Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam - Pdf 25


i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ PHÚC AN
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON ĐƯỜNG
ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI

ii
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

MỞ ĐẦU……………………………………………………………… 1
Chương 1: CỨU NƯỚC VÀ GIẢI PHÓNG DÂN TỘC THEO CON
ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN ………………………………………… 24
1.1. Hồ Chí Minh xác định con đường cứu nước và giải phóng dân
tộc…………………………………………………………………………… 24
1.1.1. Giá trị văn hoá truyền thống với việc hình thành tư tưởng cách
mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh ………… ………………… 24
1.1.2. Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển biện chứng nguồn tư tưởng, văn
hoá của thế giới…………………………………………………………… 33
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cứu nước và giải phóng dân tộc theo
con đường xã hội chủ nghĩa… ………………………………………… 51
1.2.1. Chủ nghĩa xã hội - xu thế phát triển của nhân loại…………. 51
1.2.2. Chủ nghĩa xã hội – con đường cứu nước và mục tiêu phát triển dân
tộc của Hồ Chí Minh ……………………………………………………… 62
Tiểu kết chương 1…………………………………………………… 77
Chương 2: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM… 80
2.1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ……………… 80
2.2. Bước đi của một nước nông nghiệp lạc hậu, không qua giai đoạn tư
bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội ………………….………………… 88
2.3. Nội dung của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 99
2.4. Biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam .……… 128

vi
Tiểu kết chương 2…………………………………………………… 134
Chương 3: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VẬN DỤNG VÀ PHÁT
TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI …………………………………………………………. 136
3.1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội thời kỳ trước đổi mới ………………………………. 136

ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học
hành”[111, tr. 187]. Khát vọng của Người cũng chính là khát vọng của tất cả
mọi người dân yêu nước, là mục tiêu của cách mạng, của dân tộc Việt Nam.
Với Người, “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc
lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”[111, tr. 64]. Dân chúng chỉ cảm nhận được giá
trị thực sự của độc lập, tự do khi họ được ăn no, mặc ấm, được học hành để
phát triển, có hiểu biết để thực hành quyền dân chủ, quyền và nghĩa vụ của
người công dân. Chỉ có gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, từ đánh
thắng đế quốc thực dân, phong kiến mà tiến tới xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu, ra
sức phát triển sản xuất, thực hành tiết kiệm, đấu tranh chống quan liêu, lãng
phí, tham ô, đánh thắng cả giặc ngoại xâm lẫn giặc nội xâm thì mới có được sự
phát triển thực sự hài hòa giữa cá nhân với xã hội. Do đó, theo Hồ Chí Minh,
sau khi đấu tranh giải phóng dân tộc phải đưa đất nước đi theo con đường cách
mạng xã hội chủ nghĩa
1
, xây dựng một xã hội mới tốt đẹp, trong đó mọi người
đều được ấm no, hạnh phúc, tự do, bình đẳng. Vì “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản


Hồ Chí Minh có rất nhiều tên gọi, bí danh, bút danh khác nhau. Trong Luận án chúng tôi sử dụng thống
nhất tên Người qua các thời kỳ là Hồ Chí Minh.
1
Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng xã hội nhằm chuyển từ hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ
nghĩa sang hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, giai đoạn đầu là xã hội xã hội chủ nghĩa. (Tất cả các
khái niệm chú thích trong Luận án được trích từ cuốn Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa
Việt Nam (1995), Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 1, 2, 3, 4, Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Việt
Nam, Hà Nội.)

2
mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn

lại quyền độc lập cho dân tộc, xóa bỏ mọi tàn tích của chế độ phong kiến (và tiền phong kiến) đem lại ruộng
đất cho nông dân, thực hiện quyền tự do dân chủ cho nhân dân, xây dựng chế độ cộng hòa dân chủ, mở
đường cho xã hội phát triển… Các cuộc cách mạng dân tộc dân chủ do giai cấp công nhân lãnh đạo nhằm
thực hiện triệt để các nhiệm vụ dân tộc và dân chủ, dựa vào các lực lượng cách mạng của mặt trận dân tộc
thống nhất rộng rãi, lấy liên minh công nhân, nông dân và tiểu tư sản làm động lực, xây dựng và phát triển
chế độ dân chủ nhân dân, mở đường đưa đất nước tiến dần từng bước theo con đường xã hội chủ nghĩa… Do
hoàn cảnh lịch sử, đất nước, giai cấp, xã hội của các nước khác nhau nên cuộc cách mạng nhằm chống đế
quốc và phong kiến có những đặc điểm riêng biệt, song trong tiến trình phát triển, các nước thường tập trung
lực lượng cách mạng để giải quyết nhiệm vụ dân tộc, một nhiệm vụ quyết định phần lớn tính độc đáo của
cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa.

3
nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam
đã có sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới
4

đất nước như: các quan điểm về xây dựng kinh tế trong thời kỳ quá độ
5
(cơ
cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, về thực hiện chế độ khoán
sản phẩm); về thực hiện dân chủ trong quản lý xã hội; về vai trò của đội ngũ
trí thức trong cách mạng…
Để đưa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam tiếp tục đi
lên, nhiều kỳ Đại hội Đảng đã tổng kết thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội
trong những năm qua, chỉ ra sự lạc hậu, đặc biệt là trong nhận thức và vận
dụng lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở đó, Đảng Cộng sản
Việt Nam đề ra và từng bước bổ sung, phát triển đường lối đổi mới toàn diện
đất nước. Trong điều kiện khó khăn của sự tìm tòi, phát triển lý luận về chủ
nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện ngày càng rõ quan niệm
của mình về chủ nghĩa xã hội và cho rằng, cần được tiếp tục bổ sung, phát

56]. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX tiếp tục nhấn mạnh: “Đảng và nhân
dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ
nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”[22, tr.
83]. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (1-2011) của Đảng Cộng sản Việt
Nam khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm cho dân tộc ta có độc
lập, tự do thực sự, đất nước phát triển phồn vinh, nhân dân có cuộc sống ấm
no, hạnh phúc”[29, tr. 186].
Thực tiễn qua hơn 25 năm đổi mới, nhất là trong thời gian 10 năm trở lại
đây, khi đất nước đã ra khỏi khủng hoảng, bước vào thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng thể chế kinh tế thị trường và nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam, dưới ánh
sáng tư tưởng Hồ Chí Minh đã nhận thức ngày càng rõ hơn con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội trên những đường nét cơ bản. Kinh nghiệm và những bài học
được tích lũy cũng cho phép Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước hoàn thiện
lý luận đổi mới để phát triển xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhờ
đó, nội lực của đất nước và dân tộc đã được huy động vào các mục tiêu của
phát triển, cùng với các nguồn ngoại lực ngày càng được tận dụng, khai thác

5
có hiệu quả làm cho nội lực mạnh lên, đảm bảo cho sự nghiệp đổi mới và xây
dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân Việt Nam đi tới thắng lợi.
Thực tiễn trên đòi hỏi, cần suy xét một cách khoa học và sâu sắc di sản lý
luận của Hồ Chí Minh. Đối chiếu lý luận đó với thực tiễn. Tổng kết thực tiễn
Việt Nam và thế giới để tiếp tục bổ sung, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa
học. Phải kiên quyết phê phán các luận điệu thù địch. Bởi vì, trong số những
vấn đề mà kẻ thù tư tưởng ráo riết tấn công, xuyên tạc, phủ định không chỉ ở
những vấn đề về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà bao gồm cả
những vấn đề hết sức cơ bản, lớn và liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh và
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Do đó, nghiên cứu tư tưởng
Hồ Chí Minh, đặc biệt là nghiên cứu tư tưởng của Người về con đường đi lên

nghĩa xã hội. Để từ đó hiểu được giá trị và sức sống của tư tưởng Hồ Chí
Minh về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong thực tiễn Việt Nam. Vì vậy,
có thể nhìn nhận lịch sử vấn đề đã được nghiên cứu theo các nhóm tư liệu sau:
2.1.1. Nhóm tư liệu của các tác giả trong và ngoài nước đề cập đến
những vấn đề lý luận chung về chủ nghĩa xã hội, về thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội
- Các tác giả nước ngoài viết về chủ nghĩa xã hội như: B.N. Pônômariốp
(1981), Chủ nghĩa xã hội hiện thực và ý nghĩa quốc tế của nó, Nxb Sự thật,
Hà Nội; Tođo Gípcôp (1986), Chất lượng vấn đề then chốt để xây dựng chủ
nghĩa xã hội phát triển, Nxb Sự thật, Hà Nội; Kazuo Shii (1994), Chủ nghĩa
xã hội khoa học là gì?, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Trương Lôi Khắc, Tự
Lập Bình (1997), Lịch sử, hiện trạng và tương lai của chủ nghĩa xã hội, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội
- Các tác giả trong nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: Trịnh
Quốc Tuấn, Phạm Ngọc Quang (1991), Chủ nghĩa xã hội là gì? Tìm hiểu

7
quan điểm của các nhà kinh điển, Nxb Sự thật, Hà Nội; Hoàng Chí Bảo
(1993), Chủ nghĩa xã hội hiện thực: Khủng hoảng, đổi mới và xu hướng phát
triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; GS. PTS. Nguyễn Trọng Chuẩn, PTS.
Phạm Văn Đức, PTS. Hồ Sĩ Quý (Đồng chủ biên) (1997), Những quan điểm
cơ bản của Mác - Ăngghen- Lênin về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội; Lê Hữu Tầng (2003), Chủ nghĩa xã hội từ lý luận
đến thực tiễn – Những bài học kinh nghiệm chủ yếu, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội
Các công trình trên đã đề cập đến những quan điểm của C.Mác,
Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về chủ nghĩa xã hội, và thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư
bản lên chủ nghĩa xã hội, quan điểm về khả năng quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở một nước tiểu nông không qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Thực tiễn xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu, Trung Quốc và Việt Nam. Nguyên

triển con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, tính tất yếu lịch sử của con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội như: Đào Duy Tùng (1994), Quá
trình hình thành con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội; Trần Hậu (Chủ biên) (1997), Quá trình hình thành và phát
triển quan điểm lý luận của Đảng ta về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Khánh (1999), Đổi mới – bước phát triển
tất yếu đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
PGS, TS. Tô Huy Rứa, GS, TS. Hoàng Chí Bảo, PGS, TS. Trần Khắc Việt,
PGS, TS. Lê Ngọc Tòng (Đồng chủ biên) (2011), Quá trình đổi mới tư duy lý
luận của Đảng từ năm 1986 đến nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Những công trình trên đã tiếp tục khẳng định vai trò, tầm quan trọng của
đổi mới tư duy lý luận đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Thuyết minh,

9
luận chứng, trình bày những kết quả đạt được trong đổi mới về nhận thức,
quan điểm, về tư duy lý luận, trong tổ chức, chỉ đạo thực tiễn trên các lĩnh vực
của đời sống xã hội. Đưa ra những quan điểm, phương hướng và giải pháp
chủ yếu để phát triển và hoàn thiện lý luận trong giai đoạn hiện nay. Đồng
thời, cũng gợi mở nhiều vấn đề lý luận cần tiếp tục đầu tư, nghiên cứu.
2.1.3. Nhóm tư liệu có liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ
nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Thực tế việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã được triển khai khá sớm, từ
sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, song việc nghiên cứu quan điểm
lý luận cách mạng của Hồ Chí Minh trên góc độ tư tưởng, học thuyết cách
mạng thì hầu như chưa được xác định. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
II (1951), Đảng Cộng sản Việt Nam xác định vai trò, ý nghĩa, giá trị to lớn
của đường lối chính trị, tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí
Minh đối với cách mạng Việt Nam. Đặc biệt, Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VII (1991) của Đảng khẳng định “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư

ở Việt Nam bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa” (KHXH. 01.04) đã giành sự quan
tâm thích đáng để nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh với vấn đề nêu trên.
Ngoài các chương trình, đề tài khoa học kể trên còn có rất nhiều các
sách, các công trình nghiên cứu có liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh và tư
tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.
- Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về di sản Hồ Chí
Minh, cuộc đời và sự nghiệp Hồ Chí Minh, hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh
như: Võ Nguyên Giáp (2000), Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách
mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; GS. Song Thành (2005), Hồ
Chí Minh - nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội; Phạm Văn
Đồng (2009), Hồ Chí Minh – Tinh hoa và khí phách của dân tộc, Nxb Chính

11
trị quốc gia, Hà Nội; GS. Trần Văn Giàu (2010), Hồ Chí Minh – Vĩ đại một
con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; GS Song Thành (2010), Hồ Chí
Minh – Tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; GS, TS. Hoàng Chí Bảo
(2011), Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà
Nội; GS. Trần Nhâm (2011), Hồ Chí Minh – Nhà tư tưởng thiên tài, Nxb Chính
trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội; Vũ Khiêu (2012), Hồ Chí Minh – Ngôi sao sáng
mãi trên bầu trời Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội Các
công trình trên đã nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về tư tưởng Hồ
Chí Minh, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Những
cống hiến sáng tạo về tư tưởng – lý luận của Hồ Chí Minh đối với cách mạng
Việt Nam và ý nghĩa của nó đối với thời đại hiện nay. Đồng thời, các công
trình trên đã đi sâu vào một số nội dung lớn trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí
Minh như tư tưởng về giải phóng dân tộc, về xây dựng nhà nước, xây dựng
Đảng, tư tưởng triết học, tư tưởng kinh tế, chính trị, tư tưởng quân sự, tư
tưởng văn hóa, đạo đức và con người, phương pháp và phong cách Hồ Chí
Minh. Trong những nội dung đó có tư tưởng về con đường cách mạng Việt
Nam: từ độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội; quan niệm của Hồ Chí Minh

vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội
trong điều kiện hiện nay. Có thể nói, các công trình trên đã góp phần làm sáng
tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa
xã hội. Đồng thời, cung cấp nhiều gợi ý quan trọng và những tư liệu cần thiết
để tiếp tục đi sâu nghiên cứu mảng đề tài này.
Ngoài ra, Luận án còn sử dụng một nguồn tư liệu khá phong phú của các
học giả nước ngoài viết về Hồ Chí Minh như: Bernard Fall (1967), Hô Chi
Minh – de la révolution (1920-1966), Plon, Paris; Hô Chi Minh, Notre
camarade (1970), Introdution historique de Charles Fournioau Editions sociales,

13
Paris; Furuta Motoo (1997), Hồ Chí Minh giải phóng dân tộc và đổi mới, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội; W.J, Duiker (2000): Ho Chi Minh a life, Hyperion,
New York, America; Pierre Brocheux (2003), Hô Chi Minh – Du révolutionnaire
à l’icône, Biographie Payot, Paris; Ép-ghê-nhi Ca-bê-lép (2005), Đồng chí Hồ Chí
Minh, Nxb Công an nhân dân; Lady Borton (2009), Ho Chi Minh, story told on
the Trail, Thế giới Publishers, Hà Nội, Việt Nam; Lady Borton (2010), Ho
Chi Minh, a Journey, Thế giới Publishers, Hà Nội, Việt Nam Dưới con mắt
của người nước ngoài, các công trình trên đã nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp
của Hồ Chí Minh, cách đánh giá, nhìn nhận về công lao đóng góp của Hồ Chí
Minh đối với lịch sử dân tộc Việt Nam và nhân loại trong phong trào đấu tranh
chống chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân. Do đó, nó đã cung cấp những
luận cứ khoa học cho tác giả luận án trong việc tìm hiểu quá trình Hồ Chí Minh
hoạt động cách mạng ở nước ngoài; những quan điểm về sự vận dụng tư tưởng Hồ
Chí Minh ở Việt Nam kể từ sau Người qua đời
2.2. Tổng quan các vấn đề đã được nghiên cứu
Thông qua phần lịch sử nghiên cứu vấn đề có liên quan đến đề tài luận án
với các nhóm tư liệu, tài liệu đã được khái quát ở trên, cho thấy nghiên cứu tư
tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và luận giải ở các khía cạnh,

đường cách mạng xã hội chủ nghĩa. Con đường đó là hoàn toàn phù hợp với điều
kiện thực tiễn Việt Nam – một nước thuộc địa, nông nghiệp lạc hậu, kinh tế nhỏ
lẻ, manh mún. Con đường đó phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, giải đáp
được sự bế tắc, khủng hoảng về đường lối cứu nước trước đó.
Trong quá trình nghiên cứu về con đường cứu nước của Hồ Chí Minh,
tác giả nhận thấy, không phải chỉ đến với chủ nghĩa Lênin, Hồ Chí Minh mới
có những hiểu biết về chủ nghĩa xã hội. Mà ngay trong quá trình hoạt động

15
thực tiễn, Hồ Chí Minh đã có những cảm nhận ban đầu về tư tưởng xã hội chủ
nghĩa trước khi tiếp xúc với Luận cương của V.I.Lênin. Cuối năm 1919,
Người cùng một số đảng viên Đảng Xã hội Pháp đi quyên góp tiền trong các
phố Paris để giúp cách mạng Nga vượt qua nạn đói, hậu quả của việc Chính
phủ Pháp và chính phủ các nước đồng minh bao vây nước Nga Xôviết. Cùng
với việc quyên tiền, Hồ Chí Minh tham gia phân phát các truyền đơn của
Đảng Xã hội Pháp kêu gọi lao động Pháp lên án sự can thiệp vũ trang của
Chính phủ Pháp vào nước Nga, hoan nghênh Cách mạng Tháng Mười Nga.
Những báo cáo được Hồ Chí Minh trình bày vào đầu năm 1920 (tháng 7/1920
Hồ Chí Minh mới được tiếp xúc với Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương
của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa) đã cho thấy Người đã có những
hiểu biết nhất định về chủ nghĩa xã hội. Chẳng hạn, ngày 11/2/1920 Hồ Chí
Minh trình bày tại Hội nghị những người thanh niên cộng sản quận 2 đề tài
“chủ nghĩa Bônsêvích ở châu Á”, đề tài “vấn đề ruộng đất ở Trung Quốc và
Việt Nam”, đến ngày 27/3/1920, Hồ Chí Minh nói chuyện với thanh niên
Quận 13, Paris về chủ nghĩa xã hội. Đây cũng chính là một trong nhưng vấn
đề, theo tác giả luận án là cần phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu và làm rõ.
Thứ hai, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là một con đường khó khăn,
lâu dài và phải trải qua nhiều giai đoạn cách mạng khác nhau.
Khi nói đến con đường phát triển của cách mạng Việt Nam, có rất nhiều
công trình, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng cách mạng Việt Nam phải trải qua

nghĩa xã hội ở một nước nông nghiệp lạc hậu, chưa qua giai đoạn phát triển tư
bản chủ nghĩa, về mối quan hệ giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai
cấp phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam.
Trước đây, do ảnh hưởng của khuynh hướng “tả” và mô hình xây dựng
chủ nghĩa xã hội Xôviết nên có những lúc, có những thời kỳ tư tưởng Hồ Chí

17
Minh chưa được vận dụng trong thực tiễn. Điều đó cũng ít nhiều ảnh hưởng
đến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Sau khi Đảng đề
xướng đường lối Đổi mới, những nội dung mà Hồ Chí Minh đưa ra về xây
dựng nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ, về ưu tiên phát triển
kinh tế nông nghiệp, về thực hiện khoán sản phẩm, về dân chủ, về xây dựng
nhà nước pháp quyền, về vai trò của trí thức trong cách mạng được Đảng
Cộng sản Việt Nam vận dụng và phát triển đã đem lại nhiều thành tựu quan
trọng. Chính điều đó đã khẳng định giá trị và sức sống trường tồn của tư
tưởng Hồ Chí Minh trong xã hội Việt Nam.
Phải chăng, việc hình thành và xác lập tư tưởng Hồ Chí Minh về con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội cũng đã trải qua những thử thách hết sức khắc
nghiệt. Nó không phải là một hành trình phẳng lặng, thậm chí bị phê phán
bằng những từ ngữ nặng nề và cũng chưa nhận được sự đồng thuận trong nội
bộ Đảng. Điều này theo tác giả cũng là một vấn đề cần được nghiên cứu và
làm rõ.
Trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh, những
vấn đề trên đã thôi thúc tác giả cần phải đi sâu phân tích, tìm hiểu và làm rõ
hơn tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
để thấy được giá trị, tầm ảnh hưởng của tư tưởng Hồ Chí Minh trong cuộc
sống hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Luận chứng một cách sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường đi lên

ngành Hồ Chí Minh học chứ không phải từ cách tiếp cận sử học, triết học hay
từ một chuyên ngành nào khác. Có nghĩa là, không chỉ nghiên cứu tư tưởng,
quan điểm của Hồ Chí Minh mà còn nghiên cứu quá trình hoạt động và chỉ

19
đạo thực tiễn cách mạng của Người trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
- Về không gian, đề tài gắn liền với những yếu tố, điều kiện lịch sử có tác
động đến quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Sự vận dụng và phát triển sáng tạo
tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng
sản Việt Nam trong giai đoạn xây dựng đất nước hiện nay.
- Về nội hàm khái niệm “con đường đi lên chủ nghĩa xã hội”.
+ Chủ nghĩa xã hội là chế độ xã hội thay thế chủ nghĩa tư bản sau thắng
lợi của cuộc cách mạng vô sản, là giai đoạn thấp của hình thái kinh tế - xã hội
cộng sản chủ nghĩa.
+ Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là sự hoạch định về bước đi, biện
pháp và cách làm nhằm từng bước hiện thực hóa mục tiêu lý tưởng xã hội chủ
nghĩa. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội chính là giai đoạn phát triển cao
hơn, là định hướng của sự phát triển xã hội ở Việt Nam.
Trong Luận án, tác giả không có tham vọng trình bày toàn bộ nội dung tư
tưởng Hồ Chí Minh về đặc trưng, bản chất của chủ nghĩa xã hội, mục tiêu,
động lực của chủ nghĩa xã hội mà tác giả cố gắng khuôn vào những nội dung
về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Có nghĩa là trình bày những nhân tố có
ảnh hưởng đến việc Hồ Chí Minh lựa chọn con đường cách mạng vô sản,
những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, từ đó đưa ra
những quan điểm của Hồ Chí Minh về bước đi, biện pháp và cách làm để xây
dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận

Nam mà Người đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tìm ra bản chất,

21
quy luật đặc thù của Việt Nam, đề ra đường lối độc lập, tự chủ, đúng đắn,
sáng tạo cho cách mạng Việt Nam. Chính thực tiễn Việt Nam cũng đã khẳng
định đường lối mà Hồ Chí Minh đưa ra là phù hợp và hoàn toàn đúng đắn.
Phương pháp hệ thống, tức là đặt tư tưởng Hồ Chí Minh trong hệ tư
tưởng Mác - Lênin, đặt cách mạng Việt Nam nằm trong dòng chảy của cách
mạng thế giới, thấy được mối liên hệ giữa các mục tiêu của cách mạng dân
tộc dân chủ với cách mạng xã hội chủ nghĩa, gắn độc lập dân tộc với chủ
nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Phương pháp lôgíc và lịch sử:
Trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam, phương pháp lịch sử giúp chúng ta có thể nghiên cứu
được quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, để thấy được
giá trị của tư tưởng đó trong giai đoạn hiện nay.
Phương pháp lôgíc có tác dụng chỉ ra được những quan niệm của Hồ Chí
Minh về đặc trưng, bản chất, bước đi của chủ nghĩa xã hội, những biện pháp
cơ bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Không phải chỉ đưa ra
những câu nói, bài viết của Hồ Chí Minh ở thời kỳ này hay giai đoạn kia mà
từ những câu nói ở những thời điểm khác nhau, có thể không theo một trình
tự thời gian nhất định, để thấy được những quan niệm của Người về con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Phương pháp lôgíc cũng giúp chúng ta hình
dung những nhân tố khách quan và chủ quan, những ảnh hưởng qua lại của
dân tộc, truyền thống, thời đại, văn hoá và lịch sử tạo nên giá trị, bản lĩnh, bản
sắc, phong cách Hồ Chí Minh.
Phương pháp so sánh cho phép vạch rõ mối liên hệ chung – riêng, phổ
biến và đặc thù giữa Hồ Chí Minh với các vĩ nhân, danh nhân văn hoá khác,
nhận rõ những đóng góp và cống hiến riêng có của Hồ Chí Minh đối với lịch
sử. Chẳng hạn: phương pháp so sánh giúp chúng ta có thể thấy được con


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status