MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu vấn đề 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5
5. Đóng góp của luận văn 6
6. Kết cấu của luận văn 6
Chương 1. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG
QUẦN CHÚNG 7
1.1. Khái quát chung về công tác vận động quần chúng 7
1.1.1. Khái niệm công tác vận động quần chúng 7
1.1.2. Những tiền đề tư tưởng cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
về công tác vận động quần chúng 8
1.2. Vai trò của quần chúng nhân dân và những nội dung cơ bản của
công tác vận động quần chúng trong Tư tưởng Hồ Chí Minh 17
1.2.1. Về vai trò của quần chúng nhân dân 17
1.2.2. Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác
vận động quần chúng 24
Chương 2. VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG TÁC
VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY: THỰC
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 47
2.1. Thực trạng công tác vận động quần chúng ở nước ta trong thời
gian vừa qua 47
2.2. Một số giải pháp nhằm tiếp tục vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh
về công tác vận động quần chúng trong giai đoạn hiện nay 52
2.2.1. Tiếp tục nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đối với công
vững độc lập chủ quyền của đất nước, công việc quan trọng và trước hết là
phải củng cố khối đoàn kết toàn dân tộc, huy động toàn thể nhân dân tham gia
vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Trong lịch sử đã ghi nhận biết bao
những anh hùng dân tộc đã dựa vào sức mạnh của nhân dân để chiến đấu và
giành chiến thắng như: Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Trần Hưng
Đạo, Nguyễn Trãi… Tất cả những bậc anh hùng đó đều có chung một mục
tiêu là độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân, nên đã tập hợp được đông
đảo nhân dân đứng lên đấu tranh giành những thắng lợi lịch sử cho đất nước.
Vì vậy, lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã minh chứng
một quy luật, nhân dân luôn là lực lượng chủ yếu, quyết định sự hình thành và
phát triển của đất nước. Chỉ khi nào phát huy được vai trò, sức mạnh của toàn
dân tộc, đất nước mới thực sự có độc lập, chủ quyền.
Ngay sau khi đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, đã có biết bao
những văn thân, sỹ phu, anh hùng hào kiệt đứng lên dựng cờ khởi nghĩa và
tìm tòi những con đường cứu nước mới nhưng đều không thành công. Có rất
2
nhiều nguyên nhân của những thất bại đó, nhưng điều tiên quyết đó là nhân
dân - một lực lượng chủ yếu nhất cho mọi thắng lợi, thì các phong trào đó
chưa thực sự có được. Ý thức được điều đó, Hồ Chí Minh - lãnh tụ của Đảng
Cộng sản và dân tộc Việt Nam, sau khi ra đi tìm đường cứu nước, Người đã
trở về để lãnh đạo toàn dân tộc đấu tranh giành độc lập. Chính Hồ Chí Minh
đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đã thấy được một trong những nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử là "quần chúng nhân dân là người sáng
tạo ra lịch sử nhân loại". Từ đó, Hồ Chí Minh đã khẳng định rõ mục đích
trước hết của Người là: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức
họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành độc lập tự do. Bác
Hồ đã đúc kết “Muốn thành công phải có 3 điều kiện là thiên thời, địa lợi và
nhân hòa. Nhưng thiên thời không quan trọng bằng địa lợi, địa lợi không quan
trọng bằng nhân hòa. Nhân hòa là quan trọng hơn hết”. Do đó, Người đã lãnh
Ở Việt Nam trong thế kỷ XX, chỉ đến khi Nguyễn Ái Quốc tìm thấy
con đường đúng đắn để giải phóng dân tộc thì vai trò, sức mạnh của nhân dân
mới được huy động tối đa.
Việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh đã được rất nhiều học giả thực
hiện ở những nội dung khác nhau để làm rõ nội dung, ý nghĩa của những tư
tưởng của Người. Đối với công tác vận động quần chúng của Hồ Chí Minh,
theo tôi được biết đã có một số công trình nghiên cứu, cụ thể như:
- Đại tướng Võ Nguyên Giáp (chủ biên) (2008), Tư tưởng Hồ Chí
Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Trong phần "Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến lược đại đoàn kết và chính
sách mặt trận dân tộc thống nhất", các tác giả đã trình bày một cách cơ bản
những nội dung chủ yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh của khối
4
đại đoàn kết toàn dân: "Với Hồ Chí Minh, "đoàn kết, đại đoàn kết" là một
trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam; một
chiến lược cách mạng - chiến lược huy động, tập hợp mọi lực lượng có thể
tập hợp được, hình thành sức mạnh to lớn của toàn dân tộc trong đấu tranh
với kẻ thù dân tộc, giai cấp". Trong nội dung "Về phương pháp luận Hồ Chí
Minh" tập thể tác giả đã khẳng định "Từ những bài học trong thực tiễn hoạt
động của mình, Hồ Chí Minh đã nêu cao quan điểm về con người, quan
điểm về nhân dân: Tất cả vì con người và do con người; tất cả vì dân và do
dân; con người là vốn quý nhất, là lực lượng to lớn nhất". Hồ Chí Minh luôn
khẳng định vai trò quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc và sức mạnh to
lớn của lực lượng toàn dân. Tại chương VI "Tư tưởng quân sự Hồ Chí
Minh", Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhấn mạnh: "Lấy dân làm gốc, động
viên toàn dân, vũ trang toàn dân, thực hiện kháng chiến toàn dân, toàn diện
là nội dung cốt lõi nhất, nổi bật nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh".
- Phạm Văn Bính (chủ biên) (2008), Phương pháp dân chủ Hồ Chí
Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Các tác giả đã minh chứng quan điểm
chiến lược xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận:
+ Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh về công tác vận động quần chúng;
+ Những chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong
quá trình lãnh đạo và thực hiện công tác vận động quần chúng.
- Phương pháp nghiên cứu:
6
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng một số phương pháp:
những phương pháp luận chung của triết học Mác - Lênin; những phương
pháp của khoa học xã hội như: phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp
lôgíc, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh…
5. Đóng góp của luận văn
Thông qua luận văn, tác giả mong muốn góp phần tìm hiểu tư tưởng
của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác vận động quần chúng, đó là những
giá trị lý luận và thực tiễn mà Người đã để lại. Đồng thời, mong muốn
những giá trị của Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động quần chúng
tiếp tục được vận dụng, phát huy có hiệu quả trong giai đoạn hiện nay để
góp phần xây dựng đất nước dân chủ, công bằng, giàu đẹp, văn minh.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo,
luận văn gồm 02 chương và 04 tiết:
Chương 1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động quần chúng.
Chương 2. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động quần
chúng trong giai đoạn hiện nay: Thực trạng và giải pháp.
cụm từ "dân vận". Trong Wikypedia, "dân vận" có nghĩa là tuyên truyền, vận
8
động nhân dân (công tác dân vận, các tổ chức dân vận). Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã viết: "Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân
không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành
những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và đoàn thể đã giao
cho". Như vậy, công tác vận động quần chúng là tuyên truyền, động viên, tổ
chức đông đảo lực lượng nhân dân, thực hiện đại đoàn kết dân tộc để tiến
hành sự nghiệp cách mạng. Quan điểm của Bác trong công tác vận động quần
chúng là “không để sót một người dân nào” vì mỗi người dân, mỗi tầng lớp xã
hội đều giữ một vai trò quan trọng trong công cuộc cách mạng.
Xuất phát từ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tình hình thực tiễn
của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra định nghĩa về công tác vận
động quần chúng rất đầy đủ và ý nghĩa, trong đó thể hiện rõ quan điểm của
Người, thể hiện rõ tính đúng đắn đối với công tác dân vận trong suốt thời kỳ
thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và vẫn còn phù hợp với điều
kiện của đất nước hiện nay.
1.1.2. Những tiền đề tư tưởng cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí
Minh về công tác vận động quần chúng
Trong lịch sử hình thành và phát triển của nhân loại, ngay từ thời cổ đại
đã có rất nhiều bậc danh sĩ, vua chúa đưa ra quan niệm, tư tưởng "quốc dĩ dân
vi bản" (lấy dân làm gốc), bởi dân chính là bộ phận (lực lượng) đóng vai trò
quan trọng, quyết định sự tồn vong của lịch sử nhân loại.
Khổng Tử là một nhà tư tưởng lớn thời cổ đại đã sớm nhận ra vai trò
của dân chúng, ông đã dùng Nho giáo để giáo hoá, làm cho dân chúng phục
tùng thiên tử. "Nho gia thuận nhân tính mà điều hành chính sự nên tin dân yên
dân, tỏ rõ chân thành thi hành liêm chính để cốt yên dân" [13, tr.145]. Mạnh
Tử cho rằng: Thiên tử sở dĩ có được thiên hạ là do được "ứng mệnh trời",
9
nhân dân đã được các vị thánh nhân và nhiều ông vua thực hiện để đánh thắng
giặc phương Bắc và xây dựng triều đại hưng thịnh. Ngay từ đầu công nguyên,
Hai Bà Trưng, Bà Triệu đã phất cờ nghĩa để kêu gọi nhân dân tham gia khởi
nghĩa. "Một trong những quy luật cơ bản của chiến tranh giữ nước là phải dựa
vào nhân dân, phải xây dựng được khối đoàn kết toàn dân, tổ chức nhân dân
thành một lực lượng vật chất để chiến thắng kẻ thù. Cho nên, dựa vào dân và
đoàn kết toàn dân để có sức mạnh diệt giặc cứu nước đã trở thành một vấn
đề trung tâm trong sự suy nghĩ của thời đại, đặc biệt là trong sự suy nghĩ của
những bộ óc sáng suốt đã từng tham gia chỉ đạo cuộc chiến tranh cứu nước đi
đến thắng lợi như Lý Thường Kiệt và Trần Quốc Tuấn" [36, tr.160].
Lý Thường Kiệt cho rằng: Người làm vua của dân cốt phải nuôi dân.
Khi nhà Trần nắm quyền cai trị đất nước đã đưa ra rất nhiều chính sách để
động viên tài dân, sức dân và được coi là thời kỳ đỉnh cao của nhà nước
"thân dân". Vua Trần Nhân Tông luôn tâm niệm: Nếu làm vua mà làm cho
dân giàu nước mạnh thì hãy làm, còn ngôi vua ư? Ta coi như chiếc dép
rách mà thôi. Khi thấy Trần Anh Tông thăng quan tước cho hàng trăm
người, ông tức giận và thét lên bằng tiếng thét xé lòng: Đất nước bé bằng
bàn tay, quan nhiều như thế, dân làm sao sống nổi? Nguyên tắc vì dân của
Trần Nhân Tông là: bộ máy cai trị càng ít, quan lại ít phải điều hành là điều
vì dân hiệu quả nhất, thiết thực nhất. Đạo Nhân cao cả nhất của ông là luôn
đặt lợi ích của dân, của nước lên trên hết thảy và ông coi tiếng dân, lòng
dân, sức mạnh của dân là điều thiêng liêng nhất. Một khi dân đã đồng lòng
thì vận nước mới hưng thịnh, thành công mới đến, chiến thắng mới rủ gọi
nhau về.
Nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên mông
là đỉnh cao của nghệ thuật chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc của dân tộc
11
ta trong thời đại phong kiến. Người đề ra và vận dụng thiên tài chiến lược,
chiến thuật chiến tranh nhân dân đó không ai khác là Hưng Ðạo Ðại Vương
sách để giữ nước vậy"; "phải làm sao để lòng dân không xa rời mình"; "ý chí
của nhân dân là thành trì kiên cố để giữ nước". Đại tướng Võ Nguyên Giáp
nhận xét: "Tài năng của Trần Quốc Tuấn biểu hiện ở sự nhận thức rất rõ dân
ta là nguồn sức mạnh giữ nước. Nguồn sức mạnh đó phải được xây dựng, bồi
dưỡng lâu dài trong thời bình cũng như trong thời chiến, bằng nhiều chính
sách kinh tế, văn hóa, xã hội". Chính vì vậy, tư tưởng chính trị - quân sự dựa
vào dân, khoan thư sức cho dân của Trần Hưng Đạo là tư tưởng tiên tiến,
đúng đắn và sáng tạo, vượt thời đại, mãi mãi vẫn còn nguyên giá trị, Ngài đã
trở thành vị Thánh được toàn thể nhân dân ta thờ phụng.
Nguyễn Trãi là một danh nhân vừa tiêu biểu cho truyền thống anh
hùng, vừa tiêu biểu cho nền văn hoá ưu việt của dân tộc. Ngài là một thiên
tài trên nhiều lĩnh vực: tư tưởng, chính trị, quân sự, văn hoá, ngoại giao,…
đã đem tài năng lỗi lạc và tất cả tâm hồn, nghị lực của mình hiến dâng cho
sự nghiệp cứu nước, cứu dân. Nguyễn Trãi lớn lên trong một thời kỳ lịch
sử đầy biến động và bão táp, triều Trần suy vong vì "chỉ cậy mình mạnh
giàu, mặc dân khốn khổ", "dân nghèo nhao nhác chờ cơm, áo", bọn quý tộc
thì "vàng ngọc chất đống… sánh núi cao", "muôn dân oán giận mà không
biết, lòng trời oán trách mà chẳng kinh". Khi nhà Hồ lên thay, cũng chỉ
trong vòng nửa năm, cơ đồ tan vỡ, nước mất vào tay giặc Minh và cũng chỉ
vì triều Hồ "chính sự phiền hà", "để đến nỗi lòng dân oán giận". Chính lúc
đó, Nguyễn Trãi đã thấy được sức mạnh của dân trong các cuộc khởi nghĩa
liên tiếp nổ ra. Ông đã đem hết tâm lực ra phò minh chủ, huy động đông
đảo nông dân và nô tỳ - lực lượng chủ yếu, để làm cuộc kháng chiến chống
giặc Minh thắng lợi.
13
Từ thực tế lịch sử, Nguyễn Trãi đã rút ra những kinh nghiệm quan
trọng có tính quy luật, vận nước thịnh hay suy, mất hay còn, đều do sức
mạnh của dân quyết định: "Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân,
thuận lòng dân thì sống, nghịch lòng dân thì chết". Dân "như nước" có thể
con người văn võ song toàn, có đủ nhân, trí, dũng, mãi mãi xứng đáng với
lòng khâm phục, kính yêu và tự hào của dân tộc.
Chúng ta tự hào biết bao về dân tộc ta, nhân dân ta, những bậc anh
hùng hào kiệt trong lịch sử dựng nước và giữ nước của mình. Thời nào cũng
có những vị anh hùng xuất chúng, từ Hai Bà Trưng, Bà Triệu, từ Ngô Quyền,
Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Lý Thường Kiệt, Trần Nhân Tông, Trần
Hưng Đạo, từ Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung… đã dẫn dắt dân tộc ta,
nhân dân ta giữ vững độc lập, tự do, đời đời gìn giữ non sông gấm vóc do các
vua Hùng để lại, đưa Tổ quốc ta mãi mãi tiến lên những đỉnh cao mới cho tới
ngày nay. Lịch sử nhiều lần chứng tỏ: vương triều nào, nhân vật lịch sử nào
biết khoan thư sức dân, thi hành chính sách thân dân thì trên dưới đồng lòng,
lập nên công to, nghiệp lớn. Trái lại, vương triều nào, nhân vật lịch sử nào đi
ngược lại lòng dân thì sớm muộn đều đi đến thất bại. Không phải ngày nay
chúng ta mới coi tư tưởng "lấy dân làm gốc" làm nền tảng giữ và dựng nước,
mà từ rất xa xưa tư tưởng đó đã trở thành một chân lý, một giá trị nhân văn
đạo đức truyền thống có ý nghĩa trường tồn. Truyền thống đặc sắc của dân tộc
ta là cả nước cùng đánh giặc trên cơ sở chăm lo nền tảng xã hội vững bền,
dựa vào dân, lấy dân làm gốc.
Ngay khi đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, các phong trào đấu tranh
của nhân dân thường xuyên diễn ra. Đến một nhà nho yêu nước như Phan Bội
Châu cũng phải thốt lên rằng: "Nước lấy dân làm chủ, dân coi việc nước như
nhà; Dân là dân nước, nước là nước dân; Dân quyền là phép đổi dời non
15
sông". Bài học lịch sử của đất nước đã chỉ ra: mỗi khi nhân dân được quan
tâm, truyền thống đoàn kết thống nhất, trên dưới đồng lòng, tinh thần yêu
nước được phát huy, trở thành chỗ dựa vững chắc nhất cho cuộc đấu tranh
chống ngoại xâm thắng lợi, chiến thắng được thiên tai, giữ yên bờ cõi, đất
nước được thái bình, thịnh vượng.
Chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định rằng, cách mạng là sự nghiệp của
là, quần chúng nhân dân là động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội.
Lịch sử đã chứng minh rằng, không có cuộc chuyển biến cách mạng nào mà
không là hoạt động đông đảo của quần chúng nhân dân. Họ là lực lượng cơ
bản của cách mạng, đóng vai trò quyết định thắng lợi của mọi cuộc cách
mạng. Trong các cuộc cách mạng làm chuyển biến xã hội từ hình thái kinh
tế - xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khác, nhân dân lao động là lực
lượng tham gia đông đảo và cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, là ngày
hội của quần chúng. Chính nhân dân lao động là chủ thể của các quá trình
kinh tế, chính trị, xã hội, đóng vai trò là động lực cơ bản của mọi cuộc cách
mạng xã hội; ba là, quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra những giá trị
văn hoá tinh thần. Quần chúng nhân dân đóng vai trò to lớn trong sự sáng
tạo và phát triển của khoa học, nghệ thuật, văn học, đồng thời áp dụng
những thành tựu đó vào hoạt động thực tiễn. Và các hoạt động của quần
chúng nhân dân từ trong thực tiễn là nguồn cảm hứng vô tận cho mọi sáng
tạo tinh thần trong đời sống xã hội và các giá trị văn hoá tinh thần chỉ có thể
trường tồn khi được đông đảo quần chúng nhân dân chấp nhận và truyền bá
sâu rộng, trở thành giá trị phổ biến. Lênin cho rằng: "Nghệ thuật thuộc về
nhân dân. Nó cần phải bắt rễ sâu vào trong đông đảo quần chúng lao động.
17
Nó có nhiệm vụ kết hợp những tình cảm, ý nghĩ và ý chí của quần chúng,
đồng thời cổ vũ quần chúng".
Vì vậy, xét từ kinh tế đến chính trị, từ hoạt động vật chất đến hoạt động
tinh thần, quần chúng nhân dân luôn đóng vai trò quyết định trong lịch sử.
Tuy nhiên, tuỳ vào điều kiện lịch sử mà vai trò chủ thể của quần chúng nhân
dân cũng biểu hiện khác nhau. Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, chỉ có
trong chủ nghĩa xã hội quần chúng nhân dân mới có đủ điều kiện để phát huy
tài năng và trí sáng tạo của mình.
1.2. Vai trò của quần chúng nhân dân và những nội dung cơ bản
của công tác vận động quần chúng trong Tư tưởng Hồ Chí Minh
tưởng của Người. Ngay từ những ngày đầu cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh
và Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định công tác vận động quần chúng là
một nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa quyết định cho sự thành bại của cách
mạng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động quần chúng là một hệ
thống những quan điểm, phương thức dân vận được thấm nhuần trong cả cuộc
đời và trong các tác phẩm của Người. Thương yêu nhân dân, thương yêu con
người, tin tưởng ở sức mạnh đoàn kết của nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ
nhân dân là quan điểm bao trùm trong toàn bộ Tư tưởng Hồ Chí Minh, cơ sở
để hình thành tư tưởng về công tác vận động quần chúng của Người.
Hồ Chí Minh luôn ý thức "Dân là quý nhất, là quan trọng hơn hết. Dân
là gốc của nước. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới
không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân". Hoặc "ở trong xã
hội muốn thành công phải có ba điều kiện là thiên thời, địa lợi và nhân hòa.
19
Nhưng thiên thời không quan trọng bằng địa lợi, mà địa lợi không quan trọng
bằng nhân hòa. Nhân hòa là quan trọng hơn hết".
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử không ngừng đấu tranh dựng nước
và giữ nước, "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền
thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh
thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó
lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ
cướp nước" [25, tr.171]. Từ một nước phong kiến độc lập, nước Việt Nam
bị thực dân Pháp xâm lược và thống trị, trở thành một nước thuộc địa nửa
phong kiến. Trong suốt thời kỳ bị áp bức bóc lột của thực dân Pháp và tay
sai, nhân dân ta không ngừng nổi dậy "chống cả triều lẫn Tây" nhưng đều
thất bại. Đất nước chìm trong đêm tối như không có đường ra. Đối với người
dân mất nước, cái mong muốn suốt đời là độc lập của Tổ quốc, tự do cho
nhân dân. Hồ Chí Minh từng nói: "Tôi chỉ có một điều ham muốn là làm cho
Tổ quốc tôi được độc lập, thống nhất, dân chủ".
thấy lực lượng cốt cán của cách mạng. Người khẳng định: Dân trước hết là
công nông và ý thức được rằng: "Công nông là gốc cách mệnh". Dân là nhân
dân lao động và quần chúng cách mạng có tổ chức, là khối đoàn kết toàn dân
tập hợp trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, lấy liên minh công nông
làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và Đảng tiền phong.
Như vậy, theo Hồ Chí Minh, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến
lên chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp của toàn dân, bao gồm các giai cấp cách
mạng như: công nhân, nông dân, tiểu tư sản, trí thức, tư sản dân tộc và
những cá nhân yêu nước thuộc tầng lớp địa chủ vừa và nhỏ. Toàn dân Việt
21
Nam chống lại kẻ thù của dân tộc và giai cấp là chủ nghĩa tư bản đế quốc
cướp nước và tay sai của chúng, giành lại độc lập, tự do cho nhân dân và
tiến dần lên chủ nghĩa xã hội. Với quan điểm này, Hồ Chí Minh đã vận dụng
sáng tạo sách lược cách mạng vô sản của Mác và Lênin vào điều kiện nước
ta, một sự đóng góp to lớn của Người về lý luận và thực tiễn vào kho tàng
của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Quần chúng nhân dân là lực lượng đông đảo, có sức mạnh to lớn, là
động lực chủ yếu để đưa cách mạng đến thành công. Khi khẳng định cuộc
cách mạng giải phóng dân tộc chỉ có thể giành được thắng lợi khi tiến hành
cuộc chiến tranh nhân dân, Hồ Chí Minh yêu cầu phải xây dựng, phát triển
một nền quốc phòng toàn dân, với sự tham gia của đông đảo nhân dân và dựa
vào sức mạnh của toàn dân tộc. "Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một
bức tường đồng xung quanh Tổ quốc, dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức
nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại", "không quân
đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hi sinh của toàn
thể một dân tộc" [22, tr.77].
Để đập tan âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thực dân, phản động,
giành độc lập cho dân tộc, theo Hồ Chí Minh, phải tiến hành bạo lực cách
mạng và tập hợp được lực lượng của toàn dân tộc đứng lên tranh đấu bằng
đủ mọi mặt để ứng phó không thể nào thắng lợi được" [23, tr.298].
"Tác phong của Người là "lời nói đi đôi với việc làm", "đảng viên đi
trước, làng nước theo sau". Chính Người nêu gương "cần kiệm liêm chính,
chí công vô tư"; lắng nghe ý kiến quần chúng, suy nghĩ, cân nhắc, cốt tìm ra
chân lý. Đó là tác phong quần chúng, tác phong tập thể, dân chủ, tác phong
khoa học. Tình cảm của Người đối với nhân dân thật là bao la, thắm thiết.
23
Người quan tâm đến mọi tầng lớp nhân dân, luôn gần gũi, tin tưởng ở khả
năng sáng tạo của quần chúng" [3, tr.30]. Khi đi xa, Người còn "để lại muôn
vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu
thanh niên và nhi đồng".
Hồ Chí Minh luôn coi cách mạng là sự nghiệp của toàn dân bị áp bức
và bóc lột. Nhưng để giành được sự thống nhất về lực lượng và với lực
lượng của mình, quần chúng đã sáng tạo ra phương pháp cách mạng trong
điều kiện và tương quan cho phép để chiến thắng đế quốc, phong kiến và
xây dựng đất nước là cả một vấn đề to lớn về chiến lược, sách lược và
phương pháp cách mạng. Với lực lượng đông đảo có tổ chức và với phương
pháp cách mạng bạo lực của quần chúng, Hồ Chí Minh đã phát huy sức
mạnh dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đưa Cách
mạng tháng Tám 1945 và hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế
quốc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.
Dân chúng công nông là gốc của cách mạng, có dân là có tất cả, "dân
khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại" [21,
tr.274]. Nguyễn Ái Quốc cho rằng, phải luôn tin vào dân, dựa vào dân, phấn
đấu vì quyền lợi của dân. Đây là nguyên tắc xuất phát từ tư tưởng lấy dân
làm gốc của ông cha ta được Người kế thừa và nâng lên một bước, là phạm
trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử: cách mạng là sự nghiệp của quần
chúng, nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử. Tin vào dân, dựa vào dân và
lấy dân làm gốc có nghĩa là phải tin tưởng vững chắc vào sức mạnh to lớn và