ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ DIỆU LINH
HỢP TÁC QUỐC TẾ TIỂU VÙNG
MEKONG MỞ RỘNG
VÀ SỰ THAM GIA CỦA VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Hà Nội - 2012
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC BẢNG BIỂU 7
DANH MỤC HÌNH 7
MỞ ĐẦU 8
CHƯƠNG 1: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỢP TÁC QUỐC
TẾ TIỂU VÙNG MEKONG MỞ RỘNG 13
1.1 Một số đặc điểm chính của Tiểu vùng 13
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên 13
1.1.2 Đặc điểm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội 15
1.2 Sự hình thành và phát triển của hợp tác quốc tế GMS 17
1.2.1 Nhu cầu và lợi ích hợp tác của các bên 17
1.2.2 Xu thế toàn cầu hóa và hợp tác hội nhập khu vực 19
1.2.3 Quá trình hình thành và phát triển của hợp tác quốc tế GMS 24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỢP TÁC QUỐC TẾ TIỂU VÙNG
MEKONG MỞ RỘNG VÀ SỰ THAM GIA CỦA VIỆT NAM 38
2.1 Thực trạng hợp tác quốc tế Tiểu vùng Mekong mở rộng 38
2.1.1 Thực trạng hợp tác quốc tế Tiểu vùng 38
2.1.2 Quan điểm, chính sách và sự hợp tác của các nước lớn đối với
Tiểu vùng 51
2.1.3 Thành tựu và hạn chế trong hợp tác quốc tế Tiểu vùng 61
2.2 Sự tham gia của Việt Nam trong hợp tác quốc tế GMS 71
3
2.2.1 Tầm quan trọng của hợp tác Tiểu vùng đối với Việt Nam 71
2.2.2 Khả năng hợp tác Tiểu vùng của Việt Nam 72
2.2.3 Sự tham gia của Việt Nam trong hợp tác Tiểu vùng 74
2.2.4 Hạn chế của Việt Nam trong hợp tác Tiểu vùng 82
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM
5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB : Asian Development Bank
Ngân hàng Phát triển Châu Á
AMBDC : Mekong Basin Development Cooperation
Diễn đàn hợp tác phát triển châu thổ sông Mekong
BCI : Biodiversity Conservation Corridors Initiative
Sáng kiến hành lang bảo tồn đa dạng sinh học
CBTA : The Cross-Border Transport Agreement
Hiệp định Giao thông xuyên biên giới
CEP : Core Environment Program
Chương trình Môi trường nòng cốt
EU : European Union
Liên minh Châu Âu
EWEC : East West Economic Corridor 7
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Các sáng kiến hợp tác khu vực các nước GMS tham gia 69
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Bản đồ dòng chảy sông Mekong 14
Hình 1.2 Bản đồ Tiểu vùng Mekong mở rộng 32
Hình 2.1 Các Hành lang kinh tế GMS 39
Hình 2.2 Tổng thương mại xuất nhập khẩu các nước GMS giai đoạn 2000-200961 8
hết sức cần thiết. Với tư cách là một thành viên của GMS, Việt Nam ngày càng có
vai trò quan trọng và đang tích cực thực hiện các thỏa thuận hợp tác quốc tế trong
9
Tiểu vùng. Vậy, sự tham gia của Việt Nam vào hợp tác quốc tế GMS như thế nào?
Lựa chọn các giải pháp nào để hợp tác mang lại hiệu quả cao nhất? Đây là những
vấn đề rất cấp thiết đòi hỏi phải có sự nghiên cứu đầy đủ. Xuất phát từ thực tế và sự
cần thiết phải làm rõ một số nội dung đang đặt ra nói trên, từ cách tiếp cận của khoa
học quan hệ quốc tế, tác giả đã lựa chọn chủ đề nghiên cứu của luận văn: “Hợp tác
quốc tế Tiểu vùng Mekong mở rộng và sự tham gia của Việt Nam”.
2. Tình hình nghiên cứu
Sáng kiến Hợp tác GMS được đánh giá là một trong những dự án hợp tác
khu vực đạt được nhiều thành công nhất so với những dự án cùng thời kỳ. Sự ra đời
và phát triển của GMS đã nhận được sự quan tâm không chỉ từ lãnh đạo các nước
trong vùng, các đối tác lớn của khu vực và thế giới mà còn của các nhà nghiên cứu,
các học giả trong và ngoài GMS.
Nhiều công trình nghiên cứu chung về GMS như: Hành lang kinh tế Đông-
Tây, nghiên cứu về Kế hoạch tổng thể phát triển du lịch Tiểu vùng, nghiên cứu các
chiến lược cho các lĩnh vực hợp tác Tiểu vùng như giao thông, điện, môi trường, du
lịch… đã làm rõ những tiềm năng, cơ hội và nội dung hợp tác trong khu vực. Ngoài
ra, các nhà nghiên cứu trong khu vực và quốc tế đã đóng góp nhiều sáng kiến có giá
trị thông qua các cuộc hội thảo quốc tế về GMS như: Hội thảo quốc tế do ADB tổ
chức tại Nhật Bản, Mianma, Thái Lan, Trung Quốc…
Đặc biệt nội dung hợp tác quốc tế là một chủ đề luôn thu hút sự quan tâm của
các học giả trong và ngoài nước. Điều này thể hiện qua các công trình đã được công
bố ở nước ngoài và ở Việt Nam.
Ở nước ngoài:
Các hướng nghiên cứu chính tập trung vào việc phân tích tình hình chính trị,
kinh tế của từng nước trong bối cảnh riêng và các tác động đến kế hoạch phát triển
kinh tế khu vực thông qua Tiểu vùng Mekong mở rộng.
11
PGS.TS. Đỗ Tiến Sâm “Trung Quốc với việc tham gia Hợp tác Tiểu vùng Mekong
mở rộng” năm 2005.
Mặc dù hợp tác GMS đã được quan tâm và nghiên cứu khá sâu sắc ở một số
lĩnh vực, song xem xét đánh giá một cách toàn diện hợp tác quốc tế và nhất là sự
tham gia của Việt Nam, đặc biệt là thời gian gần đây, vẫn còn thiếu vắng các công
trình nghiên cứu sâu sắc và toàn diện. Trong bối cảnh mới của quốc tế và khu vực
đã và đang có nhiều biến đổi khá bất ngờ, rất cần có các nghiên cứu cập nhật về
GMS nói chung, hợp tác quốc tế nói riêng. Vì thế, việc đi sâu tìm hiểu phân tích nội
dung này là hết sức cần thiết không chỉ về lý luận mà còn có ý nghĩa thực tế, nhất là
đối với Việt Nam .
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1 Mục đích
Trên cơ sở phân tích sự phát triển của Tiểu vùng Mekong mở rộng, luận văn
cố gắng làm rõ thực trạng hợp tác quốc tế của khu vực này và sự tham gia của Việt
Nam trong GMS hiện nay và trong thời gian tới.
3.2 Nhiệm vụ
- Làm rõ sự phát triển của hợp tác quốc tế Tiểu vùng Mekong mở rộng trong
thời gian qua.
- Đánh giá kết quả và hạn chế của Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết
hợp tác Tiểu vùng.
- Đề xuất các định hướng và giải pháp về phát triển hợp tác Tiểu vùng nói
chung, của Việt Nam nói riêng trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Phân tích thực trạng hợp tác quốc tế trong Tiểu vùng Mekong mở rộng trên
các lĩnh vực, hình thức cụ thể và sự tham gia của Việt Nam.
12
1.1 Một số đặc điểm chính của Tiểu vùng
Tiểu vùng Mekong mở rộng là một vùng đất có nguồn tài nguyên thiên nhiên
dồi dào, nhiều điều kiện thuận lợi, nền văn hóa đặc sắc và đa dạng. Điều đó thể hiện
ở một số đặc điểm nổi bật sau:
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Tiểu vùng Mekong mở rộng (GMS) là một vùng lãnh thổ rộng lớn bao gồm 5
nước Mianma, Lào, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam và hai tỉnh Vân Nam, Quảng
Tây (Trung Quốc) với tổng diện tích khoảng 2,6 triệu km
2
, dân số trên 300 triệu
người [18]; có hai đại dương lớn là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương bao bọc ba
mặt. Với vị trí địa lý này, GMS có vị trí tiếp nối cả ba khu vực Đông Nam Á-Đông
Bắc Á-Nam Á, có vai trò kết nối ba khu vực này trong không gian hội nhập liên kết
kinh tế và quan hệ hợp tác khu vực nhiều quy mô cấp độ. GMS nằm giữa những
vùng năng động, phát triển và mới nổi lên hiện nay.
Các quốc gia và lãnh thổ trong GMS có chung dòng sông Mekong tiếp giáp
hoặc chảy qua. Sông Mekong có chiều dài khoảng 4.880 km
2
, tổng diện tích lưu vực
795.000 km
2
, là một trong những dòng sông lớn nhất Châu Á và thế giới [18]; Khởi
nguồn từ cao nguyên Tây Tạng (Trung Quốc), chảy theo hướng Bắc-Nam, đổ ra
biển Đông qua các đồng bằng châu thổ Nam Bộ của Việt Nam. Hệ thống sông suối
dày đặc và nhiều dòng sông lớn chảy liên quốc gia, độ dốc lớn. Dòng sông với trữ
lượng tài nguyên nước lớn nhất trong khu vực mang đến cho GMS tài nguyên nước
và đa dạng sinh học phục vụ cho việc phát triển kinh tế như nông-lâm nghiệp, thủy
điện, giao thông vận tải và du lịch. Đây là nguồn lực tài nguyên xuyên biên giới tác
động trực tiếp đến môi trường và sự phát triển của các quốc gia khu vực Tiểu vùng
Mekong mở rộng.
đầu tư trực tiếp của nước ngoài và xuất khẩu lao động. Đây là một nhân tố quan
trọng tạo tăng trưởng kinh tế cao liên tục của nhiều nền kinh tế trong thời kỳ cải
cách kinh tế phát triển thị trường tự do cạnh tranh và hội nhập. Đây cũng là một lực
lượng lao động dự bị hùng hậu dành cho các doanh nghiệp mới và đang mở rộng.
Đây là khu vực có nhiều cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử-văn hóa được
công nhận là di sản thế giới. Về văn hóa, mặc dù cùng chịu ảnh hưởng của hai nền
văn hóa lớn liền kề là văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ nhưng trong quá trình phát
triển, mỗi nước đều có một bản sắc dân tộc riêng. Chính điều này đã tạo cho tiểu
khu vực sự đa dạng về văn hóa nhưng vẫn có những điểm tương đồng nhất định.
Về kinh tế, các nền kinh tế và chính sách phát triển kinh tế của các quốc gia
thuộc Tiểu vùng Mekong đã và đang chuyển đổi theo cơ chế kinh tế thị trường tự
do, hướng ngoại hội nhập với những mức độ khác nhau. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
phát triển kinh tế hàng hóa và dịch vụ, tăng tỷ trọng kinh tế công nghiệp và dịch vụ,
giảm tỷ trọng kinh tế nông nghiệp trong GDP, thu hút đầu tư nước ngoài là kết quả
16
nổi bật ở các nước này trong quá trình cải cách mở cửa. Tuy vậy, sản xuất nông
nghiệp vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn trong GDP ở Tiểu vùng Mekong. Kinh tế đối
ngoại phát triển theo hướng gắn kết thị trường ngoài nước, từng bước hạn chế tình
trạng nhập siêu. Các nước GMS có giá trị trao đổi thương mại tiểu ngạch tăng
nhanh, mậu dịch biên giới có xu hướng chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị ngoại
thương song phương giữa các nước ở Tiểu vùng.
Về chủng tộc, lưu vực Mekong là một vùng đa sắc tộc. Từ thượng nguồn
xuống tới bờ biển có hàng trăm tộc người sinh sống với sự đa dạng về văn hóa như
ngôn ngữ, kiến thức, tôn giáo, phong tục tập quán khác nhau hết sức phong phú.
Về tôn giáo, Mekong là một miền đất đa dạng tín ngưỡng bao gồm các tôn
giáo lớn như đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Hồi và hàng trăm tín ngưỡng dân gian
khác nhau. Tuy nhiên, tôn giáo phổ biến nhất trên phương diện cư dân và lãnh thổ
chính là đạo Phật.
Về kiến trúc, có sự đa dạng kiến trúc, có một số công trình kiến trúc được
thuộc lẫn nhau.
1.2 Sự hình thành và phát triển của hợp tác quốc tế GMS
Hợp tác quốc tế là sự phối hợp hòa bình giữa các chủ thể quan hệ quốc tế
(QHQT) nhằm thực hiện các mục đích chung. Hợp tác đang là một trong những xu
hướng quan trọng nhất trong QHQT thế giới hiện nay. Xu hướng này tác động lên
mọi quốc gia và thế giới. Hợp tác giữa các quốc gia trong lưu vực sông Mekong
cũng không đi lệch xu hướng này.
1.2.1 Nhu cầu và lợi ích hợp tác của các bên
Hội nhập toàn cầu và khu vực là xu thế khách quan, là quá trình mà hầu hết
tất cả các khu vực, tiểu khu vực, các quốc gia trên toàn thế giới đều tham gia. Các
quốc gia GMS đều nhận thức được việc tăng cường và mở rộng quan hệ hợp tác với
các nước trong Tiểu vùng sẽ đem lại các lợi ích chung về nhiều mặt như an ninh,
chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Việc tăng cường hợp tác với các nước trong
18
khu vực sẽ góp phần đảm bảo môi trường ổn định, tạo điều kiện thuận lợi để phát
triển về mặt kinh tế.
Tăng cường hợp tác với các nước láng giềng góp phần đảm bảo môi trường
ổn định trong khu vực. Quá trình tham gia hợp tác cũng chính là cách để mỗi nước
từng bước tiếp cận và nâng cao vị thế đất nước trong khu vực và trên trường quốc
tế. Các quốc gia sẽ có thể cùng nhau giải quyết các vấn đề chung của khu vực, liên
quan đến nhiều nước trong Tiểu vùng, như vấn đề tội phạm xuyên quốc gia, khủng
bố quốc tế, các hình thức buôn bán bất hợp pháp qua biên giới, Để có thể giải
quyết các vấn đề này bắt buộc toàn bộ quốc gia trong Tiểu vùng cần bắt tay liên kết
hợp tác.
Hội nhập Tiểu vùng GMS là hết sức cần thiết để phát triển nền kinh tế của
từng quốc gia. Ngày nay, một quốc gia không thể chỉ dựa vào nội lực để phát triển
kinh tế do nguồn lực của từng nước chỉ có hạn và không toàn diện. Các nước GMS
tuy có nhiều đặc điểm tương đồng song cũng có nhiều nét đặc thù riêng về địa hình,
đất đai, tài nguyên, điều kiện khí hậu, văn hóa, xã hội và lịch sử Do vậy, mỗi nước
chí và vai trò quyết định của Chính phủ các nước GMS. Các nước GMS nhận định
rằng thúc đẩy tăng trưởng, xóa đói giảm nghèo và phát triển GMS thành một khu
vực phồn thịnh và thịnh vượng là yêu cầu thực tế của Chính phủ và nhân dân các
nước GMS.
1.2.2 Xu thế toàn cầu hóa và hợp tác hội nhập khu vực
1.2.2.1 Sự thay đổi cục diện chính trị và xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế thế
giới
Đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, thế giới bước sang thời kỳ mới với diện mạo
mới. Đây là kết quả của sự thay đổi cục diện chính trị toàn cầu và xu thế toàn cầu
hóa kinh tế mạnh mẽ. Chiến tranh lạnh kết thúc, từ thế giới “hai cực” trở thành thế
giới “nhất siêu đa cường”. Mỹ nổi lên là một siêu cường mạnh nhất so với các
cường quốc khác. Tuy nhiên, ảnh hưởng của Mỹ bị cạnh tranh mạnh mẽ bởi sự
vươn lên của các cường quốc khác như Nhật Bản, Tây Âu, Nga, Trung Quốc, Xu
20
thế phát triển của trật tự thế giới tiến tới một hệ thống đa cực, trong đó các quốc gia
phụ thuộc lẫn nhau để cùng phát triển.
Trong bối cảnh đó, kinh tế trở thành nhân tố quyết định cho sức mạnh tổng
hợp của các quốc gia. Làn sóng tập hợp các quốc gia trong các tổ chức khu vực địa
lý, từ tiểu khu vực đến đại khu vực thành những khu vực mậu dịch tự do đang diễn
ra dồn dập ở khắp các châu lục. Việc liên kết các quốc gia có cùng vị trí địa lý, trình
độ phát triển kinh tế và sự tương đồng về văn hóa, hình thành một “siêu nhà nước”
như EU, hay tạo dựng các khu vực mậu dịch tự do như NAFTA, AFTA, hay ở
phạm vi nhỏ hơn là hợp tác kinh tế tiểu khu vực mà điển hình là các tam giác tăng
trưởng ở ASEAN đang thành một hướng đi chủ đạo của các nước. Khu vực Đông
Nam Á cũng không nằm ngoài xu thế này.
Các nước trong khu vực Đông Nam Á đều nỗ lực kiến tạo môi trường chính
trị thuận lợi, coi trọng mở cửa hợp tác và xác định cơ sở hợp tác là duy trì hòa bình
và ổn định khu vực. Sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch-tập trung sang nền kinh
tế thị trường ở một số nước như Việt Nam và Lào đã đạt được những kết quả tích
chỉ là một thỏa thuận khu vực xuyên qua nhiều lục địa không mang tính pháp lý
nhằm thúc đẩy tiến trình tự do hóa như APEC. Đó là dàn xếp khu vực ở quy mô nhỏ
hơn với nhiều yếu tố đồng nhất nhằm xây dựng khu vực mậu dịch tự do như
NAFTA, AFTA,
Toàn cầu hóa kinh tế trong những năm gần đây không những không thay thế,
mà còn thúc đẩy mạnh mẽ quá trình khu vực hóa. Hơn thế nữa, một số quốc gia
đang phát triển đã tìm cách vượt qua những thách thức của toàn cầu hóa kinh tế
bằng cách đẩy mạnh hợp tác song phương và đa phương với các nước láng giềng,
khu vực. Các liên kết thương mại khu vực là cơ chế hợp tác phổ biến giữa các quốc
gia, tồn tại một cách khách quan bên cạnh hệ thống thương mại đa phương của
WTO. Ngay cả khi WTO được thiết lập vào năm 1995, cùng với sự chuyển biến căn
bản về quy định và các mức độ cam kết thì xu hướng liên kết khu vực không những
không suy giảm mà lại được phát triển với mức độ cao hơn cả về mức độ cam kết,
phạm vi, lĩnh vực và thời gian hoàn thành. Nhiều quốc gia trên thế giới đã chuyển
22
trọng tâm vào xây dựng các liên kết thương mại tự do song phương và khu vực
(RTA/BFTA). Tính đến tháng 1/2005, có 312 hiệp định thương mại khu vực RTA
được các nước thành viên thông báo tới GATT/WTO, trong đó 170 RTA còn hiệu
lực. Đến tháng 12/2006, đã có thêm 55 RTA được thông báo, nâng tổng số STA
được thông báo và còn hiệu lực lên 214. Tính trung bình mỗi năm trong hệ thống
WTO có 11 RTA hình thành, so với con số trung bình dưới 3 RTA trong hơn bốn
thập kỷ hiệu lực của GATT (1947-1994) là gấp hơn 3 lần. Tính đến tháng 8/2009,
toàn cầu có 171 RTA có hiệu lực và hiện nay giá trị trao đổi thương mại giữa các
thành viên đã chiếm trên 40% tổng giá trị thương mại toàn cầu [8].
1.2.2.3 Tác động của một số nhân tố khác
Liên minh Châu Âu EU
Cộng đồng Châu Âu (EC) mà sau này là Liên minh Châu Âu (EU) - là một ví
dụ thực tiễn điển hình, đầy thuyết phục về hội nhập kinh tế khu vực trong nền kinh
tế thế giới – đã thành công trong liên kết khu vực thông qua hình thành các hiệp
cần thiết và khách quan, góp phần giải quyết nhiều vấn đề đặc thù của khối
ASEAN. Hơn nữa, trên thực tế, trong nhiều năm qua, APEC chỉ có thể tạo ra khung
hợp tác chung cho các nước thành viên mà không có chương trình hợp tác riêng
dành cho các tiểu khu vực. Nên cần phải có tổ chức riêng của các nước Tiểu vùng
sông Mekong để có thể giải quyết các vấn đề đặc thù của Tiểu vùng GMS.
Hợp tác ASEAN
Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập ngày 8/8/1967,
đến nay gồm có 11 nước thành viên. ASEAN cam kết hợp tác bình đẳng giữa các
nước thành viên và đem lại lợi ích chung cho mọi quốc gia, góp phần xây dựng nền
tảng vững chắc cho hòa bình, ổn định và phồn vinh trên thế giới nói chung và ở khu
vực ASEAN nói riêng. Tuy nhiên, các nước thành viên GMS có những nét đặc thù
riêng mà nhiều nước thành viên khác của ASEAN không có điểm tương đồng, đó là
những cơ hội, thách thức và những khó khăn khách quan do quá trình toàn cầu hóa,
khu vực hóa và từ môi trường bên ngoài mang lại (vị trí địa lý, kinh tế-xã hội, mối
24
liên kết cơ sở hạ tầng như các hành lang giao thông, bưu chính viễn thông,…) Dựa
vào những đặc thù của mình, các nước GMS có khả năng xây dựng các hiệp định
chung mà chỉ mang lại lợi ích cho riêng các nước GMS chứ không có nhiều lợi ích
cho các nước khác.
Do vậy, việc hình thành GMS là khách quan, cần thiết, là nghĩa vụ và quyền
lợi của các nước GMS.
1.2.3 Quá trình hình thành và phát triển của hợp tác quốc tế GMS
Vào đầu những năm 90, tình hình kinh tế của các nước GMS chưa phát triển,
đứng trước hàng loạt thách thức như nghèo đói, cơ sở hạ tầng quốc gia hạn chế cả
về giao thông, năng lượng, viễn thông, sức khỏe và giáo dục, chính phủ các nước
GMS đã nhận thức được rằng chỉ có thông qua tăng cường hợp tác mới có thể cùng
nhau phát triển được. Bên cạnh đó, những lợi thế về nguồn nhân lực và tài nguyên
thiên nhiên đã tạo điều kiện cho GMS trở thành một trọng tâm phát triển mới của
Châu Á và nhận được sự quan tâm hỗ trợ của nhiều tổ chức quốc tế, trước hết là