ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ KIM CHI
NHỮNG QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH
VỀ ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN VÀ VẬN DỤNG
NHỮNG QUAN ĐIỂM ĐÓ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội – 2008
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Mục lục
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu 4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu 7
6. Đóng góp của luận văn 7
7. Kết cấu luận văn 8
Chương 1. QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁN
BỘ
1.1. Đạo đức là gốc của người cách mạng 9
1.2. Những nội dung về đạo đức cán bộ 15
1.2.1. Những đạo đức cơ bản của người cán bộ, đảng viên 15
1.2.1.1. Trung với nước, hiếu với dân 15
1.2.1.2. Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư 21
1.2.1.3. Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm 27
1.2.1.4. Tinh thần yêu lao động, nỗ lực học tập, cầu tiến bộ 29
1.2.1.5. Tinh thần quốc tế trong sáng 31
1.2.2. Những căn bệnh thường mắc phải của người cán bộ, đảng viên 34
1.2.2.1.Bệnh tham lam 35
1.2.2.2.Bệnh lười biếng 36
- 2 -
1.2.2.3.Bệnh kiêu ngạo 36
1.2.2.4.Bệnh quan liêu 37
1.2.2.5.Bệnh hẹp hòi, địa phương chủ nghĩa 40
1.2.2.6.Bệnh tự cho mình là lãnh tụ 41
1.3. Phương pháp xây dựng, rèn luyện cán bộ, đảng viên 46
1.3.1. Tu dưỡng bền bỉ, thường xuyên 47
1
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử nhân loại thế kỷ XX, Hồ Chí Minh là biểu tượng về quyết
tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng
dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các
dân tộc vì độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội…Với những cống hiến
của Người cho sự nghiệp cách mạng nước nhà và sự nghiệp cách mạng thế
giới, Hồ Chí Minh đã được Đảng và nhân dân ta tôn vinh là anh hùng dân tộc
vĩ đại, và được UNESCO đánh giá là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn
hoá kiệt xuất của Việt Nam.
Di sản tư tưởng của Người để lại thật vô cùng quan trọng và có ý nghĩa
to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Việt Nam. Tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VII, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Đảng lấy chủ
nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ
nam cho hành động. Để phấn đấu thực hiện đạt mục tiêu của chủ nghĩa xã hội
ở nước ta “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, việc
vận dụng đúng đắn và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như chủ
nghĩa Mác – Lênin trở nên hết sức quan trọng và cần thiết.
Trong suốt quá trình hoạt động của mình, Hồ Chí Minh luôn quan tâm
đến vấn đề đạo đức của người cách mạng. Những quan điểm của Hồ Chí
Minh về đạo đức cũng như tấm gương đạo đức của Người là một bộ phận
quan trọng trong hệ thống di sản tư tưởng của Người. Tư tưởng Hồ Chí Minh
về đạo đức cách mạng đã trở thành nền tảng đạo đức ở nước ta, một di sản
văn hoá vô cùng quý báu, một động lực tinh thần cho toàn Đảng, toàn dân.
Trong những quan điểm đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh đặc biệt chú
ý đến đạo đức của cán bộ, đảng viên, Người luôn đòi hỏi cán bộ, đảng viên
3
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về
đạo đức nói chung, những quan điểm của Người về đạo đức cán bộ, đảng viên
nói riêng là quan trọng nhưng việc vận dụng những tư tưởng, quan điểm đó
vào thực tiễn còn quan trọng hơn và cấp thiết hơn nhiều. Nghiên cứu và vận
dụng quan điểm Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ, đảng viên trở thành nhiệm
vụ quan trọng nhằm góp phần bồi dưỡng và phát huy nguồn nhân lực trong
thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước .
Ngày 7-11-2006, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 06-CT/TW về tổ chức
cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Mục
đích của cuộc vận động là: làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận thức sâu sắc về
những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức và tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn
luyện và làm theo tấm gương đạo đức của Người; đẩy lùi sự suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện
thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng. Cuộc vận động được phát động
trong Đảng và xã hội bắt đầu từ ngày 03-02-2007 và tổng kết vào ngày 03-02-
2011. Điều đó càng chứng tỏ rằng, những quan điểm của Hồ Chí Minh về đạo
đức, trong đó có đạo đức cán bộ, đảng viên đang và sẽ là những chỉ dẫn rất
quan trọng cho cuộc sống của người Việt Nam nói chung, cho cán bộ, đảng
viên nói riêng. Chúng tôi nghiên cứu những quan điểm của Hồ Chí Minh về
đạo đức cán bộ, đảng viên cũng là để góp phần nhỏ bé của mình vào việc
hưởng ứng và thực hiện cuộc vận động đó.
Chính vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Những quan điểm
của Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ, đảng viên và vận dụng những quan
điểm đó trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình.
cường tu dưỡng, rèn luyện đạo đức Hồ Chí Minh đối với đội ngũ cán bộ quân
sự.
Phạm Quốc Thành với cuốn “Tư tưởng Hồ Chí Minh về rèn luyện đạo
đức cho cán bộ đảng viên” (Nxb Chính trị quốc gia, 2004), đã nghiên cứu tư
tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của người cán bộ và những chuẩn mực đạo đức
cơ bản của người cán bộ, đảng viên, những căn bệnh mà người cán bộ, đảng
viên cần tránh và những phương pháp phấn đấu rèn luyện để trở thành người
cán bộ, đảng viên tốt và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao công tác giáo dục
chính trị, tư tưởng, đạo đức cho cán bộ, đảng viên. Cuốn sách đã nghiên cứu
tư tưởng về rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên thông qua
các tác phẩm, bài nói, bài viết của Người trong thời kỳ 1945-1954. Tác giả đã
góp phần làm rõ điều kiện lịch sử và yêu cầu rèn luyện đạo đức cho cán bộ,
đảng viên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược; từ đó tác
giả nêu lên giá trị của những quan điểm ấy đối với lịch sử xây dựng, rèn luyện
đạo đức cho cán bộ, đảng viên và vận dụng vào sự nghiệp đổi mới hiện nay.
Phạm Ngọc Dũng với bài “Hồ Chí Minh với việc rèn luyện đạo đức
cách mạng cho cán bộ đảng viên” trên website: w. w. w.cpv.vn ngày 09-5-
2007 đã đưa ra những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo
đức cán bộ, đảng viên và nêu cao tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Một số bài trên các tạp chí như: Đại tá. TS Đặng Nam Điền với “Một
số biện pháp giáo dục đạo đức lối sống cho cán bộ đảng viên ở chi bộ trong
tình hình hiện nay” trên website: www.cpv.vn ngày 15-5-2007, Nguyễn Văn
Phúc (1999) với “ Một số giải pháp xây dựng nhân cách đạo đức hiện nay”,
Tạp chí triết học, số 4; Lê Trọng Âu (2005) với “Tư tưởng Hồ Chí Minh về
đạo đức”, Tạp chí triết học, số 1 , Nguyễn Đình Tường với “Một số biểu hiện
của sự biến đổi giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện 6
nay và giải pháp khắc phục”, trên website: www.chungta.com.vn ngày 14-5-
đảng viên
- Phạm vi nghiên cứu: vận dụng tư tưởng trên trong thực tiễn xây dựng
đạo đức cán bộ, đảng viên hiện nay.
5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của đề tài là phép biện chứng duy vật. Bởi vì chỉ có phép
biện chứng duy vật mới đem lại cho chúng ta phương pháp nhận thức duy
nhất khoa học và hiệu nghiệm nhất, mới cho phép chúng ta thực hiện đúng
đắn quá trình nhận thức, vạch ra những mối liên hệ và quan hệ sâu xa nhất
của sự vật cũng như hiện tượng của thế giới khách quan.
Trên cơ sở phép biện chứng duy vật, đề tài sử dụng phương pháp kết
hợp lôgic và lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu làm phương
pháp nghiên cứu chính.
6. Đóng góp của luận văn
Nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là một vấn đề hoàn
toàn mới mẻ song nghiên cứu quan điểm Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ,
đảng viên cho đến nay còn hạn chế. Qua tìm hiểu các tác phẩm, các bài nói,
bài viết của Người về đạo đức, đồng thời tiếp thu và kế thừa thành quả lao
động của các nhà khoa học nghiên cứu về đạo đức trong tư tưởng Hồ Chí
Minh, luận văn này tìm hiểu và nghiên cứu một cách cơ bản khái quát quan
điểm Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ, đảng viên. 8
Tìm hiểu quan điểm Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ, đảng viên sẽ giúp
chúng ta hiểu rõ hơn về sự quan tâm của Người dành cho đội ngũ cán bộ,
đảng viên và việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức cán bộ, đảng viên qua đó để có
nhận thức khoa học hơn về tư tưởng Hồ Chí Minh.
Đề tài: “Những quan điểm của Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ, đảng
viên và vận dụng những quan điểm đó trong giai đoạn hiện nay” sẽ góp phần
làm phong phú hơn, đầy đủ hơn cho những nghiên cứu tư tưởng của Hồ Chí
triển của xã hội loài người. Đạo đức thuộc kiến trúc thượng tầng, chịu sự quy
định bởi cơ sở hạ tầng. Sự thay đổi của hạ tầng kinh tế xã hội làm thay đổi các
chuẩn mực đạo đức xã hội. Tuy nhiên, nhiều chuẩn mực, giá trị đạo đức, như
nhân đạo, dũng cảm, vị tha… có ý nghĩa toàn nhân loại và tồn tại phổ biến
trong các xã hội khác nhau. Do tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội nên
trong xã hội có giai cấp, đạo đức mang tính giai cấp. Trong xã hội có giai cấp
đối kháng, chuẩn mực đạo đức của giai cấp thống trị chiếm vị trí chi phối đạo
đức xã hội. Do hành vi đạo đức bắt nguồn từ ý thức đạo đức nên đạo đức
thường tỷ lệ thuận với trình độ học vấn, trình độ nhận thức của mỗi cá nhân.
Nhưng không phải cứ có trình độ học vấn cao là có trình độ văn hóa, đạo đức
cao và ngược lại, bởi có sự khác biệt và khoảng cách giữa ý thức đạo đức và
hành vi đạo đức, giữa nhận thức và hành động của mỗi người.
Đạo đức giữ vai trò quan trọng trong xã hội, là một bộ phận quan trọng
của nền tảng tinh thần của xã hội. Đạo đức cách mạng ở nước ta góp phần giữ
ổn định chính trị xã hội, qua đó thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội, xây
dựng xã hội “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. 10
Trong xã hội, sự khủng hoảng của đạo đức là một trong những nguyên nhân
dẫn đến khủng hoảng chính trị , kinh tế, xã hội…
Trong suốt quá trình chiến đấu lâu dài dựng nước và giữ nước ở Việt
Nam đã hình thành nên các chuẩn mực các giá trị đạo đức tốt đẹp trong quan
hệ gia đình, cộng đồng và xã hội, phù hợp với yêu cầu tồn tại, phát triển của
cộng đồng dân tộc. Ông cha ta luôn luôn coi trọng đạo đức, giữ gìn và phát
huy những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp. Đó là truyền thống yêu quê hương đất
nước, gắn bó với thiên nhiên, với cộng đồng, đoàn kết, chung thủy, cần cù,
yêu lao động, dũng cảm, kiên cường, hiếu học, sáng tạo…
Trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây
dựng xã hội mới, Đảng ta và Hồ Chí Minh luôn luôn chăm lo giữ gìn phát huy
dân, cho nước. Đó là lòng yêu nước thương nòi, sẵn sàng chiến đấu hy sinh,
xả thân vì sự nghiệp độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, sống có
tình, có nghĩa, có đạo đức, có lý tưởng, vì nước, vì dân, có ý chí tự lực, tự
cường, tinh thần đoàn kết nhân ái…đạo đức cách mạng đã trở thành một bộ
phận quan trọng của nền tảng tinh thần xã hội, là động lực, nguồn sức mạnh
to lớn để Đảng và nhân dân ta vượt qua mọi thử thách, hy sinh giành độc lập,
tự do, thống nhất Tổ quốc và xây dựng xã hội mới.
Bắt đầu bước chân vào cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã
quan tâm đến vấn đề đạo đức, đặc biệt từ khi tiếp nhận được ánh sáng từ chủ
nghĩa Mác-Lênin, Người đã có sự phân tích đạo đức truyền thống trên một
tinh thần cách mạng và khoa học. Càng nghiên cứu lý luận Mác - Lênin và đi
sâu vào thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh càng nhận thức rõ và sâu sắc vị trí,
vai trò của đạo đức cách mạng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây
dựng xã hội mới. Người nhắc nhở một điều quan trọng: Muốn thực hiện được
mục tiêu theo con đường cách mạng vô sản, mỗi người cần được trang bị và 12
thấm nhuần những điều thuộc tư cách một người cách mạng và như thế làm
cách mạng chỉ giác ngộ chính trị và tăng cường sức mạnh tổ chức thôi là chưa
đủ, cần phải thấm nhuần đạo đức cách mạng. Có thế mới tăng sức mạnh cho
cách mạng lên bội phần. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Cũng như sông thì có
nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có
gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài
giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân
tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có
đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hoá, xấu xa thì còn làm nổi việc
gì”. Cho nên vai trò của đạo đức ở đây cần hiểu rằng: Nó tác động theo hai
hướng, có đạo đức thì cách mạng thuận lợi, ngược lại nếu không có đạo đức
thì cách mạng thất bại. Bởi thế, mọi việc thành công hay thất bại chủ chốt là
mới hoàn thành được nhiệm vụ. Đức và tài là hai phẩm chất không thể thiếu
của một người cán bộ, đảng viên tốt. Hai phẩm chất này có mối quan hệ biện
chứng với nhau, bổ sung cho nhau và tạo tiền đề cho nhau phát triển. Đức là
nền tảng của tài, định hướng cho tài năng phát triển. Ngược lại, tài là thành tố
góp phần tạo nên đức, hoàn thiện đức. Dó đó cần phải trang bị cả hai phẩm
chất này cho người cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên trong hai phẩm chất đó đức
là cái gốc. Bởi vì, đức có ý nghĩa quyết định thái độ, lập trường chính trị, tư
tưởng của người cán bộ, đảng viên và quyết định mục tiêu, lý tưởng mà người
cán bộ, đảng viên phấn đấu.
Chính vì nhất quán trong tư tưởng vấn đề cán bộ là cốt tuỷ của sự
nghiệp cách mạng nên suốt cuộc đời mình, trong bất cứ hoàn cảnh nào, Người
cũng đau đáu một niềm suy nghĩ xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa
hồng, vừa chuyên ngang tầm với nhiệm vụ cách mạng, xứng đáng với niềm
tin yêu và trông cậy của nhân dân. Người đặc biệt quan tâm xây dựng đạo đức
cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng 14
làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang. Và người
cán bộ cách mạng phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ
cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng theo Người có thể tóm tắt là:
Nhận rõ phải, trái, giữ vững lập trường; tận trung với nước, tận hiếu với dân.
Đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách
mạng. Đó là điều chủ chốt nhất Người muốn khẳng định: muốn xây dựng chủ
nghĩa xã hội cần có con người xã hội chủ nghĩa. Con người xã hội chủ nghĩa
là con người có đạo đức cách mạng với phẩm chất: cần, kiệm, liêm, chính, chí
công vô tư, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng.
Xuất phát từ nhận thức đúng đắn về vai trò của đạo đức, Hồ Chí Minh
đã tự rèn luyện để có phẩm chất đạo đức cao quý của người cộng sản. Suốt
thời gian bôn ba ở nước ngoài, nằm gai nếm mật, tìm đường giải phóng cho
Từ tư tưởng coi đạo đức là cái gốc, nền tảng của người cách mạng, Hồ
Chí Minh đã có nhiều bài nói, bài viết đề cập đến đạo đức cách mạng. Đối với
cán bộ, đảng viên, Người đã chỉ ra những phẩm chất đạo đức cơ bản cần rèn
luyện và những căn bệnh mà cán bộ, đảng viên mắc phải cần được khắc phục.
Để từ đó Người đưa ra những nguyên tắc để rèn luyện đạo đức cho cán bộ,
đảng viên.
1.2.1. Những đạo đức cơ bản của người cán bộ, đảng viên
1.2.1.1. Trung với nước, hiếu với dân
Trong bài báo “Người cán bộ cách mạng”, đã đăng trên báo Nhân Dân,
ngày 3 tháng 3 năm 1955, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Người cán bộ cách mạng
phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người
cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là:
Nhận rõ phải trái. Giữ vững lập trường 16
Tận trung với nước. Tận hiếu với dân
Mọi việc thành hay bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức
cách mạng hay là không”[34,480].
Trong các mối quan hệ đạo đức mà nhân dân ta thường nói là: đạo cha
con, đạo vợ chồng, đạo thầy trò, đạo nghề nghiệp, thì đạo với dân, với nước là
đạo lớn nhất. Trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất đạo đức quan trọng
nhất. Trung, hiếu là những khái niệm đã có từ lâu đời trong đạo đức truyền
thống của Việt Nam và đạo đức Phương Đông, đã được Hồ Chí Minh sử dụng
với những nội dung mới, rộng lớn và cách mạng.
Theo quan niệm cũ, chữ Trung là đạo thờ vua, chữ Hiếu là đạo thờ cha
mẹ. Tuy những đạo này có ưu điểm là răn dạy con người luôn biết tu dưỡng
đạo đức cá nhân, nhưng lại có nhiều yếu tố chật hẹp, không phù hợp với cuộc
đấu tranh giải phóng dân tộc. Vì thế, Hồ Chí Minh đã tiếp biến khái niệm
trung, hiếu của Nho giáo để chọn lọc, tiếp thu những mặt tích cực, gạt bỏ
phải biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, cho tập thể, cho nhân
dân, phải đặt lợi ích của Đảng, của tập thể lên trước lợi ích riêng của cá nhân.
Sau khi nói về các tấm gương anh hùng, liệt sĩ, Hồ Chí Minh viết: “Họ cũng
có xương thịt như mọi người, cũng có gia đình như mọi người, cũng biết đau
đớn như mọi người. Nhưng vì họ đã nhận rõ PHẢI, TRÁI, và giữ vững lập
trường, cho nên họ đã hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích chung của nhân dân,
của Tổ quốc, và làm cho kháng chiến thắng lợi”[34,481]. Cuối bài báo, Hồ
Chí Minh viết: “Phải hiểu rằng bổn phận của người cán bộ cách mạng là suốt
đời hết lòng hết sức phục sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”[34,482].
Bên cạnh trung với Đảng, với Tổ quốc, Hồ Chí Minh xác định người
cán bộ, đảng viên còn phải biết hiếu với nhân dân. Khi đến thăm trường cán 18
bộ tự vệ Hồ Chí Minh ngày 7 tháng 1 năm 1946, Người nói: “Đạo đức, ngày
trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ. Ngày nay, thời đại mới, đạo đức
cũng phải mới. Phải trung với nước. Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào”.
Qua những lời dạy của Hồ Chí Minh, mọi người Việt Nam đều có thể hiểu là:
Thời đại mới ngày nay, đất nước là của nhân dân mà nhân dân lại là chủ nhân
của đất nước. “Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”, “bao nhiêu lợi ích đều vì
dân”, “bao nhiêu quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Đảng và Chính phủ
là công bộc, là đày tớ của nhân dân, chứ không phải là làm “quan nhân dân để
đè đầu cưỡi cổ nhân dân”. Người xưa chỉ hiếu với cha mẹ mình thôi, ngày nay
mà phải hiếu với nhân dân. Hồ Chí Minh nói: “…hiếu là hiếu với nhân dân; ta
thương cha mẹ ta, mà còn phải thương cha mẹ người, phải cho mọi người đều
biết thương cha mẹ”[32,640].
Nho giáo chỉ giới hạn chữ hiếu đối với cha mẹ. Hồ Chí Minh cũng
thường xuyên nhắc nhở chúng ta phải hiếu với cha mẹ mình, đồng thời Người
mở rộng phạm vị chữ hiếu thành hiếu với nhân dân. Đó là thái độ yêu mến,
quý trọng nhân dân, chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân. Hồ Chí
nhân dân phục vụ, làm tôi tớ của nhân dân. Người nói: “Đảng Lao động Việt
nam không sợ kẻ địch nào duc cho chúng có hung tợn đến mấy, không sợ
nhiệm vụ nào dù nguy hiểm nặng nề đến mấy, những đảng Lao động Việt
Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, tôi tớ trung thành của nhân dân”[33,185].
Chuẩn mực đạo đức “Trung với nước, hiếu với dân” theo Hồ Chí Minh
cũng chính là giá trị tư tưởng “ái quốc, ái dân”. Khi mất nước, nhà tan thì mọi
người có tinh thần yêu nước, có tinh thần dân tộc phải tìm đường cứu nước,
cứu dân. Khi có nền độc lập dân tộc, nếu lúc đất nước bị lâm nguy, phải quyết
tâm bảo vệ giang sơn gấm vóc của tổ tiên để lại với tinh thần “Quyết tử cho
Tổ quốc quyết sinh”, “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, 20
nhất định không chịu làm nô lệ”. Hồ Chí Minh đã nêu một tấm gương mẫu
mực trong thực hành chuẩn mực đạo đức “Trung với nước, hiếu với dân”.
Người ra đi tìm đường cứu nước không phải vì vinh thân, phì gia mà là để
cứu nước, cứu dân. Cuộc đời hoạt động của Người là cả quá trình đấu tranh,
cống hiến cho Đảng, cho cách mạng, vì hạnh phúc của nhân dân. Ngay sau
khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, với tư cách là Chủ tịch nước,
trước muôn vàn khó khăn sống còn của đất nước, Hồ Chí Minh đã có nhiều
bức thư, bài báo, bài nói để giáo dục và xác định mối quan hệ mới giữa chính
phủ với nhân dân, giữa cán bộ, đảng viên với nhân dân.
Đọc lại những bài báo, bài nói, bức thư và cả những việc làm của Hồ
Chí Minh về mối quan hệ với dân, chúng ta sẽ hiểu cụ thể và sâu sắc hơn thế
nào là trung với nước, hiếu với dân. Từ đó càng hiểu được vì sao nhân dân ta
đã kính yêu và tin tưởng ở Hồ Chí Minh đến thế. Chúng ta thấy rằng tình cảm
đạo đức của Hồ Chí Minh Hồ đã hòa làm một với tấm lòng yêu nước thương
dân của Người, và đã trở thành mục đích lý tưởng cao đẹp nhất, mà suốt đời
Hồ Chí Minh không một phút giây nào xa rời.
Nhân dân ta vốn đã gắn bó với nước, với nhà, yêu nước với thương