ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM NGUYỄN THỊ LAN PHƯƠNG Những biện pháp quản lý công tác tài chính
của Trường Cao đẳng nghề Cơ điện Hà Nội
trong giai đoạn hiện nay
luËn v¨n th¹c sÜ GIÁO DỤC HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đặng Quốc Bảo
Hµ néi - 2008 3
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
Bảng những cụm từ viết tắt
Mục lục
Mở đầu
1
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
5
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
5
1.1.1. Quá trình đổi mới và cải cách giáo dục ở Việt nam trong thời
gian qua
25
1.4.3. Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản
25
1.4.4. Quản lý thu chi các hoạt động khác của nhà trường
25
1.4.5. Quản lý tài sản
26 4 1.5. Yêu cầu quản lý tài chính trong nhà trường
26
Tiểu kết chương 1
28
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý tài chính ở trường Cao đẳng
nghề Cơ điện Hà nội
30
2.1. Quá trình phát triển của trường Cao đẳng nghề Cơ điện Hà nội
30
2.1.1. Vai trò của ngành Dạy nghề đối với sự phát triển kinh tế xã hội
30
2.1.2. Sơ lược quá trình phát triển và chức năng nhiệm vụ của nhà
trường
31
2.1.3. Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý của trường CĐ nghề CĐ
HN
33
62
3.1. Một số phương hướng phát triển cơ bản của trường Cao đẳng nghề
Cơ điện trong bối cảnh đổi mới hiện nay
62 5
3.2. Nguyên tắc lựa chọn các biện pháp quản lý công tác tài chính của
trường
62
3.2.1. Nguyên tắc kế thừa
63
3.2.2. Nguyên tắc thực tiễn
65
3.2.3. Nguyên tắc hiệu quả
66
3.3. Một số biện pháp quản lý công tác tài chính ở trường Cao đẳng nghề
Cơ điện Hà Nội
70
3.3.1. Nâng cao nhận thức về nội dung và nhiệm vụ của công tác
quản lý tài chính cho CBCNVC và giáo viên trong trường
68
3.3.2. Tăng cường công tác kế hoạch hoá các nguồn thu
71
3.3.3. Xây dựng và thực hiện Qui chế chi tiêu nội bộ đảm bảo qui
định của Nhà nước và phục vụ thiết thực cho mực tiêu đào tạo
75
3.3.4. Thực hiện công tác kiểm tra nội bộ, chấp hành nghiêm chỉnh
chế độ kiểm toán Nhà nước định kỳ
BẢNG NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT STT
Viết tắt
Viết đầy đủ
1
BGH
Ban giám hiệu
2
CBCNVC
Cán bộ công nhân viên chức
3
CĐN
Cao đẳng nghề
4
CNH – HĐH
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
5
CNKT
Công nhân kỹ thuật
6
GV
Giáo viên
7
GD - ĐT
Giáo dục - Đào tạo
8
HS - SV
Học sinh – sinh viên
19
TCCB
Tổ chức cán bộ
20
TBXH
Thương binh xã hội
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Hội nghị lần thứ II khoá VIII của Ban chấp hành Trung
ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “…Thực sự coi giáo dục - đào
tạo là quốc sách hàng đầu. Nhận thức sâu sắc giáo dục - đào tạo cùng với
khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển
xã hội, đầu tư cho giáo dục - đào tạo là đầu tư phát triển. Thực hiện các chính
sách ưu tiên ưu đãi đối với giáo dục - đào tạo, đặc biệt là chính sách đầu tư và
chính sách tiền lương là những giải pháp mạnh mẽ để phát triển giáo dục”.
Nhiệm vụ và mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người đáp ứng yêu
được Bộ Nông nhgiệp và PTNT giao cho thực hiện Nghị định 10/2002/NĐ-
CP, được trao quyền tự chủ về tài chính. Trường đã xây dựng Qui chế chi tiêu
nội bộ làm căn cứ để điều hành và quản lý mọi hoạt động tài chính theo các
qui định của Nghị định số10/2002/NĐ-CP. Nhà trường đã chủ động trong
việc lập kế hoạch và thực hiện chi tiêu, mua sắm vật tư, trang thiết bị để kịp
thời phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập – nhiệm vụ chính của trường,
đồng thời chủ động tiết kiệm chi phí về quản lý hành chính tạo cơ sở để cải
thiện thu nhập cho giáo viên và cán bộ công nhân viên chức, góp phần nâng
cao chất lượng đào tạo và hiệu quả công tác.
Tuy nhiên, việc thực hiện tự chủ quản lý tài chính trong những năm qua
đã bộc lộ một số nhược điểm như nhận thức của cán bộ, giáo viên chưa đầy
đủ, chưa chuẩn mực về công tác tài chính của nhà trường. Kế hoạch thu chi
chưa thật sự chủ động, chưa phát huy hết hiệu lực, hiệu quả của công tác tài
chính đối với các hoạt động của nhà trường. Tiền lương và thu nhập chưa
thực sự khích thích và động viên được đội ngũ cán bộ, viên chức và giáo viên
của trường, các định mức khoán chi chưa được điều chỉnh kịp thời theo sự
thay đổi của giá cả trên thị trường.
Để tăng cường và hoàn thiện công tác quản lý tài chính trong Nhà
trường góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài chính, trên cương
vị công tác của mình và kiến thức đã được trang bị trong quá trình học tập và
nghiên cứu tại Khoa Sư phạm Đại học Quốc gia Hà nội, tôi đã chọn đề tài “ 8
Những biện pháp quản lý công tác tài chính của trường Cao đẳng nghề Cơ
điện Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” để nghiên cứu trong luận văn tốt
nghiệp Thạc sĩ ngành Quản lý giáo dục.
2. Mục đích nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng công tác quản lý
đẳng nghề Cơ điện và các cơ sở đang thực hiện đào tạo nghề, ngoài ra còn có
giá trị cho các nhà quản lý trong các cơ sở giáo dục đào tạo nói chung.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn được trình bầy trong 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
- Chương 2: Thực trạng công tác quản lý tài chính ở trường Cao đẳng
nghề Cơ điện Hà Nội
- Chương 3: Những biện pháp quản lý công tác tài chính ở trường Cao
đẳng nghề Cơ điện Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
10
11
đến toàn bộ quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, đó là hai yếu tố
chính đặt ra những yêu cầu mới cho công cuộc cải cách nền giáo dục ở Việt
Nam.
Sự phát triển của hệ thống giáo dục đào tạo một mặt bị tác động, chi
phối và một mặt khác cũng góp phần thúc đẩy các xu hướng phát triển chung
của đời sống xã hội hiện đại, thể hiện ở sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ tương tác giữa giáo dục đào tạo với các thành tố
trong xã hội - Về phát triển kinh tế: Phát triển kinh tế đặc biệt là phát triển nền kinh
tế tri thức đòi hỏi một đội ngũ nhân lực có trình độ cao. Ngược lại, quá trình
phát triển kinh tế tạo ra các nguồn lực mới để mở rộng mạng lưới và hiện đại
hoá giáo dục đào tạo.
- Về văn hoá và các giá trị văn hoá: Nền tảng văn hoá tạo cơ sở cho
việc tổ chức các hoạt động giáo dục và ngược lại hoạt động giáo dục có tác
động to lớn trong quá trình phát triển văn hóa, giữ gìn bản sắc dân tộc, hội
nhập và giao lưu quốc tế.
- Về khoa học công nghệ: Các kết quả và công trình nghiên cứu của
các cơ sở giáo dục - đào tạo góp phần tích cực thúc đẩy tiến bộ khoa học công
GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
Công nghệ
thông tin và truyền thông tạo điều kiện rất thuận lợi để tìm kiếm, trao đổi, xử
lý thông tin phục vụ dạy, học, nghiên cứu. Bối cảnh quốc tế đòi hỏi các quốc
gia đang phát triển phải sớm đại chúng hóa, kinh tế hóa, hiện đại hóa và quốc
tế hóa giáo dục đào tạo.
Nhận thức sâu sắc về tác động to lớn của giáo dục - đào tạo đối với
quá trình phát triển kinh tế - xã hội, thấy rõ những yêu cầu mới đặt ra đối với
giáo dục trong điều kiện nền kinh tế tri thức đã và đang tác động nhiều chiều
ở tất cả các nền kinh tế hội nhập, mở cửa, trong đó có nền kinh tế Việt Nam,
ngay sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), Đảng và Chính phủ đã
đặc biệt quan tâm đến nền giáo dục- đào tạo của nước nhà.
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4 khoá VII năm 1993
đã ra nghị quyết về "tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo" với bốn
quan điểm chủ yếu là:
Thứ nhất, GD-ĐT là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy, là điều
kiện cơ bản đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo
vệ đất nước, phải coi đầu tư cho giáo dục là hướng chính của đầu tư phát
triển. 13
Thứ hai, mục tiêu giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,
bồi dưỡng nhân tài, đào tạo những con người có kiến thức văn hoá, khoa học,
có kỹ năng nghề nghiệp Mở rộng quy mô đào tạo, đồng thời chú trọng nâng
cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, gắn học với hành, tài với đức.
Thứ ba, GD-ĐT phải gắn với yêu cầu phát triển đất nước và phù hợp
với xu thế tiến bộ của thời đại.
Thứ tư, đa dạng hoá các hình thức đào tạo, thực hiện công bằng xã hội
trong giáo dục.
Trong báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của
của đất nước. Đó là vấn đề thời cơ, thách thức đối với Giáo dục - Đào tạo
Việt Nam xuất phát chính từ yêu cầu bên trong của nhu cầu phát triển kinh tế
- xã hội nước ta - môi trường kinh tế - xã hội của giáo dục.
1.1.2. Những đổi mới quản lý tài chính trong tổng thể đổi mới của ngành
giáo dục - đào tạo và hệ thống văn bản pháp qui về quản lý tài chính trong
các trường đại học, cao đẳng.
Cải cách tài chính là một trong những nội dung quan trọng trong
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010 được Chính phủ phê duyệt
tháng 12/2001 với những định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và biện pháp cụ thể để
phát triển kinh tế – xã hội và giáo dục ngay trong những năm đầu của thế kỷ
XXI. Nhà nước đã rất nỗ lực và không ngừng đổi mới cơ chế quản lý tài chính
nhằm liên tục nâng cao mức độ hoàn thiện của nó nhằm tạo ra những tiền đề
thuận lợi cho công cuộc cải cách tài chính ở qui mô rộng và chất lượng cao,
sau khi kết thúc thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI này.
Sau nhiều năm nghiên cứu đánh giá thực trạng về xây dựng thể chế trong
quản lý tài chính; kết hợp với những bài học kinh nghiệm của các nước trong
lĩnh vực quản lý tài chính, Nhà nước ta đã quyết định nâng tầm pháp lý của hệ
thống văn bản quy phạm pháp luật dành cho quản lý tài chính ngày một cao
hơn. Một trong những văn bản quy phạm pháp luật quan trọng hàng đầu đó là
Luật Ngân sách Nhà nước đã được Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 9 thông qua
ngày 20-3-1996 và có hiệu lực thực thi từ năm ngân sách 1997. Kể từ đó, công
tác quản lý điều hành ngân sách phải tuân thủ nghiêm minh theo luật này.
Sự vận động và phát triển nhanh chóng của nền kinh tế - xã hội và chủ
trương đẩy mạnh cải cách thể chế trong quản lý kinh tế của Nhà nước đã làm 15
cho Luật Ngân sách Nhà nước do Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 9 thông qua
ngày 20/3/1996 sớm bộc lộ những bất hợp lý, cần sửa đổi, bổ sung.
của Quốc hội khóa XI ngày 16/12/2002. Những thay đổi quan trọng nhất của
Luật Ngân sách Nhà nước sửa đổi là: 1) tăng cường phân cấp nhiều hơn cho
chính quyền địa phương trong quản lý Ngân sách Nhà nước; 2) thể chế hóa
yêu cầu lập ngân sách trung hạn và lập, phân bổ ngân sách theo kết quả đầu
ra; 3) thể chế hóa quyền tự chủ của các đơn vị hành chính sự nghiệp trong
quản lý và sử dụng kinh phí; 4) thể chế hóa yêu cầu kiểm soát đầu ra (hay
hậu kiểm) đối với các cơ quan quyền lực nhà nước và kiểm toán Nhà nước.
Để tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ quan
hành chính Nhà nước và các đơn vị sự nghiệp hơn nữa đáp ứng với Luật
Ngân sách Nhà nước sửa đổi Chính phủ ban hành Nghị định số 43/2006/NĐ-
CP ngày 25/4/2006 qui định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện
nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp
công lập và Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 9/8/2006 của Bộ Tài chính
hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính
phủ.
Trên đây là những văn bản qui phạm pháp luật quan trọng trong cải cách
thể chế tài chính. Các văn bản này đã thiết lập được một môi trường pháp lý đầy
đủ, thông thoáng cho tiến trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị
sự nghiệp công lập nhằm từng bước vững chắc tiến tới mô hình quản lý tài
chính hiện đại.
1.1.3. Vai trò của quản lý tài chính trong nhà trường
Quản lý tài chính có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng đến tất cả mọi
hoạt động của nhà trường, cơ sở thực hiện nhiệm vụ đào tạo. Thực tế hoạt
động quản lý ở các nhà trường cho thấy hầu hết các quyết định quản lý đều
được đưa ra dựa trên kết quả khảo sát nghiên cứu, phân tích và dự báo về tình
hình hoạt động, mục tiêu và nhiệm vụ đào tạo, tình hình tài chính hiện tại và
tương lai, trong đó những đánh giá về mặt tài chính là hết sức cần thiết.
1.1.4. Hoạt động tài chính của nhà trường
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Quản lý
Khái niệm quản lý được định nghĩa khác nhau dựa trên cơ sở những
cách tiếp cận khác nhau. 18
Xét ở góc độ chung nhất quản lý là vạch ra mục tiêu cho một bộ máy, lựa
chọn phương tiện, điều kiện tác động tác động đến bộ máy để đạt tới mục tiêu.
Từ góc độ kinh tế: Quản lý là tính toán sử dụng hợp lý các nguồn lực
nhằm đạt tới mục tiêu đề ra.
Hoạt động quản lý là sự tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể
quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Quản lý là sự tác động có tổ chức có định hướng của chủ thể quản lý, lên
đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các
tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được những mục tiêu đề ra trong
điều kiện biến động của môi trường .
Có tác giả lại quan niệm: Quản lý là tác động vừa có tính khoa học, vừa
có tính nghệ thuật vào hệ thống con người nhằm đạt các mục tiêu kinh tế - xã
hội.
Theo cách tiếp cận từ những mô hình: Quản lý = Quản + lý.
Quản là: Coi sóc, giữ gìn, duy trì, ổn định. Lý là: sửa sang, sắp xếp, đổi mới, phát
triển.Vì vậy: Quản lý thực chất là tạo nên sự ổn định và phát triển. ổn định mà
không phát triển thì dẫn đến trì trệ, suy thoái. Hệ phát triển mà thiếu ổn định thì dẫn
đến sự lộn xộn, rối ren Nên: Quản lý = ổn định + phát triển. Trong bất kỳ một
hệ thống hoạt động nào, trong "quản" phải có "lý", đồng thời trong "lý" phải có
"quản"; "ổn định" đi tới "phát triển"; "phát triển" trong thế "ổn định" [2, tr. 53].
"Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động,
phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, tài
lý
N P Trong đó:
- M: mục tiêu của quản lý
- N: Nội dung của quản lý
- P: Phương pháp quản lý
- C: Chủ thể quản lý
- K: Khách tể quản lý
Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức.
Khách thể quản lý là những con người cụ thể và sự hình thành tự nhiên các
mối quan hệ giữa những con người, giữa những nhóm người. Công cụ quản lý
là những tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý . Phương pháp
Quản
lý 20
quản lý là cách thức tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý. Mục
tiêu của tổ chức được xác định theo nhiều cách khác nhau, nó có thể do chủ
thể quản lý áp đặt hoặc do sự cam kết giữa chủ thể và khách thể quản lý. Bất
cứ một tổ chức nào dù tồn tại dưới hình thức nào, với mục đích gì, cơ cấu,
quy mô ra sao đều cần có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt
động và đạt được mục đích của mình.
Hiện nay, quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: Quản lý là một quá
trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức
năng): kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra.
biện pháp quản lý phù hợp. Vì vậy, vận dụng các phương pháp quản lý cũng
như áp dụng các biện pháp quản lý là nội dung cơ bản của quản lý .
Tóm lại: Có nhiều cách hiểu và diễn đạt khác nhau về biện pháp quản
lý; trong phạm vi của đề tài, chúng tôi xác định khái niệm biện pháp quản lý
là cách làm, cách giải quyết những công việc cụ thể trong từng điều kiện cụ
thể của công tác quản lý nhằm đạt đựợc mục tiêu quản lý. Hay nói cách khác,
biện pháp quản lý là những phương pháp quản lý cụ thể trong những sự việc
cụ thể, đối tượng cụ thể và tình huống cụ thể.
1.2.2. Quản lý giáo dục
1.2.2.1 Khái niệm Quản lý giáo dục.
Khái niệm" Quản lý giáo dục "cũng có nhiều quan niệm khác nhau.
“Quản lý giáo dục trên cơ sở quản lý nhà trường là một phương hướng cải
tiến quản lý giáo dục nhằm mục đích tăng cường phân cấp quản lý nhà trường
cho các chủ thể quản lý bên trong nhà trường với những quyền hạn và trách
nhiệm rộng rãi hơn để thực hiện nguyên tắc giải quyết vấn đề tại chỗ” [12, tr.
71].
Tác giả Nguyễn Sinh Huy- Nguyễn Hữu Dũng cho rằng quản lý giáo
dục là tác động một cách có mục đích và có kế hoạch vào toàn bộ các lực
lượng giáo dục nhằm tổ chức và phối hợp các hoạt động cuả tất cả các lực
lượng này, nhằm sử dụng một cách đúng đắn đến các nguồn lực và phương
tiện, đảm bảo thực hiện có kết quả những chỉ tiêu phát triển về số lượng và
chất lượng của sự nghiệp giáo dục theo phương hướng của mục tiêu giáo dục,
[19, tr. 289].
"Sự thực khái niệm quản lý giáo dục có nhiều cấp độ, ít nhất có hai cấp độ
chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô. Đối với cấp vĩ mô: quản lý giáo dục được
hiểu là những tác động tự giác (Có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ
thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống
(từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất
Quản lý được diễn ra nhờ các tín hiệu của mình, đó là thông tin. Chủ
thể quản lý muốn tác động lên đối tượng thì phải đưa ra các thông tin (mẹnh 23
lệnh, chỉ thị,nghị quyết, quyết định ) đó chính là thông tin điều khiển. Còn
đối tượng muốn định hướng hoạt động của mình thì phải tiếp nhận các thông
tin điều khiển của cấp trên (chủ thể) cùng các đảm bảo vật chất khác để tính
toán và điều khiển lấy mình.
- Quản lý bao giờ cũng có khả năng thích nghi (luôn biến đổi).
Khi đối tượng quản lý mở rộng về qui mô, phức tạp về các mối quan hệ
thì không phải chủ thể quản lý chịu bó tay, mà nó vẫn có thể tiếp tục quản lý
có hiệu quả nếu nó đổi mới quá trình quản lý thông qua việc cấu trúc lại hệ
thống và việc uỷ quyền quản lý cho các cấp trung gian.
Trường hợp ngược lại, khi chủ thể quản lý trở lên xơ cứng, quan liêu,
đưa ra những tác động quản lý độc đoán, lỗi thời, phi lý thì không phải tất cả
các đối tượng bị quản lý đều chịu bó tay, mà họ vẫn có thể thích nghi tồn tại
theo hai cách:
- Họ phải tồn tại tương ứng với các tác động quản lý của chủ thể
- Họ biến đổi cấu trúc của bản thân để thích nghi với các mệnh lệnh
quản lý phi lý của chủ thể.
- Quản lý vừa là khoa học, vừa là một nghề, vừa là một nghệ thuật.
Nói quản lý là một khoa học vì nó có đối tượng nghiên cứu riêng là các
mối quan hệ quản lý, có phương pháp luận nghiên cứu riêng, có những
phương pháp cụ thể được sử dụng để nghiên cứu như các phương pháp phân
tích, toán kinh tế, xã hội học, lịch sử Quản lý đồng thời còn là một nghệ
thuật ví nó còn tuỳ thuộc một phần vào tài nghệ, bản lĩnh, nhân cách, trí tuệ,
bề dày kinh nghiệm của người lãnh đạo của tổ chức. Quản lý còn là một nghề
với nghĩa các nhà lãnh đạo, tổ chức phải có tri thức quản lý.
hiện phương hướng phát triển đó.
Quản lý nhà trường do chủ thể quản lý bên trong nhà trường bao gồm
các hoạt động: Quản lý giáo viên,quản lý học sinh, quản lý quá trình dạy học
– giáo dục, quản lý cơ sở vật chất trang thiết bị trường học, quản lý tài chính
trường học, quản lý lớp học như nhiệm vụ của giáo viên, quản lý mối quan hệ
giữa nhà trường và cộng đồng.
Một cách khái quát, quản lý giáo dục (và nói riêng quản lý trường học)
là quá trình hoạt động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể