
nay các nước nghèo có thể “nhảy vọt “ trong quá trình phát triển của mình
với điều kiện có thể tiếp thu các tri thức tiên tiến của toàn cầu và điều
chỉnh nó phù hợp với nhu câu phát triển của nền kinh tế nước họ. Lực
lượng lao động được đào tạo tốt và có khả năng thích ứng là yếu tố trung
tâm để thực hiện mục tiêu này.
Hầu hết vốn con người được tạo dựng thông qua giáo dục hoặc đào
tạo để giúp tăng năng suất kinh tế của cá nhân- tức là tạo điều kiện cho
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
người đó sản xuất các hàng hoá và dịch vụ ngày càng có giá trị hơn và nhờ
đó kiếm được thu nhập cao hơn. Chính vì vậy các Chính phủ, công nhân va
các chủ doanh nghiệp đầu tư vào vốn con người thông qua vịêc đầu tư tiền
bạc và thời gian vào giáo dục và đào tạo. Chính phủ chi tiêu công quỹ cho
giáo dục vì họ tin rằng người dân được đào tạo tốt hơn sẽ đóng góp vào sự
phát triển nhanh hơn và bền vững hơn của đất nước. Các ông chủ trả tiền
đào tạo cho người lao động vì họ hy vọng sẽ bù đắp chi phí và có thêm lợi
nhuận khi năng suất tăng. Các cá nhân thường đầu tư thời gian và tiền bạc
vào giáo dục và đào tạo do ở hầu hết các quốc gia những người được đào
tạo tốt và có kỹ năng thường kiếm được nhiều tiền hơn.
Để tạo ra hiệu suất kinh tế, giáo dục và đào tạo phải đáp ứng các
nhu cầu thường xuyên thay đổi của thị trường lao động, đó là giáo dục và
đào tạo phải trang bị cho các h ọc viên kiến thức và kỹ năng cần thiết trong
từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế của một nước. Những nước đang
chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường
thường cần nhiều người được đào tạo về kinh tế và quản lý kinh doanh để
làm việc trong những lĩnh vực tư nhân mới nổi cũng như trong các lĩnh vực
Nhà nước đã cải tổ. Cuộc cách mạng thông tin liên lạc ngày càng đòi hỏi
phải có được nhiều người có kỹ năng máy tính hơn, còn quá trình toàn cầu
13,1%, Đại học là 10,9%. Các số liệu tương ứng của Việt Nam là 10,8%,
3,8% và 3,0%. Như vậy có thể thấy rằng giáo dục tiểu học và giáo dục cơ
bản là có hiệu quả hơn, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Do
vậy chính sách giáo dục của các nước đang phát triển cũng tập trung nhiều
và ưu tiên nhiểu hơn cho giáo dục tiểu học.
Thứ ba, giáo dục giúp cho việc cung cấp kiến thức và những thông
tin để người dân đặc biệt là phụ nữ có thể có thể sử dụng những công nghệ
nhằm tăng cường sức khoẻ,dinh dương. Chẳng hạn tỷ lệ tử vong trẻ em
giảm xuống, tỷ lệ dinh dương trẻ em tăng lên cùng với học vấn của cha mẹ,
đặc biệt của người mẹ vì biết sinh hoạt về sinh hơn hay biết cách sử dụng
những thức ăn giầu dinh dưỡng hơn… Với ý nghĩa trên giáo dục còn góp
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
phần vào việc bổ sung cho các dịch vụ y tế ( giảm nhu cầu về những dịch
vu y tế).
Như vậy, giáo dục có vai trò vô cùng quan trọng, bên cạnh y tế và
tác phong công nghiệp, giáo dục quyết định chất lượng của lực lượng lao
động. Một xã hội có chất lượng lao động càng cao thì càng phát triển.
2.2 Thực trạng ngành giáo dục Việt Nam
a. Tổng quan
Tuổi
(Nguồn: Trang web Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN
Tiến sĩ
( 2- 4 năm)
Đại học
( 4 – 6 năm)
Cao đẳng
( 3 năm)
phân cấp rất rõ ràng từ cấp nhà trẻ cho trẻ em từ 3 tuổi cho đến cấp thạc sỹ,
tiến sỹ từ 24 tuổi trở lên sau khi đã tốt nghiệp bậc đại học, cao đẳng. Các
bậc giáo dục tăng dần theo cấp học và theo độ tuổi của học viên, và tại
từng mỗi cấp học đều có quy định số năm đào tạo cụ thể. Học viên hoàn
thành phổ cập giáo dục theo từng cấp và được cấp bằng tương ứng với cấp
giáo dục đó theo đúng quy chế. Hệ thống giáo dục Việt Nam bao gồm có 4
cấp cơ bản : giáo dục mầm non(trong độ tuổi từ 3-5 tuổi), giáo dục phổ
thông(trong độ tuổi từ 6-15), giáo dục chuyên nghiệp(trong độ tuổi từ 15-
18) và giáo dục đại học (từ 15-24 tuổi) và sau đại học(trên 24 tuổi). Tương
ứng với các cấp giáo dục và cũng là điều kiện cho việc chuyển từ cấp giáo
dục thấp lên cấp giáo dục cao thì cũng có thêm quy định về hệ thống văn
bằng chứng chỉ.
b. Thành tựu
Mặc dù đất nước còn nghèo, thu nhập quốc dân còn thấp, lại trải
qua mấy chục năm chiến tranh nhưng giáo dục Việt Nam đã đạt được
những thành tựu to lớn.
* Hệ thống giáo dục quốc dân tương đối hoàn chỉnh, thống nhất,
đa dạng hóa được hình thành với đầy đủ các cấp học và trình độ đào tạo từ
mầm non đến sau đại học. Mạng lưới các trường phổ thông được xây dựng
rộng khắp trên toàn quốc.
Không thể phủ nhận chính giáo dục đã chọn lọc và đào tạo nên
những nhân tài cho đất nước, đào tạo nên nguồn lao động có tri thức, ham
học hỏi đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp phát
triển đất nước.
* Công bằng xã hội trong giáo dục cơ sở về cơ bản được đảm bảo,
giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số có những chuyển biến tích cực. Cả
nước hoàn thành công tác xóa mù chữ, tỷ lệ biết chữ ở Việt Nam tương đối
cao (92% dân số), thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
thiếu thốn, nghèo nàn lạc hậu, giáo trình thiếu cập nhật, trình độ giáo viên
chưa cao và chưa được quan tâm đúng mức, công tác quản lý giáo dục còn
kém hiệu quả... Đặc biệt hiện vẫn còn hàng triệu trẻ em không được đến
trường.
Những hạn chế của nền giáo dục Việt Nam bắt nguồn từ những
nhược điểm có tính truyền thống của văn hóa Việt Nam và những hạn chế
của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nhiều cuộc cải cách giáo dục đều diễn ra
nhưng hầu như đều thất bại do chỉ cải cách trên phương diện lý thuyết.
Chương trình giáo dục thiếu tính đa dạng, vẫn nặng lý thuyết, tính ứng
dụng thực tế thấp. Bên cạnh đó nặng về thi cử với nhiều kỳ thi kéo dài gây
áp lực cho thí sinh, sinh ra tâm lý học đối phó ở một bộ phận học sinh, sinh
viên. Và một trong những sai lầm cơ bản của hệ thống giáo dục Việt Nam
là coi vai trò của giáo dục đại học cao hơn giáo dục phổ thông. Tư tưởng
này trái ngược với hầu hết các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới.
Thêm vào đó, nạn dạy thêm tràn lan, gian lận trong thi cử và bệnh
thành tích trong giáo dục…Tình trạng “hổng kiến thức” ở một bộ phận học
sinh sinh viên cũng đáng báo động.
Chúng ta thường nghe thấy những lời phàn nàn về chất lượng giáo
dục. Trong thời kỳ còn chiến tranh hay trong cơ chế bao cấp, nền giáo dục
XHCN của nước ta đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn, chất lượng
giáo dục ở nhiều mặt đã được khẳng định, và chính nguồn nhân lực do
ngành giáo dục và đào tạo đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước, như chúng ta đang chứng kiến.
Một điều trăn trở là sự phân hóa quá lớn trong chất lượng giáo dục
phổ thông, mà kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2007 mới chỉ phản ánh
một phần. Khi mà chất lượng dạy học (về mặt văn hóa) còn chưa bảo đảm,
thì khó có thể nói đến chất lượng giáo dục toàn diện. Ðiều này sẽ ảnh
hưởng lâu dài đến sự phát triển kinh tế - xã hội.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Trong thời đại cách mạng công nghệ, đại học có vai trò chủ đạo
trong toàn bộ hệ thống giáo dục của một nước. Nhưng so với thế giới và
khu vực, GDĐH của ta còn quá yếu kém, tụt hậu còn xa hơn GDPT. Trước
đây ta xây dựng đại học theo mô hình Liên xô cũ, nó không còn thích hợp
với giai đoạn phát triển mới của đất nước, song những biện pháp sửa đổi
chắp vá thời gian qua đã phá vỡ tính hệ thống của nó, rốt cuộc tạo ra cảnh
tượng lộn xộn, không còn chuẩn mực, không theo quy củ, tuỳ tiện, và kém
hiệu quả. Cụ thể là :
Chương trình học ở Việt Nam quá dài. Nên GDĐH Việt nam vẫn
còn mang nặng tính sách vở lý thuyết, giảm đáng kể tính sáng tạo áp dụng
thực tế của sinh viên.
Chương trình học ở Việt nam rất dàn trải, buộc sinh viên phải học
rất nhiều môn của nhiều chuyên ngành cùng một lúc, trong khi đó kiến
thức cung cấp cho sinh viên không thực sự sâu và có tính sáng tạo.
Chương trình ở Việt Nam không trang bị cho học sinh những kiến
thức cơ bản và toàn diện, khoa học tự nhiên, nhân văn, văn chương và
nghệ thuật, không có một lớp nào về phương pháp nghiên cứu và viết luận
văn… Đó là những kiến thức cơ bản rất cần thiết mà rất nhiều sinh viên
muốn biết.
Đương nhiên, đây không chỉ là vấn đề của giáo dục, mà là vấn đề
của toàn xã hội, nhưng trong đó trách nhiệm và vai trò cuả giáo dục rất lớn.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Chương II. Quy trình Xây dựng và Nội dung Kế
hoạch chi tiêu trung hạn ngành Giáo dục và
Đào tạo giai đoạn 2007-2009
I. Quy trình xây dựng Kế hoạch chi tiêu trung hạn
“Theo MTEF, việc phân bổ ngân sách dựa trên sự thống nhất giữa mức
2005
Thực hiện
2006
Thực hiện
2007
Dự báo
2008
Dự báo
2009
Tổng chi NS cho
ngành giáo dục đào
tạo
45.023 51.271 66.103 72.000 81.200
% so với tổng chi
NSNN
17% 19,4% 18,5% 18,9% 18,9%
Trong đó
Chi đầu tư 7.423 10.109 11.530 13.100 15.200
Chi thường xuyên 37.600 41.162 54.573 58.900 66.000
(Nguồn: Báo cáo Kế hoạch tài chính ngành giáo dục 2006-2010)
Các ưu tiên của MTEF 2007-2009 cho ngành giáo dục và đào tạo là
tăng nguồn vốn đầu tư từ ngân sách cho lĩnh vực giáo dục, đồng thời đẩy
mạnh công tác xã hội hóa để huy động nhiều nguồn lực thuộc các thành
phần kinh tế để đầu tư cho giáo dục đào tạo. Đầu tư cho hệ thống các
trường tiểu học, các trường trung học cơ sở để hoàn thành chương trình
phổ cập trung học cơ sơ vào năm 2010; tiếp tục thực hiện chương trình
kiên cố hóa trường học. Tập trung đầu tư cho các dự án lớn: hai đại học
Quốc gia; các trường đại học trọng điểm: các trường Đại học Bách khoa,
Sư phạm, Kinh tế, Y, Dược; các trường đại học vùng. Đầu tư giải quyết
chỗ ở cho sinh viên từ nhiều nguồn vốn đầu tư trong xã hội.
tạo
45.023 51.271 66.103 72.000 81.200
% so với tổng chi
NSNN
17% 19,4% 18,5% 18,9% 18,9%
Trong đó
Chi đầu tư 7.423 10.109 11.530 13.100 15.200
Chi thường xuyên 37.600 41.162 54.573 58.900 66.000
(Nguồn: Kế hoạch tài chính ngành Giáo dục 2006-2010)
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
2.1. Vốn đề xuất chi tiêu cho các chính sách và hoạt động hiện hành
của ngành Giáo dục trong tài khóa trung hạn 2007-2009
Việc đề xuất chi tiêu cơ sở cho các ngành được căn cứ vào các yếu
tố như sau:
Mức trần ngân sách trong cân đối được bố trí cho các ngành. Đây là
căn cứ đầu tiên quan trọng, một đề xuất quá cao trong bối cảnh nguồn ngân
sách eo hẹp là không thực tế và ngược lại một đề xuất quá thấp sẽ là không
tận dụng triệt để nguồn lực, thông thường thì các bộ ngành đều đề xuất
mức chi tiêu cao hơn so với mức trần ngân sách.
Các chi tiêu cơ sở đã và đang thực hiện. Việc đề xuất vốn chi tiêu
cho năm mới không thể tách rời năm cơ sở và xu hướng của nó, có thế thì
mối liên kết giữa các năm mới được đảm bảo.
Các cam kết của chính phủ về chi tiêu thường xuyên và chi tiêu đầu
tư đã có nguồn vốn bố trí trong năm cơ sở.
Khoảng thu ngân sách, phí, lệ phí và các nguồn thu khác ngoài
nguồn cân đối ngân sách nhà nước ở mức trần. Bên cạnh nguồn từ ngân
sách, giáo dục cũng có thể tận dụng vốn chi tiêu từ các nguồn thu khác.
Theo đó vốn đề xuất chi tiêu cho ngành giáo dục như sau:
Bảng 3: Vốn đề xuất của các ngành Giáo dục và Đào tạo cho chi tiêu
(Nguồn: Kế hoạch tài chính ngành Giáo dục 2006-2010)
3. So sánh mức đề xuất chi tiêu của Bộ Giáo dục và Đào tạo
với mức trần chi tiêu đặt ra
So sánh mức trần trong cân đối ngân sách, việc đề xuất chi tiêu của
ngành Giáo dục và Đào tạo tăng khá cao. Bảng dưới đây chứng mình điều
đó:
Bảng 5: So sánh mức chênh lệch của trần Ngân sách và đề xuất chi
tiêu ngành Giáo dục và Đào tạo
(Đơn vị: tỷ đồng)
Năm
Mức Đề % tăng Mức Đề % tăng Mức Đề % tăng
trần xuất so với trần xuất so với trần xuất so với
dự toán 2007 trần dự toán 2008 trần dự toán 2009 trần
2007 2007 2008 2008 2009 2009
Tổng 66.103 105.934 59 72.000 115.082 59 81.200 126.529 55,8
ĐT 11.530 28.121 154 13.100 26.921 105 15.200 25.228 66
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368