ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KIỀU TÔ HOÀI
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG TÁC VẬN
ĐỘNG QUẦN CHÚNG VÀ VIỆC VẬN DỤNG TƯ
TƯỞNG ĐÓ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Hồ Chí Minh học
ĐỘNG QUẦN CHÚNG VÀ VIỆC VẬN DỤNG TƯ
TƯỞNG ĐÓ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Hồ Chí Minh học
Mã số: 60 31 27 Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Phạm Văn Đức
Hà Nội - 2011 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1
2.2.4. Đẩy mạnh thực hiện công tác vận động quần chúng tham gia vào
giải quyết khiếu nại, tố cáo 75
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước Việt Nam trải ngàn năm dựng nước và giữ nước
với biết bao những biến đổi thăng trầm. Trong bất cứ giai đoạn lịch
sử nào, vai trò của nhân dân cũng luôn gắn với sự tồn tại, phát triển
của dân tộc Việt Nam. Để giữ vững độc lập chủ quyền của đất nước,
công việc quan trọng và trước hết là phải củng cố khối đoàn kết toàn
dân tộc, huy động toàn thể nhân dân tham gia vào sự nghiệp dựng
nước và giữ nước.
Hồ Chí Minh - lãnh tụ của Đảng Cộng sản và dân tộc Việt
Nam, sau khi ra đi tìm đường cứu nước, Người đã trở về để lãnh đạo
toàn dân tộc đấu tranh giành độc lập. Chính Hồ Chí Minh đã đến với
chủ nghĩa Mác - Lênin, đã thấy được một trong những nguyên lý cơ
bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử là "quần chúng nhân dân là người
Ở Việt Nam trong thế kỷ XX, chỉ đến khi Nguyễn Ái Quốc
tìm thấy con đường đúng đắn để giải phóng dân tộc thì vai trò, sức
mạnh của nhân dân mới được huy động tối đa.
Việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh đã được rất nhiều
học giả thực hiện ở những nội dung khác nhau để làm rõ nội dung, ý
nghĩa của những tư tưởng của Người. Đối với công tác vận động
quần chúng của Hồ Chí Minh, theo tôi được biết đã có một số công
trình nghiên cứu, cụ thể như:
- Đại tướng Võ Nguyên Giáp (chủ biên) (2008), Tư tưởng
Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội. Trong đó, đã trình bày một cách cơ bản những
5
nội dung chủ yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh của
khối đại đoàn kết toàn dân, vai trò quan trọng của khối đại đoàn kết
dân tộc và sức mạnh to lớn của lực lượng toàn dân.
- Phạm Văn Bính (chủ biên) (2008), Phương pháp dân chủ
Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Các tác giả đã minh
chứng quan điểm "lấy dân làm gốc" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ
đó khẳng định "Phương pháp dân chủ của Hồ Chí Minh trong lãnh
đạo là từ trong quần chúng ra và trở về nơi quần chúng".
Ngoài ra, còn có rất nhiều công trình của các nhà nghiên cứu
như: Đặng Xuân Kỳ, Song Thành, Hoàng Chí Bảo đã đề cập đến
vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí
Minh. Tuy vậy, cho đến nay, nhìn chung vẫn chưa có một công trình
chuyên khảo nào nghiên cứu toàn diện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí
Minh về công tác vận động quần chúng. Với bộ Hồ Chí Minh toàn
tập là một nguồn tài liệu chủ đạo để luận văn hoàn thiện những vấn
đề nghiên cứu.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
tham khảo, luận văn gồm 02 chương và 04 tiết.
7
Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG
1.1. Khái quát chung về công tác vận động quần chúng
1.1.1. Khái niệm công tác vận động quần chúng
Công tác vận động quần chúng là công việc của Đảng, Nhà
nước hoặc của các đoàn thể nhằm tuyên truyền, giải thích, động viên
làm cho đông đảo nhân dân ủng hộ hoặc tự nguyện làm theo những
công việc mang lại lợi ích chung.
Khái niệm "công tác vận động quần chúng" cũng được sử
dụng bằng cụm từ "dân vận". Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Dân
vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót
một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành
những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và đoàn thể đã
giao cho".
1.1.2. Những tiền đề tư tưởng cho sự hình thành tư tưởng
nguyên, Hai Bà Trưng, Bà Triệu đã phất cờ nghĩa để kêu gọi nhân
dân tham gia khởi nghĩa. Lý Thường Kiệt cho rằng: Người làm vua
của dân cốt phải nuôi dân. Khi nhà Trần nắm quyền cai trị đất
nước đã đưa ra rất nhiều chính sách để động viên tài dân, sức dân
và được coi là thời kỳ đỉnh cao của nhà nước "thân dân". Vua
Trần Nhân Tông cho rằng Đạo Nhân cao cả nhất, ông luôn đặt lợi
ích của dân, của nước lên trên hết thảy và ông coi tiếng dân, lòng
dân, sức mạnh của dân là điều thiêng liêng nhất. Một khi dân đã
9
đồng lòng thì vận nước mới hưng thịnh, thành công mới đến,
chiến thắng mới rủ gọi nhau về.
Nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống quân
Nguyên mông là đỉnh cao của nghệ thuật chiến tranh nhân dân bảo
vệ Tổ quốc của dân tộc ta trong thời đại phong kiến. Trần Quốc
Tuấn luôn dùng kế sách "khoan thư sức dân" để đánh thắng giặc
Nguyên mông và xây dựng vương triều Trần thái bình, thịnh trị. Tài
năng của Trần Quốc Tuấn biểu hiện ở sự nhận thức rất rõ dân là
nguồn sức mạnh của đất nước. Nguồn sức mạnh đó phải được xây
dựng, bồi dưỡng lâu dài trong thời bình cũng như trong thời chiến
và bằng nhiều chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội. Trần Hưng Đạo
đã đúc kết một truyền thống quý báu của dân tộc thành những
nguyên lý giữ nước: "Vua tôi đồng lòng, anh em hoà mục, cả nước
chung sức"; "phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, ấy là
thượng sách để giữ nước vậy"; "phải làm sao để lòng dân không xa
rời mình"; "ý chí của nhân dân là thành trì kiên cố để giữ nước".
Từ thực tế lịch sử, Nguyễn Trãi đã rút ra những kinh
nghiệm quan trọng có tính quy luật, vận nước thịnh hay suy, mất
hay còn, đều do sức mạnh của dân quyết định: "Chở thuyền cũng
là dân, lật thuyền cũng là dân, thuận lòng dân thì sống, nghịch
vào trong đông đảo quần chúng lao động. Nó có nhiệm vụ kết hợp
những tình cảm, ý nghĩ và ý chí của quần chúng, đồng thời cổ vũ
quần chúng". Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, chỉ có trong chủ
nghĩa xã hội quần chúng nhân dân mới có đủ điều kiện để phát huy
tài năng và trí sáng tạo của mình.
11
1.2. Vai trò của quần chúng nhân dân và những nội dung
cơ bản của công tác vận động quần chúng trong Tư tưởng Hồ
Chí Minh
1.2.1. Về vai trò của quần chúng nhân dân
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII năm 1991 đã xác
định: Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Đến Đại hội
toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta một lần nữa khẳng định Đảng và nhân
dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội
chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, đồng thời nhấn mạnh: "Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ
thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của
cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng và sáng tạo chủ nghĩa
Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển
các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá
nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh
của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng
và dân tộc ta".
Trong toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh thì công tác
vận động quần chúng (công tác dân vận) chiếm một vị trí hết sức
quan trọng trong tư tưởng của Người. Ngay từ những ngày đầu cách
mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng
định công tác vận động quần chúng là một nhiệm vụ chiến lược, có ý
Hồ Chí Minh sớm nhận thức được vị trí, vai trò của vấn đề
dân tộc, sức mạnh của đoàn kết dân tộc. Theo Người, có đoàn kết
mới tạo nên sức mạnh để thực hiện thành công sự nghiệp cách
13
mạng. Muốn đoàn kết thì trước hết phải có Đảng cách mạng để
trong thì vận động, tổ chức dân chúng, ngoài thì liên minh với các
dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản ở mọi nơi. Đảng có sứ mệnh
thức tỉnh, tập hợp, đoàn kết quần chúng tạo thành sức mạnh vô địch
trong cuộc đấu tranh vì độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân,
hạnh phúc cho con người. Người đã sáng lập ra Mặt trận Việt Nam
độc lập đồng minh viết tắt là Việt minh, trong đó mục tiêu đầu
tiên là vận động các lực lượng kề vai thích cánh để "cờ treo độc
lập, nền xây bình quyền". Cách mạng tháng Tám nổ ra và thành
công là một minh chứng sinh động và rõ nét của sức mạnh của khối
đại đoàn kết toàn dân tộc với quyết tâm đem sức ta mà giải phóng
cho ta và một ý chí Không có gì quý hơn độc lập tự do.
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí
Minh là lời hịch cứu nước, là tiếng gọi của non sông đất nước, đã
khơi dậy và làm sôi động tình cảm sâu xa và cao đẹp nhất trong lòng
mỗi người dân Việt Nam. Với Hồ Chí Minh, đoàn kết là một truyền
thống cực kỳ quý báu của nhân dân ta, việc xây dựng và phát triển
khối đại đoàn kết toàn dân tộc là một vấn đề chiến lược, bảo đảm
thành công của cách mạng. Người đã chỉ rõ: Đại đoàn kết tức là
trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân
ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác.
Người coi công nông cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Đoàn
kết toàn dân tộc là cốt lõi của chủ nghĩa yêu nước, là tư tưởng
nhân văn Hồ Chí Minh.
Đối với Hồ Chí Minh, đoàn kết dân tộc, kết hợp sức mạnh
15
phải giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy quyền làm chủ
của nhân dân.
Sau khi giành được độc lập, một nhu cầu bức thiết đặt ra
trong lúc này là xây dựng chế độ mới, thành lập chế độ dân chủ nhân
dân, bởi Nhà nước dân chủ nhân dân chính là bước quá độ tiến lên
chủ nghĩa xã hội. Đảng và Bác đã lãnh đạo xây dựng Nhà nước
chuyên chính vô sản, xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân và
công, nông, trí thức là lực lượng cơ bản để bảo vệ và xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Theo Hồ Chí Minh, chế độ dân chủ nhân dân là chế độ
xã hội do nhân dân lao động làm chủ. Nhà nước dân chủ nhân dân là
Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá
rất cao về dân chủ: Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân. Thực
hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó
khăn. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã tích cực lãnh đạo và
trực tiếp tham gia xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân. Người đã
kêu gọi nhân dân đồng lòng bảo vệ và xây dựng chế độ mới. Hồ
Chí Minh khẳng định rằng, chỉ có dưới chế độ xã hội chủ nghĩa,
nhân dân lao động mới thực sự làm chủ Nhà nước, làm chủ xã hội.
Ở Hồ Chí Minh thể hiện sự nhất quán về quan điểm và hành
động, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đáp ứng được khát vọng của toàn
dân tộc: độc lập cho dân tộc, dân chủ cho nhân dân, cơm no áo ấm
cho mọi người dân Việt Nam. Trong điều kiện nước ta, biện pháp
cơ bản, quyết định, lâu dài trong xây dựng chủ nghĩa xã hội là đem
của dân, tài dân, sức dân, làm lợi cho dân dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản. Hồ Chí Minh cho rằng, phải huy động hết mọi tiềm năng,
nguồn lực có trong dân để đem lại lợi ích cho dân. Nói cách khác,
16
trách nhiệm chăm lo xây dựng nhà nước của mình. Hồ Chí Minh
khẳng định việc nước là việc chung, mỗi người đều phải có trách
nhiệm "ghé vai gánh vác một phần", quyền lợi, quyền hạn bao giờ
cũng đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi người dân.
Trong quá trình tiến hành sự nghiệp cách mạng, việc huy
động sức dân luôn là yếu tố hàng đầu để giành được thắng lợi.
Nhưng cùng với khai thác sức dân, đòi hỏi phải bồi dưỡng sức dân,
chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Theo Hồ Chí
Minh, muốn khai thác sức dân thì phải kiên trì công tác vận động
quần chúng.
d. Yêu cầu đối với cán bộ làm công tác vận động quần
chúng
Mọi công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay
kém. Hồ Chí Minh xác định cán bộ các cấp đều là công bộc của dân,
phải gánh vác việc chung cho dân, việc gì có lợi cho nhân dân thì
phải hết sức làm, việc gì có hại cho nhân dân thì phải hết sức tránh,
"Bất kỳ việc gì cũng vì lợi ích của nhân dân mà làm". Người cán
bộ, đảng viên muèn ®-îc d©n tin, d©n yªu, muèn ®-îc lßng d©n,
tr-íc hÕt ph¶i yªu d©n, ph¶i ®Æt quyÒn lîi cña d©n trªn hÕt th¶y,
ph¶i cã mét tinh thÇn chÝ c«ng v« t-, hÕt lßng, hÕt søc phôc vô
nh©n d©n.
Hồ Chí Minh luôn yêu cầu đối với người cán bộ cách mạng
là phải trung với nước, hiếu với dân, đó là phẩm chất đạo đức hàng
đầu. Người khuyên cán bộ, đảng viên phải dựa vào dân, gắn bó với
dân, lấy dân làm gốc. Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải
thấm nhuần quan điểm coi sức mạnh của cách mạng là sức mạnh
của nhân dân: "Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân
18
liệu cũng xong". Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ
quần chúng có trình độ chuyên môn và năng lực thực tiễn trong
công tác vận động quần chúng.
Tuy nhiên, công tác vận động quần chúng vẫn biểu hiện
một số tồn tại, hạn chế. Dân chủ xã hội chủ nghĩa chưa được một số
cấp uỷ đảng, chính quyền triển khai thực hiện có hiệu quả. Quy chế
dân chủ ở cơ sở còn mang nặng tính hình thức, cơ chế "dân biết,
dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" chưa thực sự được phát huy. Một
bộ phận cán bộ, công chức trách nhiệm và phong cách phục vụ
nhân dân chưa tốt, gây phiền hà cho dân, thiếu phương pháp trong
việc vận động, giáo dục, thuyết phục nhân dân. Truyền thống đoàn
kết dân tộc ở một số địa phương trong những thời điểm nhất định
không thực sự được phát huy, đã làm giảm, gây chia rẽ mối quan hệ
giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân.
2.2. Một số giải pháp nhằm tiếp tục vận dụng Tư tưởng
Hồ Chí Minh về công tác vận động quần chúng trong giai đoạn
hiện nay
2.2.1. Tiếp tục nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước
đối với công tác vận động quần chúng
Công tác vận động quần chúng luôn luôn được Ðảng ta coi
trọng nhằm tập hợp nhân dân trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
tạo nên sức mạnh to lớn đánh đuổi ngoại xâm, xây dựng đất nước đạt
những thành tựu rất to lớn và có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi
mới hiện nay. Đảng ta đã khẳng định rằng: Cách mạng là sự nghiệp
của quần chúng và quan điểm "lấy dân làm gốc" trở thành tư tưởng
20
thường trực nói lên vai trò sáng tạo ra lịch sử của nhân dân Việt
Nam.
Trong giai đoạn cách mạng hiện nay phải thực hiện tốt
phương châm: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ
đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Ðảng là một trong những
nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam và đại đoàn
kết dân tộc vừa là mục tiêu, động lực để xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Để tiếp tục củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân
tộc trong giai đoạn cách mạng hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải phát
huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới ánh sáng của tư tưởng
Hồ Chí Minh và thực hiện tốt một số nội dung sau:
Một là, tiếp tục kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa,
truyền thống cố kết cộng đồng, những giá trị văn hoá - tinh thần của
đất nước được đúc kết qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước,
đồng thời phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng, sống có nghĩa có
tình với con người, đặc biệt là phải luôn tin vào dân, dựa vào dân,
phấn đấu vì quyền lợi của nhân dân.
Hai là, phát huy nội lực của dân tộc, sức mạnh của khối
đại đoàn kết dân tộc để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Ba là, đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai
cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh
đạo của Đảng, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là
nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết
định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc.
22
Bốn là, đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ
thống chính trị mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức Đảng, được thực
hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức, trong đó các chủ trương của
Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng
hàng đầu.
Năm là, phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức tranh thủ
Ba là, không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực
công tác đối với đội ngũ cán bộ làm công tác vận động quần chúng.
Xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực tổ chức và vận động nhân dân
thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước, công tâm, tận tuỵ phục vụ nhân dân.
2.2.4. Đẩy mạnh thực hiện công tác vận động quần chúng
tham gia vào giải quyết khiếu nại, tố cáo
Thực hiện công tác vận động quần chúng là phải thường
xuyên tham gia giải quyết những đề nghị, khiếu nại, tố cáo của người
dân được kịp thời, đúng quy định, tạo ra sự đoàn kết, nhất trí cao
trong toàn xã hội, đảm bảo sự công bằng, dân chủ và sự đồng thuận
của toàn dân. Muốn vậy, đòi hỏi phải có sự tham gia của cả hệ thống
chính trị và phải thực hiện tốt một số công việc sau:
Một là, đề cao trách nhiệm, phát huy sức mạnh tổng hợp
của cả hệ thống chính trị trong việc giải quyết các đề nghị, khiếu
kiện của công dân theo đúng những quy định của pháp luật, coi
đây là công việc quan trọng của cả hệ thống chính trị.
Hai là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của nhân dân,
tiếp tục thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở, đồng thời