ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Nguyễn Sĩ Ánh
CHÍNH SÁCH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN TỪ 1995 ĐẾN NAY
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Mã số: 60.31.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUỐC TẾ HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: GS VŨ DƢƠNG NINH
9
1.2
TÌNH HÌNH TRONG NƢỚC VÀ NHỮNG THÀNH TỰU
SAU 10 NĂM ĐỔI MỚI………………… 15
CHƢƠNG 2:
CHÍNH SÁCH HỘI NHẬP QUỐC TẾ TỪ NĂM 1995 ĐẾN
NAY: NỘI DUNG VÀ NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƢỢC 36
2.1
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHÍNH SÁCH HỘI NHẬP
QUỐC TẾ …… 36
2.1.1
Chính sách hội nhập quốc tế giai đoạn 1996 – 2001
36
2.1.2
Chính sách hội nhập quốc tế giai đoạn 2001 – 2006
41
2.1.3
Chính sách hội nhập quốc tế qua văn kiện Đại hội toàn
82
3.1
NHỮNG HỆ QUẢ CƠ BẢN……………………
82
3.2
MỘT SỐ KINH NGHIỆM………………………
84
3.3
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRÊN TIẾN TRÌNH HỘI
NHẬP QUỐC TẾ THỜI GIAN TỚI………… 86
KẾT LUẬN…………………………………………
91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………
93
PHỤ LỤC
Cộng hoà nhân dân
CNTB
Chủ nghĩa tƣ bản
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
ĐHĐ
Đại hội đồng
EC
European Community
Cộng đồng châu Âu
EU
European Union
Liên minh châu Âu
FDI
Foreign Direct Investment
Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
GATT
General Agreement on Tariff and Trade
Hiệp đinh chung về thuế quan và mậu dịch
IMF
International Monetary Fund
Quỹ Tiền tệ quốc tế
LHQ
Liên hợp quốc
MIA
Missing In Action
Ngƣời mất tích trong khi làm nhiệm vụ
NATO
North Atlantic Treaty Organization
Tổ chức Hiệp ƣớc Bắc Đại tây dƣơng
MỞ ĐẦU
sách đối ngoại của Đảng và Nhà nƣớc ta. Từ đó, rút ra những bài học kinh
nghiệm, những mặt làm đƣợc và chƣa làm đƣợc trong vấn đề hội nhập quốc
tế, đề ra những giải pháp nhằm đƣa công cuộc hội nhập quốc tế có hiệu quả
hơn nữa.
Với ý nghĩa trên, tôi chọn vấn đề “Chính sách hội nhập quốc tế của Việt
Nam trong giai đoạn từ 1995 đến nay” làm đề tài luận văn cao học của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam đƣợc Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xƣớng
và lãnh đạo trong suốt hơn 20 năm qua đã và đang giành đƣợc những thành tựu
quan trọng. Trong những năm qua, để phục vụ công tác hoạch định chính sách
đối ngoại, đẩy mạnh hội nhập quốc tế nhằm mục tiêu xây dựng đất nƣớc theo
hƣớng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, đã có nhiều cuộc hội thảo về chính sách
hội nhập quốc tế và hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nƣớc ta.
Về đƣờng lối, chính sách đối ngoại, trong dịp kỷ niệm 50 năm thành lập
ngành Ngoại giao Việt Nam, năm 1995, Bộ Ngoại giao đã xuất bản cuốn “Hội
nhập quốc tế và giữ vững bản sắc” tập hợp các bài nói và viết của các nhà hoạt
động ngoai giao về các vấn đề quốc tế có liên quan đến Việt Nam trong giai đoạn
này. Năm 2002, Học viện Quan hệ quốc tế đã xuất bản cuốn “Ngoại giao Việt
Nam hiện đại - Vì sự nghiệp đổi mới” do TS Vũ Dƣơng Huân chủ biên. Nội dung
cuốn sách đề cập tới nhiều vấn đề về ngoại giao, hội nhập… đƣợc dùng làm tài
liệu tham khảo cho việc giảng dạy và học tập phần chính sách đối ngoại của Việt
Nam từ sau năm 1975. Cũng trong năm 2002, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã
xuất bản cuốn sách “Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000” do Thứ trƣởng thƣờng
trực Bộ Ngoại giao Nguyễn Đình Bin là Chủ biên. Cuốn sách giúp cho ngƣời đọc
tìm hiểu nền ngoại giao Việt Nam hiện đại, đƣờng lối đối ngoại độc lập, tự chủ,
sáng tạo của Đảng và Nhà nƣớc ta trong từng giai đoạn lịch sử cách mạng Việt
Nam, đồng thời cuốn sách cũng nêu lên những đặc điểm, tính chất của nền ngoại
giao Việt Nam hiện đại, những thành tựu chủ yếu trong hoạt động đối ngoại của
Đảng, Nhà nƣớc và ngoại giao nhân dân.
cứu đề tài “Chính sách hội nhập quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn từ 1995
đến nay”. Đó là một thuận lợi cho ngƣời viết khi đi sâu nghiên cứu đề tài, nhƣng
đồng thời cũng là khó khăn khi yêu cầu đặt ra là phải gợi mở đƣợc những vấn đề
mới. Một khó khăn nữa là ngƣời viết chƣa có điều kiện để tiếp cận với các tài liệu
chƣa đƣợc công bố sẽ dẫn đến thiếu những luận chứng trong việc tìm hiểu vấn đề.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn
Trình bày một cách hệ thống chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nƣớc
ta trong tiến trình hội nhập quốc tế và những kết quả thực tiễn của chính sách đó
từ năm 1995 đến nay. Từ đó rút ra nhận xét về thuận lợi, khó khăn, triển vọng và
giải pháp nhằm đẩy mạnh tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam trong thời
gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Phân tích những nhân tố tác động đến quá trình hoạch định chính sách hội
nhập quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1995 đến nay.
- Phân tích chính sách hội nhập quốc tế của Việt Nam qua các kỳ Đại hội
Đảng và những kết quả cụ thể trong việc triển khai chính sách hội nhập quốc tế từ
năm 1995 đến nay.
- Nêu lên những thuận lợi, khó khăn, trên cơ sở đó đƣa ra triển vọng và đề
xuất một số giải pháp nhằm giúp cho việc thực thi chính sách hội nhập quốc tế
phát huy hiệu quả hơn nữa.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu chính sách đối ngoại của Đảng và
Nhà nƣớc ta nhằm từng bƣớc đẩy mạnh hội nhập quốc tế. Những thành tựu trong
quan hệ đối ngoại, kinh tế và các mặt khác những minh chứng cho sự thành công
của chính sách hội nhập quốc tế.
Về thời gian: Trọng tâm nghiên cứu của luận văn bắt đầu từ năm 1995-
năm đánh dấu sự hội nhập khu vực của Việt Nam và mở ra thời kỳ hội nhập mạnh
mẽ với thế giới. Vì tính liên tục của hoạt động đối ngoại nên luận văn dành một
phần nhất định cho giai đoạn trƣớc năm 1995, nhất là trong 10 năm đầu tiến hành
tìm hiểu chính sách hội nhập quốc tế của Việt Nam giai đoạn từ năm 1995 đến
nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
đƣợc chia làm 3 chƣơng.
Chƣơng 1: Tình hình thế giới và Việt Nam trong những năm đầu sau
chiến tranh lạnh
Trong chƣơng 1, tác giả đề cập đến tình hình thế giới, khu vực và trong
nƣớc trong những năm đầu sau chiến tranh lạnh, đặc biệt là những biến động của
tình hình thế giới, sự sụp đổ của hệ thống XHCN ở Liên Xô và Đông Âu và
những tác động trực tiếp của nó tới tình hình Việt Nam. Chƣơng 2: Chính sách hội nhập quốc tế từ năm 1995 đến nay: Nội
dung và những kết quả đạt đƣợc.
Chƣơng này tác giả đề cập tới những nội dung cơ bản của chính sách hội
nhập quốc tế của Việt Nam đƣợc đề ra qua các kỳ Đại hội Đảng trong giai đoạn
từ năm 1995 đến nay. Những thành công trong việc triển khai chính sách hội nhập
quốc tế của Đảng và Nhà nƣớc ta đƣợc tác giả minh hoạ qua những kết quả đạt đƣợc
trong việc mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Chƣơng 3: Hệ quả, kinh nghiệm, cơ hội và thách thức trên tiến trình
hội nhập quốc tế.
Chƣơng này tác giả nêu lên những hệ quả của việc hội nhập quốc tế, rút ra
những kinh nghiệm, dự báo những cơ hội và thách thức trên tiến trình hội nhập
quốc tế của Việt Nam trong thời gian tới.
cấp, khép kín dẫn đến việc những nƣớc này ngày càng tụt hậu về kinh tế, khoa
học và công nghệ so với các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa. Bên cạnh đó, những rối ren
về chính trị, mâu thuẫn và xung đột giữa các dân tộc dẫn đến hiện tƣợng ly khai
của một số nƣớc cộng hòa ra khỏi Liên bang Xô viết. Về đối ngoại, Liên Xô thực
hiện rút quân chiến lƣợc, rút quân đội khỏi các căn cứ quân sự ở nƣớc ngoài,
giảm hoặc cắt viện trợ quân sự, giải thể khối quân sự Vácxava, tăng cƣờng chính
sách hoà hoãn với Mỹ. Tình hình đó cũng thúc đẩy các nƣớc XHCN ở Đông Âu
đi vào cải cách. Tuy vậy, cũng nhƣ Liên Xô, tình hình ở các nƣớc XHCN ở Đông
Âu rơi vào những khủng hoảng về kinh tế, chính trị, xã hội và cùng trên bờ vực
của sự tan rã. Bên cạnh đó, các nƣớc đế quốc đã chớp lấy cơ hội này tăng cƣờng
hoạt động “diễn biến hoà bình”, khuyến khích các lực lƣợng chống đối gây bạo
loạn và lật đổ chế độ.
Sau khi Liên Xô và chế độ XHCN ở các nƣớc Đông Âu tan rã, chủ nghĩa
xã hội và phong trào cách mạng thế giới tạm thời lâm vào thoái trào. Tƣơng
quan lực lƣợng trên thế giới tạm thời có lợi cho Mỹ và các nƣớc tƣ bản
phƣơng Tây, chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự thế giới hai cực không còn nữa.
Thay vào đó là một trật tự thế giới mới đang hình thành.
Chiến tranh lạnh kết thúc, “hoà bình, ổn định và hợp tác để phát triển ngày
càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và quốc gia trên thế giới” [19,
tr.464]. Quan hệ giữa các quốc gia từ đối đầu chuyển sang đối thoại, các quốc gia
quan tâm tới việc cải thiện các mối quan hệ, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, “các
quốc gia lớn, nhỏ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác và liên kết khu
vực, liên kết quốc tế, thƣơng mại và nhiều lĩnh vực hoạt động khác” [19, tr.464].
Vừa hợp tác vừa đấu tranh trong cùng tồn tại hòa bình là một nhu cầu khách
quan; tăng cƣờng hội nhập và hợp tác quốc tế, chạy đua vũ trang đƣợc thay thế
bằng chạy đua về kinh tế, khoa học – kỹ thuật tiếp tục đƣợc nghiên cứu và phát
triển, các nƣớc “coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng
cƣờng sức mạnh tổng hợp của quốc gia” [19, tr.464] và ngày càng đóng vai trò
quan trọng trong quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, ở nhiều nơi trên thế giới vẫn xảy ra
những cuộc “xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột về dân tộc, sắc tộc
gia những cơ hội để phát triển. Tuy nhiên, tuỳ điều kiện cụ thể của mỗi quốc
gia cũng nhƣ tận dụng cơ hội khác nhau mà dẫn đến sự phát triển khác nhau.
Bên cạnh đó, các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa và các công ty đa quốc gia có ƣu thế về
vốn, công nghệ, thị trƣờng cho nên có lợi thế lớn hơn rất nhiều so với các nƣớc
chậm phát triển và đang phát triển, chênh lệch giầu nghèo giữa các nƣớc này cũng
sẽ ngày càng mở rộng.
Với nền kinh tế toàn cầu, việc tổ chức sản xuất và khai thác thị trƣờng
trong phạm vi một nƣớc đã nhanh chóng chuyển sang tổ chức sản xuất và khai
thác thị trƣờng trên phạm vi thế giới và theo đó, sự phát triển kinh tế của bất kỳ
quốc gia nào cũng có những ảnh hƣởng nhất định đến thị trƣờng chung trên
thế giới.
Cùng với quá trình toàn cầu hóa, là quá trình khu vực hóa. Sự xuất hiện
ngày càng nhiều các tổ chức khu vực, liên khu vực đã thu hút các quốc gia tham
gia, có thể kể đến một số tổ chức: Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA),
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) …
Các liên kết khu vực này lúc đầu xuất phát từ các nhu cầu về phát triển kinh tế
nhƣng sau đó tiến dần tới những liên kết về chính trị. Sự liên kết khu vực thƣờng
thể hiện ở năm cấp độ khác nhau từ ƣu đãi thƣơng mại, thị trƣờng tự do, liên
minh quan thuế, thị trƣờng chung và cuối cùng là các “liên kết đa diện kiểu Liên
minh châu Âu - về cả thị trƣờng lẫn chính sách kinh tế, đồng tiền chung, quốc hội
chung Các tổ chức khu vực còn có một đặc điểm nữa đó là khả năng thu hút
đƣợc cả những quốc gia có chế độ chính trị khác nhau nhằm tận dụng khả năng
của nhau, đồng thời các quốc gia ngày nay cũng xác định cần phải dựa vào
nhau bởi khó có khả năng độc lập để giải quyết công việc.
Trong bối cảnh đó, các nƣớc vừa và nhỏ cũng điều chỉnh chính sách đối
ngoại để tạo vị thế có lợi hoặc ít bất lợi nhất trong môi trƣờng quốc tế đã thay đổi.
Chiều hƣớng chung là thi hành chính sách đối ngoại theo hƣớng đa dạng hóa, tập
hợp trên cơ sở lợi ích song trùng, coi trọng việc cải thiện và phát triển quan hệ với
các nƣớc láng giềng và khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ với các nƣớc lớn và
các trung tâm chính trị - kinh tế trên thế giới
hợp tác để phát triển. Sƣ hợp tác ngày càng tăng ở nhiều tầng nhiều nấc và dƣới
nhiều hình thức nhằm tăng cƣờng sự trao đổi thông tin, và cùng nhau xây dựng
một diễn đàn để đóng góp ý kiến và cùng nhau hợp tác có hiệu quả nhằm thúc đẩy
sự phát triển của nền kinh tế mỗi nƣớc thành viên và trong khu vực nhƣ: Tổ chức
hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dƣơng; khu vực thƣơng mại tự do ASEAN
(AFTA), Hiệp hội các nƣớc khu vực Nam Á (SAARC)… cùng một loạt các tam
giác, tứ giác phát triển khác ra đời. Các quốc gia trong khu vực đều có lợi ích
muốn mở rộng thị trƣờng, phối hợp các nguồn nhân lực, tài lực, kết cấu hạ tầng
và các nguồn tài nguyên trong khả năng sẵn có và điều kiện của từng quốc gia,
từng vùng lãnh thổ cho phép. Các nƣớc đều điều chỉnh chiến lƣợc phát triển kinh
tế – xã hội và chiến lƣợc đối ngoại của mình cho phù hợp các xu thế chung đang
diễn ra mạnh mẽ trên thế giới. Quan hệ giữa các nƣớc lớn trong khu vực tuy còn
một số trục trặc song nhìn chung vẫn nằm trong khuôn khổ vừa hợp tác, vừa đấu
tranh, kiềm chế lẫn nhau, nhƣng tránh đối đầu.
Sau sự chấm dứt của cuộc chiến tranh lạnh, tình hình Châu Á nói chung và
Đông Nam Á nói riêng đã có những thay đổi tích cực. Các quốc gia trong khu vực
đều thay đổi cái nhìn về nhau và cùng nhau hƣớng tới sự hợp tác và hội nhập hoà
bình, hữu nghị, quan hệ giữa các nƣớc chuyển từ đối đầu sang đối thoại, đặc biệt
là sau khi chúng ta có những bƣớc đi thích hợp trong việc giải quyết vấn đề
Campuchia, nó đã giải toả những nghi kỵ của các nƣớc ASEAN đối với Việt
Nam. Các nƣớc trong khu vực Đông Nam Á nỗ lực cải thiện từng bƣớc mối quan
hệ, tạo lập lòng tin và thúc đẩy hợp tác mọi mặt nhằm hiện thực hóa ý tƣởng
biến Đông Nam Á thành khu vực phi vũ khí hạt nhân, thống nhất trong đa
dạng, hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển, có quan hệ hữu nghị và hợp
tác với tất các các nƣớc ngoài khu vực.
Cùng với đà biến chuyển tích cực của tình hình, các nƣớc Đông Nam Á đã
tranh thủ đƣợc lợi thế so sánh về vị trí địa lý, tài nguyên và con ngƣời, tăng cƣờng
đổi mới công nghệ, tranh thủ nguồn vốn và kĩ thuật bên ngoài để đẩy mạnh phát
triển kinh tế. Nền kinh tế của các nƣớc Đông Nam Á đang trong quá trình công
nghiệp hoá mạnh mẽ, đa dạng hoá và liên kết chặt chẽ với nhau, với các nền kinh
thành một khu vực hòa bình, ổn định, hợp tác” [3, tr.323].
Trong khi đó, giai đoạn những năm cuối thập kỷ 80 đầu 90 của thế kỷ XX,
thế giới đã có những thay đổi nhanh chóng làm đảo lộn mọi trật tự trong quan hệ
quốc tế. Việc hoạch định chính sách đối ngoại của Đảng ta trong giai đoạn này có
phần xa rời thực tế, chƣa đánh giá sát với những diễn biến bất lợi đối với phe
XHCN, trong khi những bất ổn trong lòng Liên Xô và các nƣớc XHCN ở Đông
Âu đang ngày càng sâu sắc.
Vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, Đảng và Nhà nƣớc ta cũng đã nhận
thức về sự biến chuyển trong xu thế của thế giới, đặt ra vấn đề mở cửa, thiết lập
quan hệ với thế giới bên ngoài nhằm cải thiện tình trạng bị bao vây, cô lập. Xu
thế hoà hoãn trong quan hệ quốc tế, quá trình quốc tế hoá các lực lƣợng sản xuất
và hợp tác kinh tế giữa các quốc gia không phân biệt hệ tƣ tƣởng và chế độ chính
trị đang diễn ra mạnh mẽ đã dẫn đến sự đổi mới trong tƣ duy của Đảng ta về mối
quan hệ giữa lợi ích quốc gia và nghĩa vụ quốc tế, giữa an ninh và phát triển, giữa
hợp tác và đấu tranh để tận dụng nội lực và tranh thủ tối đa sức mạnh của thời đại
vì mục tiêu phát triển của đất nƣớc. Đó chính là đổi mới tƣ duy đối ngoại rõ rệt
nhất của Đảng ta trong Đại hội VI nhằm thực hiện hai nhiệm vụ chiến lƣợc là xây
dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa: “ra sức kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại
tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và
bảo vệ Tổ quốc”[19, tr. 104].
Trong quá trình hoạch định chính sách đối ngoại của Đảng tại Đại hội lần
thứ VI, Đảng ta đã tiếp tục khẳng định mối quan hệ đặc biệt giữa ba nƣớc Đông
Dƣơng, tăng cƣờng đoàn kết với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, ủng hộ
phong trào giải phóng dân tộc và Phong trào Không liên kết, kiên trì thực hiện
chính sách đối ngoại hoà bình và hữu nghị với các nƣớc không phân biệt chế độ
chính trị, góp phần xây dựng khu vực Đông Nam Á thành khu vực hoà bình và hợp
tác. Đảng ta mong muốn “đi tới một giải pháp chính trị đúng đắn về Campuchia”
[19, tr. 114]. Đại hội cũng khẳng định chủ trƣơng “sẵn sàng đàm phán với Trung
Quốc bất cứ lúc nào, bất cứ cấp nào và bất cứ ở đâu nhằm bình thƣờng hóa quan hệ
về quan điểm bạn thù cơ bản sát với tình hình thực tế từ năm 1988 đến nay. Nghị
quyết 13 của Bộ Chính trị tháng 5 năm 1988 là điểm nhấn quan trọng trong việc
đổi mới tƣ duy nhận thức về các vấn đề quốc tế và đối ngoại của Đảng ta, đặt nền
móng cho việc giải quyết các vấn đề liên quan đến chính sách phá thế bị bao vây,
cô lập, từng bƣớc hội nhập quốc tế của Việt Nam. “Đây có thể coi là bƣớc chuyển
biến chiến lƣợc đối ngoại cơ bản của Việt Nam”[22, tr. 30 - 38] kể từ sau năm
1975. Nghị quyết đã giải đáp kịp thời một loạt quan điểm về chiến tranh và hoà
bình, an ninh và phát triển, về mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng và mở
rộng hợp tác quốc tế, giữa yếu tố dân tộc và yếu tố quốc tế, về làm nghĩa vụ quốc
tế, đoàn kết quốc tế, quan hệ đồng minh trong tình hình mới.
Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6/1991) diễn ra trong bối
cảnh tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến phức tạp và nhanh chóng.
Tháng 12/1989, lãnh đạo cấp cao Xô - Mỹ đã gặp nhau tại Manta và cùng đƣa ra
tuyên bố chấm dứt tình trạng chiến tranh lạnh kéo dài hơn bốn thập kỷ, trật tự thế
giới hai cực không còn nữa. Cũng trong thời gian này, chế độ chủ nghĩa xã hội ở
một loạt các nƣớc Đông Âu lần lƣợt sụp đổ. Tình hình ở Liên Xô thì cũng không
khá hơn, cuộc khủng hoảng trong nƣớc ngày càng trầm trọng, vai trò của Đảng
Cộng sản Liên Xô ngày càng bị suy giảm, khó kiểm soát đƣợc tình hình trong
nƣớc. Cách mạng thế giới lâm vào thoái trào.
Trƣớc những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, Đại hội VII của
Đảng đề ra yêu cầu “cần nhạy bén nhận thức và dự báo đƣợc những diễn biến
phức tạp và thay đổi sâu sắc trong quan hệ quốc tế…” [19, tr. 294]. Trong quan
hệ quốc tế, đánh giá đúng tình hình và dự đoán đƣợc diễn biến của tình hình thế
giới là một yếu tố quan trọng góp phần thực hiện thắng lợi chính sách đối ngoại.
Đại hội đề ra chủ trƣơng “hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các
nƣớc, không phân biệt chế độ chính trị – xã hội khác nhau trên cơ sở các nguyên
tắc cùng tồn tại hoà bình” [19, tr. 294].
Việc triển khai chính sách đối ngoại đổi mới đƣợc đề ra từ năm 1986 và
đƣợc điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với tình hình thế giới và từng đối tƣợng cụ
thể. Nhờ đó mà chúng ta đã dần phá thế bị bao vây, cấm vận, bƣớc đầu khắc phục
bộ quân tình nguyện Việt Nam đã rút khỏi Campuchia về nƣớc. Điều đó đã tạo
đƣợc sự tin tƣởng đối với cộng đồng quốc tế, góp phần thúc đẩy hoà bình trên bán
đảo Đông Dƣơng, phá thế bao vây cấm vận của các thế lực thù địch đối với Việt
Nam.
Bình thƣờng hoá quan hệ với Trung Quốc
Sau khi giải quyết tốt vấn đề Campuchia, việc bình thƣờng hóa quan hệ
giữa Việt Nam và Trung Quốc đã có thể khai thông và có những tiến triển tích
cực. Vấn đề Campuchia luôn đƣợc Trung Quốc coi là trở ngại lớn trong việc đàm
phán bình thƣờng hoá quan hệ giữa hai nƣớc.Trong quá trình đàm phán bình
thƣờng hóa quan hệ, phía Trung Quốc đã đƣa ra lập trƣờng 8 điểm, trong đó có
nêu: “…Bất cứ bên nào đều không đóng quân ở nƣớc ngoài, quân đội đã đóng ở
nƣớc ngoài phải rút về nƣớc mình…” [33, tr. 197].
Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam kiên trì chủ trƣơng sẵn sàng đàm phán với
Trung Quốc nhằm từng bƣớc tiến tới bình thƣờng hoá giữa hai nƣớc trên tinh thần
bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
Quá trình tiến tới bình thƣờng hóa của hai nƣớc đƣợc thể hiện qua những
hành động cụ thể. Năm 1988, Việt Nam đã sửa Lời nói đầu trong Hiến pháp, đề
nghị hai bên chấm dứt hoạt động vũ trang tại biên giới đất liền và hải đảo…,bố trí
lại quân đội dọc theo biên giới giữa hai nƣớc nhằm không đe doạ tới an ninh
quốc gia; tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dan hai bên biên giới thăm viếng
lẫn nhau.
Đáp ứng thiện chí của phía Việt Nam, ngày 12/8/1990, Thủ tƣớng Quốc vụ
viện Trung Quốc Lý Bằng tuyên bố: “Trung Quốc hy vọng cuối cùng sẽ bình
thƣờng hóa với Việt Nam và thảo luận các vấn đề nhƣ cuộc tranh chấp quần đảo
Trƣờng Sa” [33, tr.208]. Một ngày sau, Chủ tịch Hội đồng Bộ trƣởng Đỗ Mƣời
hoan nghênh tuyên bố trên của Thủ tƣớng Lý Bằng và khẳng định Việt Nam “sẵn
sàng bình thƣờng hóa quan hệ với Trung Quốc và giải quyết các vấn đề giữa hai
nƣớc bằng thƣơng lƣợng hòa bình” [3, tr.344]. Đồng thời, phía Việt Nam đề nghị
tổ chức cuộc gặp cấp cao giữa hai nƣớc nhằm thảo luận việc bình thƣờng hóa
quan hệ và các vấn đề liên quan.
Á, đồng thời bày tỏ mong muốn sẵn sàng cùng các nƣớc trong khu vực thƣơng
lƣợng để giải quyết các vấn đề ở Đông Nam Á, trong đó chủ yếu là vấn đề
Campuchia. Chính vì vậy, sau khi vấn đề Campuchia đƣợc giải quyết, quan hệ
giữa Việt Nam với từng nƣớc Đông Nam Á cũng nhƣ với tổ chức ASEAN từng
bƣớc đƣợc cải thiện và phát triển theo chiều hƣớng đối thoại, hợp tác và cùng giải
quyết các trở ngại để Việt Nam sớm gia nhập ASEAN. Đại hội lần thứ VII của
Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố chính sách mới về Đông Nam Á: “với các
nƣớc Đông Nam Á, chúng ta chủ trƣơng mở rộng quan hệ nhiều mặt theo nguyên
tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào nội bộ của nhau, hai bên
cùng có lợi”[14, tr. 40].