Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân trong cuộc vận động giải phóng dân tộc từ 1925 đến 1945 - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
……………………………………………

VŨ THỊ LAN
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN TRONG
CUỘC VẬN ĐỘNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC TỪ 1925 ĐẾN 1945


CUỘC VẬN ĐỘNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC TỪ 1925 ĐẾN 1945
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Chuyên ngành: Hồ Chí Minh học
Mã số : 60.31.02.04
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Phạm Hồng Tung
Hà Nội – 2014

Tôi cam đoan đây là đề tài nghiên cứu khoa học của
riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Hồng Tung.
Các số liệu , tài liệu nêu ra và trích dẫn trong luận văn là
trung thực. Kết qua
̉
nghiên cứu của luận văn không trùng với
các công trình khác.

phƣơng Đông 18
1.1.2.1. Quan niệm của Nho giáo 18
1.1.2.2. Quan niệm của Phật giáo 21
1.1.2.3. Chủ nghĩa Tam dân 23
1.1.3. Chủ nghĩa nhân đạo phƣơng Tây 26
1.1.4. Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin 30
1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh vai trò của nhân dân trong cuộc vận động
giải phóng dân tộc 33
1.2.1. Khái niệm nhân dân 33
1.2.2. Dân là nền tảng của khối đại đoàn kết, là nguồn sức mạnh vô tận, nhân
tố quyết định thắng lợi của cách mạng 36
Chƣơng 2: TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁC PHƢƠNG PHÁP ĐỂ PHÁT
HUY VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN TRONG CUỘC VẬN ĐỘNG GIẢI
PHÓNG DÂN TỘC 47
2.1. Làm cho nhân dân hiểu vì sao phải làm cách mạng? 47
2.1.1. Cách mạng là gì? Cách mạng khó hay dễ? 47

2.1.2. Cách mạng Việt Nam đang tiến hành thuộc loại cách mạng gì? 50
2.1.3. Ai là những ngƣời cách mạng? 52
2.1.4. Cách mạng muốn thành công trƣớc hết phải có Đảng cách mạng 54
2.2. Vận động nhân dân tham gia vào các tổ chức cách mạng 58
2.3. Tổ chức và huấn luyện nhân dân 64
2.3.1. Thời kỳ trƣớc ngày 19-5-1941 64
2.3.2. Thời kỳ sau 19-5-1941 85
2.4. Lãnh đạo toàn dân, “đem sức ta mà giải phóng cho ta” 94
Kết luận 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

giải phóng dân tộc.
Với những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về
vai trò của nhân dân trong cuộc vận động giải phóng dân tộc từ 1925 đến 1945 ”
làm đề tài luận văn thạc sĩ của chuyên ngành Hồ Chí Minh học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc nói
chung, về vai trò của nhân dân nói riêng trên thực tế đã thu hút được sự chú ý của
các nhà nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.
Căn cứ vào nội dung có thể chia thành các nhóm sau:
2.1. Nhóm các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về cách
mạng giải phóng dân tộc trong đó đề cập tới vai trò của nhân dân trong
cách mạng giải phóng dân tộc.
Lê Duẩn (1960): Một vài đặc điểm của cách mạng Việt Nam, Nxb. Sự thật,
Hà Nội.
Võ Nguyên Giáp (1970): Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà chiến lược thiên tài;
Người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, Nxb. Quân đội
nhân dân, Hà Nội.
Võ Nguyên Giáp (1975): Chiến tranh giải phóng và chiến tranh dựng nước,
Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội.
Trần Văn Trà (1994): Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, Nxb. Quân đội nhân
dân, Hà Nội.
Lê Mậu Hãn, Đinh Xuân Lâm (1994): Góp phần tìm hiểu tư tưởng độc lập
tự do của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Lê Mậu Hãn (2000): Tư tưởng Hồ Chí Minh rọi sáng con đường độc lập tự
do của dân tộc Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Lê Mậu Hãn (2001): Sức mạnh dân tộc của cách mạng Việt Nam dưới ánh
sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Đỗ Quang Hưng, Phùng Hữu Phú, Bùi Đình Phong (2003): Bác Hồ với giai
cấp công nhân và công đoàn Việt Nam, Nxb. Lao động, Hà Nội.



2.2. Nhóm các công trình, bài viết tạp chí nghiên cứu về phương pháp,
phong cách Hồ Chí Minh.
Phùng Hữu Phú (1995): Chiến lược đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Phùng Hữu Phú (2010): Bí quyết thành công Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
Đặng Xuân Kỳ (2004): Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, Nxb Lý
luận Chính trị, Hà Nội.
Bùi Đình Phong (2005): Đỉnh cao tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, Nxb.
Lao Động, Hà Nội.
Nguyễn Văn Huyên (2010): Con người chính trị Việt Nam truyền thống và
hiện đại, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Phạm Hồng Tung (2010): Văn hoá chính trị và lịch sử dưới góc nhìn văn
hóa chính trị, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Song Thành (2010): Hồ Chí Minh - Nhà văn hoá kiệt xuất, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
Phạm Ngọc Anh (2012): Phát huy các nguồn lực của dân làm lợi cho dân
theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Phạm Hồng Tung, Đinh Xuân Lâm (2010): Từ Pác Pó đến Ba Đình: những
chặng đường thắng lợi của bản lĩnh, trí tuệ và chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, Tạp
chí Hội thảo Khoa học Quốc tế kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội phát triển
bền vững Thủ đô Hà Nội Văn Hiến, anh hùng, vì hòa bình.
Đinh Xuân Lâm, Phạm Hồng Tung (2010): Từ Pác Pó đến Ba Đình: những
chặng đường thắng lợi của bản lĩnh, trí tuệ và chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, Hội
thảo Khoa học Quốc tế kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội phát triển bền vững
Thủ đô Hà Nội văn hiến, anh hùng, vì hòa bình.
Phạm Xanh: Sự nối tiếp tư tưởng trên đất Nghệ Tĩnh từ Phan Đình Phùng
qua Phan Bội Châu đến Hồ Chí Minh, , ngày 14-12-2010.
Phạm Hồng Chương: Suy nghĩ về hình thức và nội dung truyền bá chủ

Trên đây là những luận văn, luận án đã bảo vệ và có những nội dung liên
quan đến đề tài của tác giả. Hai luận văn của tác giả Nguyễn Sanh Châu, Nguyễn
Chính đã phân tích nguồn gốc hình thành quan điểm Hồ Chí Minh “cách mạng là sự
nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” cũng như những quan điểm và

giải pháp thực hiện tư tưởng: sự nghiệp cách mạng là của dân, do nhân dân và vì
nhân dân của Đảng ta. Luận văn của tác giả Nguyễn Thị Nam đã trình bày được một
số phương pháp xây dựng lực lượng cách mạng, nhưng chủ yếu phân tích và làm rõ
quá trình xây dựng lực lượng cách mạng và sự vận dụng của Đảng trong xây dựng
khối đại đoàn kết hiện nay. Luận văn của tác giả Lê Văn Thuỷ thì chú trọng đến
việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận đối với công tác dân vận ở tỉnh
Hải Dương. Còn luận án của tác giả Lâm Quốc Tuấn và Trần Văn Hải thì chủ yếu
đưa ra cơ sở khoa học về vấn đề dân tộc và giai cấp trong cách mạng Việt Nam, về
vai trò của Đảng và Mặt trận dân tộc thống nhất trong các thời kỳ cách mạng Việt
Nam, về những yêu cầu đối với cán bộ lãnh đạo hiện nay ở nước ta.
Tóm lại, tất cả các công trình và bài viết nói trên đều đã đề cập đến tư tưởng
Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc, về vai trò của nhân dân trong cuộc
vận động giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về vai
trò của nhân dân cũng như hệ thống các phương pháp để phát huy vai trò và năng
lực của nhân dân trong cuộc vận động giải phóng dân tộc từ 1925 đến 1945 là một
vấn đề mới, đang rất cần được đi sâu nghiên cứu hơn nữa.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Làm rõ những phương pháp phát huy vai trò của nhân dân trong cuộc vận
động giải phóng dân tộc.
- Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Phân tích, đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến quan điểm Hồ Chí Minh
về vai trò của nhân dân trong cuộc vận động giải phóng dân tộc.
+ Làm rõ những phương pháp phát huy, nâng cao năng lực của nhân dân
trong cuộc vận động giải phóng dân tộc.

quốc hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo phục vụ cho việc
nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh.
7. Kết cấu của luận văn
Kết cấu luận văn gồm: Phần mở đầu; nội dung; kết luận; danh mục tài liệu
tham khảo. Phần nội dung của luận văn gồm 2 chương, 6 tiết.

Chƣơng 1: TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN
TRONG CUỘC VẬN ĐỘNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC
1.1. Một số quan niệm về vai trò nhân dân
1.1.1. Quan niệm về vai trò của nhân dân trong di sản văn hóa truyền
thống của dân tộc Việt Nam
Tư tưởng “lấy dân làm gốc” là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt
Nam, được hình thành và phát triển trong quá trình lao động sản xuất và chiến đấu
chống giặc ngoại xâm. “Lấy dân làm gốc” không chỉ đã trở thành nội dung, mục
tiêu chủ yếu mà còn là cơ sở, là căn cứ để hình thành và triển khai đường lối cai trị,
quản lý xã hội của các triều đại phong kiến Việt Nam, nó được biểu hiện trong tư
tưởng và hành động của nhiều vị vua anh minh thời Lý, Trần, Lê, của nhiều nhà tư
tưởng như Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, v.v…
Và đến chủ tịch Hồ Chí Minh, quan điểm nhân dân là người chủ đất nước là sự tiếp
thu từ truyền thống dân tộc và từ tư tưởng dân chủ tư sản Pháp từ rất sớm. Có thể
nói rằng tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” là tư tưởng thể hiện những giá trị triết học
và nhân văn sâu sắc, nhất quán trong toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách
mạng của Người. là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình xây dựng và phát triển đất nước.

Để đánh giặc và trị nước, Nguyễn Trãi cho rằng: “Phân mưu việc lớn phải
lấy nhân nghĩa làm gốc, nên công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu”. “Đạo làm tướng
phải lấy nhân nghĩa làm gốc”. Trong thời binh biến, Nguyễn Trãi nói: “Việc nhân
nghĩa cốt ở yên dân”[18, tr. 284]. Cứu nước trước hết phải cứu dân. Yên dân tất
nhiên không phải là trị cho dân sợ, ngồi yên, không rục rịch, mà làm cho dân sung
túc. Yên dân là điều kiện để ổn định xã hội. Nhân nghĩa là lòng thương người, sự
khoan dung với kẻ lầm đường, lạc lối. Nhân nghĩa là “trừ bạo”, đánh đuổi giặc
ngoại xâm. Dân là người bị đau khổ nhất trong cảnh áp bức bóc lột của giặc Minh:
“Nướng dân đen trên lửa hung tàn, Vùi con đỏ xuống hầm tai vạ”[18, tr. 285].
Nhưng để đánh đuổi giặc ngoại xâm để giành độc lập “mở nền thái bình muôn
thuở” và “để rửa nỗi sỉ nhục ngàn thu” thì nhân dân ta “Lấy đại nghĩa để thắng hung
tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo”. Nhân nghĩa là nhân đạo, yêu chuộng hòa bình
đó là nét đặc sắc trong tư tưởng chính trị của Nguyễn Trãi, là đường lối chính trị, là
chính sách cứu nước và dựng nước. Nhân nghĩa trở thành cơ sở của đường lối trị
nước và chuẩn mực trong ứng xử, là nguyên tắc trong giải quyết công việc quốc gia.

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trước nguy cơ xâm lược của kẻ thù mới là
thực dân Pháp, tư tưởng về vị trí, vai trò của nhân dân thời kỳ này có những nội
dung mới: Thứ nhất, đây là lần đầu tiên họ đã phá uy quyền vô thượng của vua
quan, hạ bệ quyền lực của vua quan xuống đồng thời đưa “thần dân” lên địa vị làm
chủ. Việc đảo lộn trật tự có tính chất thần thánh tưởng như “tiên thiên” ấy thật sự là
một cuộc cách mạng trong tư tưởng. Đặt chủ quyền của đất nước vào người dân, họ
đã thay đổi một cách cơ bản địa vị của người dân, mang đến cho người dân một khả
năng tích cực, chủ động mới. Mặt khác, lần đầu tiên họ mang lại cho người dân
những ý niệm về quyền của mình tuy còn hết sức sơ lược. Thứ hai, khái niệm dân
đã được mở rộng - tất cả các hạng người trong xã hội đều coi là dân, không phân
biệt tôn giáo, đảng phái, nam nữ bình quỳên và không phân biệt tầng lớp trên dưới
(tất nhiên có sự loại trừ kẻ bán nước).
Các nhà tư tưởng thời kỳ này, tiêu biểu là Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh
đã tiếp thu tinh thần thời đại và sớm nhận thức được thực chất vấn đề là phải duy

chúng tôi tìm đường sống ở trong muôn vàn cái chết, chỉ nghĩ đến bạo động mà
thôi”. Nhưng bạo động mà Phan Bội Châu chủ trương chủ yếu là bạo động của số
đông, trước hết là bạo động của binh lính, nhưng cũng là bạo động của cá nhân với
những “tiếng nổ lớn” để “làm cho người ta giật mình tỉnh lại, để đánh thức nhân
tâm, để cảnh cáo quân thù, để hâm nóng lòng người” [21, tr. 153] chứ chưa phải là
bạo động của quần chúng nhân dân. Còn Phan Chu Trinh lại cho rằng “Chớ bạo
động, bạo động là dại dột, là trẻ con. Bạo động thì chết là vô ích, như lũ phù du rơi
vào ngọn đèn”. Vì thế, theo ông không cần bạo động cách mạng, chỉ cần học, học
mãi, học cho giỏi rồi Tây nó phải nể, phải xem ngang hàng, rồi cũng trả lại độc
lập… Vì vậy, nhận xét về phương pháp của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Trong
thư gửi Chủ tịch Đoàn Quốc tế Cộng sản ngày 18-12-1924, Nguyễn Ái Quốc đã báo
cáo về việc được tiếp xúc với một số thành viên cũ của Việt Nam Quang phục hội
như sau:
“Tôi đã gặp tại đây vài ba nhà cách mạng quốc gia An Nam, trong số này có
người đã rời xứ sở từ ba mươi năm nay. Trong thời gian đó, ông ta đã tổ chức nhiều
cuộc nổi dậy chống Pháp. Tất cả những cuộc nổi dậy đó đều đã đưa tới cái chết của
mấy tên sỹ quan và binh lính Pháp, sự chiếm đoạt mấy khẩu súng và… là việc
người của chúng ta chạy thoát, do không được giúp đỡ và viện trợ.

Mục đích duy nhất của ông này là trả thù cho nước, cho nhà đã bị bọn Pháp
tàn sát… Ông không hiểu chính trị và là càng không hiểu tổ chức quần chúng.
Trong cuộc thảo luận tôi đã giải thích cho ông hiểu sự cần thiết của tổ chức và sự vô
ích của những hành động không có cơ sở.” [55, tr.9]
Đề cao vai trò của nhân dân, Phan Bội Châu, đã viết những lời tâm huyết gửi
quốc dân, đồng bào: “Kẻ làm vua kia, chỉ là người đứng đầu một làng, là viên quản
lý một công ty mà thôi. Nếu nó chết đi thì làng và công ty vẫn còn đó. Nó cũng chỉ
là một phần số con người trong một nước, có hay không một phần số người này, đối
với nước có thêm bớt gì đáng kế… Ta thương yêu nhất là dân”[87, tr. 200]. Trong
tác phẩm Hải ngoại huyết thư, Cụ đã chỉ ra ba nguyên nhân mất nước:
“Một là vua sự dân chẳng biết,

1.1.2. Các quan niệm về vai trò của nhân dân trong lịch sử tƣ tƣởng
chính trị phƣơng Đông
1.1.2.1. Quan niệm của Nho giáo
Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho, không bao giờ
Người giấu hay làm mờ nguồn gốc văn hóa của mình là Nho giáo. Người đã từng
khai trong lý lịch gửi Quốc tế cộng sản năm 1925: “Tôi xuất thân từ một gia đình
nhà nho Việt Nam”. Đến năm 1935, tại Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII, một
lần nữa, Người lại tự giới thiệu là thuộc “thành phần gia đình nhà nho” Có thể nói
rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ có ảnh hưởng phần nào từ tư tưởng của Nho giáo.
Nhưng ảnh hưởng của Nho giáo như thế nào đến Hồ Chí Minh và cụ thể là tư tưởng
Hồ Chí Minh về nhân dân và vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng giải
phóng dân tộc?
Đề cao vai trò của nhân dân, Mạnh Tử cho rằng: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi,
quân vi khinh” tức là: dân là thứ nhất, xã tắc là thứ yếu, vua là thường. Ông cho
rằng, vua (nhà cầm quyền) phải có lòng thương yêu dân, chân thật với dân, vui sự
vui của dân, lo sự lo của dân; như thế dân mới thương yêu mình, vui sự vui của
mình, lo sự lo của mình. Ông đề cao trách nhiệm của nhà cầm quỳên đối với dân,
coi việc cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tình thần cho dân là trách nhiệm
của nhà cầm quyền.
Nhấn mạnh vai trò của Dân, Tuân Tử cũng cho rằng: “Trời sinh dân không
phải vì vua, mà trời lập ra vua để vì dân”. Ông ví, dân như nước, vua như thuyền,
nước chở thuyền và nước cũng lật thuyền.

Nhưng để được dân tin, dân yêu, thì nhà cầm quyền (ông vua) phải có đạo
đức. Trong quan niệm của Nho giáo “Đức là gốc, tài sản là ngọn. Nếu bỏ gốc mà
lấy ngọn, thì sẽ cùng tranh lợi với dân, cướp bóc dân. Vì thế, nếu chỉ lo góp nhặt tài
sản thì dân chúng sẽ xa rời ngay; biết phân phát tài sản thì dân chúng sẽ quy thuận
ngay. Nếu ở trên phản lại lòng dân, chỉ biết ra những mệnh lệnh trái lẽ, thì dân
chúng sẽ đối xử lại bằng những điều trái nghịch. Nếu ở trên phản lại lòng dân, chỉ lo
tích tụ tài sản, châu báu, ngọc ngà thì dân chúng sẽ đối xử lại bằng hành động bội

Theo Hồ Chí Minh, Dân là những người yêu nước, không phân biệt đảng
phái, tôn giáo, dân tộc, giàu nghèo, trai gái…, là “đồng bào”, những “con Rồng
cháu Tiên” và đạo đức mà Người đề cập là đạo đức mới, đạo đức cách mạng khác
với đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất, hai chân chổng lên trời.
Người cho rằng: “Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp rộng lớn và khó thực
hiện, nó không thể do một người hay một nhà mà làm tốt được…” [55, tr. 513 -
514]. Vì vậy, để hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang người cách mạng
phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng. Khi dạy lớp cán bộ đầu tiên (1925), Hồ
Chí Minh đã đặt 23 điều tư cách người cách mạng lên trang đầu của cuốn sách
Đường cách mệnh. Sau này, trong bài Người cách mạng mẫu mực Người lại chỉ rõ
việc thực hành đạo đức cách mạng là một yêu cầu quan trọng và nó được thể hiện
cụ thể trong ba mối quan hệ chủ yếu: đối với mình phải “cần kiệm, hòa mà không
tư, cả quyết sửa lỗi mình…; đối với người phải “khoan thứ, có lòng bày vẽ cho
người, không táo bạo, hay xem xét người…”; đối với việc phải “xem xét hoàn cảnh
kỹ càng, quyết đoán, dũng cảm, phục tùng đoàn thể” [55, tr. 280 - 281].
Nhấn mạnh vai trò của nhân dân, Hồ Chí Minh cho rằng: “sức mạnh của
dân chúng không thể thiếu đối với sự thành công của sự nghiệp cách mạng” [56, tr.
513 - 514]. Người nhắc nhở: người cách mạng phải đặt quyền lợi của Tổ quốc lên
trên hết và trước hết. “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại cho
dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta kính
ta”. Người cách mạng phải là những “ công bộc của dân, nghĩa là gánh vác việc
chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân” [80, tr. 64- 65].
Người đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải là những người “Giàu sang không thể
quyến rũ, nghèo đói không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”, “phải lo
trước thiên hạ và vui sau thiên hạ”, và chính Người là một tấm gương về sự hy sinh
vì sự nghiệp cứu nước, cứu dân, không một chút nghĩ cho riêng mình. Trong Di

chúc khi đề cập đến việc riêng Người viết: “Suốt đời tôi hết lòng, hết sức phục vụ
Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này,
tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa,

mặn”[77, tr.43]. Trong giáo đoàn của Ngài, mọi người đều được cư xử ngang nhau,
đều được hưởng pháp âm vi diệu như nhau, đều có điều kiện tu hành giống nhau, và
đều có cơ hội chứng thành quả nếu tu hành đắc lực. Đối với phụ nữ, xã hội đương
thời không xem trọng, các giáo phái khác cũng không cho gia nhập. Riêng Đức
Phật, Ngài vẫn cho phép Di mẫu cùng một số nữ đệ tử xuất gia, Chư Ni trong thời
Đức Phật cũng Thánh quả, cũng có những vị nổi danh đệ nhất về trí tuệ, thần thông,
biện tài như Chư Tăng không khác.
Phật giáo là một trong ba tôn giáo lớn của thế giới, đó là vũ khí tư tưởng cứu
dân, cứu nước. Trong cuộc đấu tranh cách mạng, những tư tưởng của Phật giáo
đóng góp to lớn trong việc khơi dậy và phát huy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước
trong quần chúng nhân dân. Và khẳng định sức mạnh của quần chúng nhân dân,
“Thuyết từ bi cứu khổ của Phật Tổ xui Phật tử tham gia những cuộc vận động yêu
nước thương dân chớ không xui ai cả”[21, tr. 230]. Với tâm từ bi vô cùng rộng lớn,
nên Đức Phật đối xử bình đẳng với tất cả mọi người, không biệt thân sơ, thù bạn,
tạo nên sự đồng thuận lớn trong đời sống của nhân dân.
Như vậy, Phật giáo là một tôn giáo lớn, nó có những mặt tiêu cực không
tránh khỏi (quan niệm đời là bể khổ, dẫn đến cái nhìn đời bi quan, tiêu cực, từ bỏ
đấu tranh cho hạnh phúc nơi dương thế để đi tìm hạnh phúc ở kiếp sau ). Nhưng tư
tưởng của Phật giáo cũng có những mặt tích cực, để lại những dấu ấn sâu sắc trong
tư duy, hành động, cách ứng xử cho con người: đó là tư tưởng tư bi bác ái, thương
người, vị tha, quan tâm đến nỗi khổ của người khác, sẵn sàng cứu giúp người hoạn
nạn, ; là nếp sống có đạo đức, trong sạch giản dị, giữ giới,chăm lo làm việc thiện,
; là tinh thần dân chủ, bình đẳng, chống lại mọi sự phân biệt đẳng cấp, chủ trương
ai cũng có thể thành Phật cả. Đức Phật đã từng nói: “Ta là Phật đã thành, chúng sinh
là Phật sẽ thành”; là tư tưởng đề cao lao động, chống lười biếng “nhất nhật bất tác,
nhất nhật bất thực. Và cuối cùng, tư tưởng tích cực của Phật giáo còn được thể hiện
ở chủ trương sống không xa lánh việc đời mà gắn bó mật thiết với nhân dân, với
nước, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh của nhân dân chống kẻ thù của dân tộc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh đã hòa cùng tư tưởng Phật giáo, không chỉ là ở tư
tưởng, tình cảm mộc mạc trong lòng Người, mà tấm lòng đó còn được thể hiện qua

Chủ nghĩa tam dân gồm ba bộ phận: dân tộc, dân quyền, dân sinh. Trong đó,
dân tộc - độc lập theo Tôn Trung Sơn là “một loại bửu bối để mưu đồ cho quốc gia

được cường thịnh và cho dân tộc được sinh tồn”, có thể cứu nước Trung Hoa khỏi
họa diệt vong [74, tr. 57]. Ông kịch liệt lên án chủ nghĩa thực dân áp bức, bóc lột
các dân tộc và quốc gia nhỏ yếu. Vì vậy, để đánh đổ chủ nghĩa đế quốc, cứu nước
Trung Hoa, ông đưa ra biện pháp kết hợp các tông tộc. Bởi ông quan niệm quan hệ
gia tộc và tông tộc được người Trung Quốc sùng bái nhất, và chỉ có nó thiếu hẳn
chủ nghĩa dân tộc. Dân quyền chủ trương lật đổ chế độ chuyên chế phong kiến, xây
dựng nhà nước cộng hòa, trong đó nhân dân sẽ giữ vị trí làm chủ. Để đảm bảo chủ
nghĩa dân quyền được thực hiện, Tôn Trung Sơn chủ trương “quy định phạm vi giới
hạn quyền của dân: tuyển cử, bãi miễn, sáng chế, phúc quyết; quyền của chính phủ:
hành chính, lập pháp, tư pháp, khảo thí, giám sát”[74, tr. 59]. Còn về dân sinh, Tôn
Trung Sơn chủ trương “đập tan tình trạng nghèo nàn của mọi người trong nước ta
và làm cho mọi thành phần đều được bình quân về mặt tài phú mà không có kẻ cực
nghèo nữa”. Và biện pháp để thực hiện dân sinh là: Một là, bình quân địa quyền,
giải quyết vấn đề điền địa, đánh thuế đất của địa chủ khai hoặc mua lại cho nông
dân. Hai là, tiết chế tư bản đồng thời xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại do nhầ
nước sở hữu và quản lý. Nội dung của chủ nghĩa dân sinh là thuần túy kinh tế
Như vậy, tư tưởng về vai trò của nhân dân được thể hiện trong quan niệm
của Tôn Trung Sơn về con người chính trị thông qua Cương lĩnh cách mạng “Tam
dân chủ nghĩa”. Ý tưởng của chủ nghĩa tam dân là: “dân hữu, dân trị, dân hưởng”.
Ý tưởng của “dân hữu, dân trị, dân hưởng” là nhân dân cộng hưởng quốc gia, nhân
dân cộng quản chính trị, nhân dân cộng quản lợi ích”. Theo nghĩa này, nhân dân với
quốc gia không chỉ là cộng sản, mọi quyền bính đều “cộng”, đều cùng là của chung,
như thế mới là chủ nghĩa dân sinh chân chính [36, tr. 76-77].
Trong quan điểm của Tôn Trung Sơn, quần chúng nhân dân là người làm ra
lịch sử, nhân dân là chủ và nhân dân làm chủ. Họ là những con người chính trị đích
thực. Chính họ là lực lượng lao động sản xuất ra của cải vật chất và các giá trị tinh
thần, là chủ thể sáng tạo ra lịch sử và là nhân tố quyết định đến sự tồn vong của một

nhân dân bao gồm cả đời sống vật chất và đời sống tinh thần, đời sống kinh tế và
văn hóa ngày càng cao, tư tưởng tình cảm và đạo đứ ngày càng lành mạnh.
Có thể nói, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh hết sức kính trọng và
yêu mến Tôn Trung Sơn không chỉ vì Ông là nhà cách mạng vĩ đại của nước Trung
Quốc anh em, mà còn vì chủ nghĩa Tam Dân do ông đề xuất “có nhiều điểm thích
hợp” với điều kiện Việt Nam, và Người nguyện “cố gắng làm người học trò nhỏ của

Trích đoạn Ai là những ngƣời cách mạng? Cách mạng muốn thành công trƣớc hết phải có Đảng cách mạng Vận động nhân dân tham gia vào các tổ chức cách mạng Tổ chức và huấn luyện nhân dân Thời kỳ sau 19-5-1941
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status