ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ HƢƠNG GIANG
TÒA ÁN HÌNH SỰ QUỐC TẾ VÀ KHẢ NĂNG
GIA NHẬP CỦA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Mã số: 60 31 40 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hoàng Phước Hiệp Hà Nội - 2012
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ QUY CHẾ ROME VÀ TÒA ÁN HÌNH SỰ
QUỐC TẾ 10
1.1. Sự ra đời của Quy chế Rome và Tòa án Hình sự Quốc tế 10
1.2. Cơ cấu tổ chức của Tòa án Hình sự Quốc tế 14
1.3. Những tội ác thuộc quyền tài phán của Tòa án 17
1.4. Một số nguyên tắc chi phối thẩm quyền xét xử của Tòa 24
1.5. Những điều kiện tiên quyết cho việc thực hiện quyền xét xử của Tòa án
27
trang khu vực đã làm cho quyết tâm gìn giữ hoà bình, an ninh quốc tế và
trừng phạt, ngăn ngừa những tội ác gây đau thương, chết chóc trở thành khát
vọng cháy bỏng của nhân loại trong thế kỷ XX.
Việc thành lập Hội Quốc Liên sau Chiến tranh thế giới thứ nhất và Liên
Hợp Quốc sau Chiến tranh thế giới thứ hai có nhiệm vụ giữ gìn hoà bình, an
ninh quốc tế luôn được đi kèm với việc tổ chức các toà án quốc tế để xét xử
tội ác trong các cuộc chiến tranh. Từ những phiên toà không thành công sau
Thế chiến thứ nhất, Toà án Nuremberg và Tokyo sau Thế chiến thứ hai do các
quốc gia thắng trận lập nên, cũng như Toà án đặc biệt (ad hoc) dành cho Nam
Tư cũ và Rwanda do Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc thành lập, cho đến
những toà án do nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới tổ chức như Toà
án Bertrand Russell xét xử tội ác chiến tranh của Hoa Kỳ ở Việt Nam đều cho
thấy quyết tâm của cộng đồng quốc tế đưa thủ phạm gây những tội ác nói trên
ra trước công lý.
Một chặng đường dài của thế kỷ với bao đau thương và mất mát, ước
mơ của nhân loại đã trở thành hiện thực cùng với việc Quy chế Rome được ký
4
kết thành lập nên Toà án Hình sự Quốc tế (ICC) vào năm 1998 để xét xử
những cá nhân phạm các tội ác nghiêm trọng nhất đối với cộng đồng quốc tế,
cụ thể là tội ác diệt chủng, tội ác chống lại loài người, tội ác chiến tranh và tội
ác xâm lược. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một toà án hình sự quốc tế
thường trực được các quốc gia thành lập bằng một điều ước quốc tế, với vai
trò bổ sung cho hệ thống tư pháp quốc gia, có thẩm quyền xét xử các cá nhân
nhằm chấm dứt tình trạng bỏ sót tội phạm, đem lại công lý cho nạn nhân, góp
phần tăng cường hoà bình, ổn định trên thế giới.
Việc nghiên cứu các vấn đề pháp luật quốc tế trong điều kiện hiện nay
nói chung, Quy chế Rome nói riêng, đã được đề cập trong các văn kiện của
Đảng và Nhà nước ta. Nghị quyết số 48–NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005
của Bộ Chính trị đã nhấn mạnh việc tiếp tục ký kết, gia nhập các điều ươ
cung cấp các khoản viện trợ nhất định hoặc với việc gia nhập các tổ chức kinh
tế khác. Ngoài các lý do cần thiết nghiên cứu Quy chế Rome như đã nêu trên,
hiện nay, thông tin và kiến thức về Tòa án Hình sự Quốc tế của đông đảo
nhân dân Việt Nam nói chung, cán bộ pháp luật nói riêng còn hạn chế. Do đó
việc tìm hiểu các quy định pháp lý về Tòa án và vấn đề gia nhập của Việt
Nam là một vấn đề cấp thiết. Thông qua việc làm sáng tỏ các quy định về tổ
chức và hoạt động, những vấn đề pháp lý cơ bản, những lợi ích và hạn chế
của việc gia nhập Tòa án Hình sự Quốc tế, tác giả mong muốn góp phần làm
rõ thêm một số vấn đề pháp lý về việc gia nhập Tòa án trong tương lai.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tìm hiểu về vấn đề pháp lý của Toà án Hình sự Quốc tế là một đề tài có
tính chất thời sự trong giai đoạn hiện nay. Trên phạm vi quốc tế, đã có rất
nhiều công trình, đề tài khoa học nghiên cứu về vấn đề này. Mỗi công trình,
đề tài đều có một cách tiếp cận ở các góc độ khác nhau. Có thể kể tên một số
6
công trình nghiên cứu khoa học như: “Tại sao chúng ta cần Toà án Hình sự
Quốc tế” của tác giả Douglass Cassel; “Các vấn đề đặt ra từ Hội nghị Rome”
của tác giả Ruth Wedgwood; “Quyền tài phán của Toà án Hình sự Quốc tế
đối với công dân của quốc gia không phải là thành viên – phê bình quan điểm
của Hoa Kỳ” của tác giả Michael P. Scharf; “Chính sách của Hoa Kỳ về Toà
án Hình sự Quốc tế” của Luật sư Jennifer K. Elsea và nhiều công trình nghiên
cứu nổi tiếng khác. Nổi bật lên trong số đó là tác giả Douglass Cassel với
nhận định “Tòa án Hình sự Quốc tế đem đến cho nhân loại trong thế kỷ tới cơ
hội để thực thi cái mà luật pháp không có trong thế kỷ 20”. Điều này cũng
góp phần mở ra một hướng nghiên cứu mới cho nhiều đối tượng và học giả
sau này.
Trên phạm vi quốc gia Việt Nam, việc nghiên cứu về Toà án Hình sự
Quốc tế mới được triển khai trong giới nghiên cứu pháp luật trong thời gian
gần đây với sự tài trợ của các chuyên gia của Toà án Hình sự Quốc tế và luật
cần điều chỉnh để thực thi có hiệu quả nghĩa vụ thành viên Toà án Hình sự
Quốc tế nếu Việt Nam tham gia Quy chế Rome. Ngoài ra, Luận văn cũng cố
gắng phân tích mối quan hệ giữa Toà án Hình sự Quốc tế và Hội đồng Bảo an
Liên Hợp Quốc trong giải quyết cùng một vấn đề thuộc lĩnh vực trừng trị
những cá nhân gây tội ác đối với hoà bình, chống nhân loại. Luận văn không
đặt ra và không thể nghiên cứu các vấn đề khác liên quan trực tiếp đến nội
dung hoạt động tác nghiệp của Toà án Hình sự Quốc tế như kỹ thuật điều tra,
nghiệp vụ truy tố, xét xử, thi hành án của các Thẩm phán và của chính Tòa án.
Các quan điểm và thái độ cụ thể của các nuớc thuộc Liên minh châu Âu (EU)
8
và các nước ủng hộ Hoa Kỳ sẽ được đề cập trong một mức độ cần thiết để
hiểu rõ hơn nội dung của vấn đề chính trong Luận văn này.
4. Mục tiêu nghiên cứu
Khi đi vào tìm hiểu các vấn đề pháp lý của Toà án Hình sự Quốc tế và
đánh giá vấn đề gia nhập của Việt Nam, Luận văn nhằm đạt được các mục
đích như sau:
a. Làm rõ những vấn đề pháp lý cơ bản của Toà án Hình sự Quốc tế
như cơ cấu tổ chức, nguyên tắc và thực tiễn hoạt động, quan hệ với Hội đồng
Bảo an Liên Hợp Quốc
b. Đánh giá cơ hội, thách thức khi gia nhập Toà án Hình sự Quốc tế của
Việt Nam trong tình hình hiện nay.
c. Đề xuất các giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện các quy định của pháp
luật Việt Nam trong lĩnh vực pháp luật liên quan cho phù hợp với các quy
định của Toà án Hình sự Quốc tế.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu thực hiện đề tài luận văn là phép
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Tác giả của Luận văn dựa vào đó để
tìm ra mối liên hệ biện chứng giữa các hiện tượng của pháp luật quốc tế hiện
đại, đánh giá các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài luận văn.
VÀ TÒA ÁN HÌNH SỰ QUỐC TẾ
1.1. Sự ra đời của Quy chế Rome và Tòa án Hình sự Quốc tế
Quy chế Rome về Tòa án Hình sự Quốc tế là một điều ước quốc tế quy
định việc thành lập của Tòa án Hình sự Quốc tế. Phải mất hơn nửa thế kỷ
chuẩn bị, cơ sở pháp lý cho sự ra đời, tổ chức và hoạt động của Tòa án Hình
sự Quốc tế mới được xác lập.
Ngay sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Hội Quốc Liên đã sớm nhận
thấy sự cần thiết phải có một cơ chế thường trực nhằm truy tố, xét xử các tội
phạm nghiêm trọng nhất đe dọa an ninh, hòa bình và hạnh phúc của toàn nhân
loại. Mặc dù vậy, những nỗ lực để đưa ra ý tưởng thiết lập một tòa án quốc tế
đã không thành công.
Chỉ riêng trong 50 năm cuối thế kỷ XX, hơn 250 cuộc xung đột đã nổ ra
trên khắp thế giới, hơn 86 triệu thường dân trong đó hầu hết là phụ nữ và trẻ
em đã chết trong những cuộc xung đột đó và hơn 170 triệu người đã bị tước
đoạt các quyền về tài sản, danh dự và nhân phẩm [3]. Thực trạng đó đặt ra yêu
cầu ngày càng cấp bách phải có được một nền tảng pháp lý cho một tòa án
hình sự quốc tế.
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các Tòa án quân sự Nuremberg và
Tokyo được thiết lập để xét xử các tội phạm chiến tranh Đức quốc xã và Nhật
Bản. Thực chất đây là sự công nhận và là bước chuẩn bị cần thiết cho việc tạo
lập một tòa án mang tính chất thường trực xét xử các tội phạm chiến tranh. Vì
có nhiều ý kiến bất đồng, phải đến năm 1948, Liên Hợp Quốc mới chính thức
11
xem xét và thông qua Công ước về phòng ngừa và trừng phạt tội phạm diệt
chủng - bước phát triển của ý tưởng trừng phạt các tội phạm quốc tế.
Nghị quyết 260 ngày 09 tháng 12 năm 1948 của Đại hội đồng Liên Hợp
Quốc về việc thông qua Công ước về phòng ngừa và trừng phạt tội phạm diệt
chủng có đoạn viết: “Công nhận rằng ở tất cả các thời kỳ lịch sử nạn diệt
chủng đã gây ra tổn thất lớn cho nhân loại, và bị thuyết phục rằng để giải
tương tự trong tương lai. Chỉ sau những động thái này, nỗ lực cho việc thành
lập Tòa án Hình sự Quốc tế mới thu hút được sự quan tâm chung.
Tháng 12 năm 1994, Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc thành lập một
Ủy ban đặc biệt (ad hoc), bao gồm đại diện của tất cả các quốc gia thành viên
và các cơ quan chuyên ngành, xem xét lại bản dự thảo cuối cùng quy chế của
Ủy ban Luật Quốc tế. Tháng 12 năm 1995, Hội đồng Bảo an thành lập một
Ủy ban trù bị nhằm thảo luận sâu hơn những nội dung trọng yếu nhất, cũng
như những vấn đề về việc thực thi được đặt ra từ dự thảo quy chế của Ủy ban
Luật Quốc tế, với hy vọng đưa ra được một dự thảo quy chế vững chắc, có thể
đạt được sự chấp thuận rộng khắp trong Hội nghị cấp cao xem xét việc thành
lập Tòa án Hình sự Quốc tế. Tháng 12 năm 1996, Đại hội đồng thẩm định lại
kết quả hoạt động sau hai phiên họp của Ủy ban, đồng thời quyết định năm
1998 sẽ là năm tổ chức Hội nghị cấp cao về việc thành lập Tòa án Hình sự
Quốc tế. Cho đến trước thời điểm diễn ra Hội nghị, Ủy ban tiếp tục làm việc
trong bốn phiên họp tiếp theo.
13
Hội nghị cấp cao về việc thành lập Tòa án Hình sự Quốc tế diễn ra từ
ngày 15 tháng 6 đến 17 tháng 7 năm 1998 tại Rome, với đại diện của 160
quốc gia trên khắp các vùng, miền thế giới tham dự. Đây là một sự kiện hết
sức có ý nghĩa vì diễn ra đúng vào lúc toàn nhân loại kỷ niệm 50 năm ngày
thông qua Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (ngày 10 tháng 12 năm 1948).
Tại Hội nghị, văn bản dự thảo quy chế gồm 13 phần, 116 điều khoản đã được
đệ trình và thảo luận. Mặc dù dự thảo được xây dựng nghiêm túc và tương đối
chi tiết, song vẫn còn tới hơn 1.500 điều khoản đưa ra với các phương án quy
định mang tính cạnh tranh và được ký hiệu ngoặc vuông vì chưa đạt được sự
thống nhất ban đầu của các quốc gia tham dự. Tuy nhiên, sau năm tuần nỗ lực
đàm phán, thỏa hiệp dưới nhiều hình thức như thảo luận nhóm, đàm phán
không chính thức, thảo luận bên lề , Quy chế Rome đã được đại đa số các
quốc gia tham dự Hội nghị thông qua theo thể thức bỏ phiếu trọn gói. Kết quả
Theo Điều 34 Quy chế Rome, Tòa án Hình sự Quốc tế gồm có 4 cơ
quan chính: Ban Chánh án; Các Hội đồng tại các Tòa Phúc thẩm, Tòa Xét xử
và Tòa Tiền xét xử; Phòng Công tố và Phòng Thư ký. Mỗi bộ phận có chức
năng và quyền hạn nhất định.
1.2.1. Ban Chánh án
Theo Điều 38, Ban Chánh án bao gồm Chủ tịch và hai Phó Chủ tịch,
được bầu theo phương thức tuyệt đại đa số trong số 18 Thẩm phán của Tòa,
có nhiệm kỳ tối đa từ hai đến ba năm.
15
Ban Chánh án là cơ quan chịu trách nhiệm về các công việc hành chính
của Tòa trừ Phòng Công tố. Đây là gương mặt đại diện của Tòa với bên
ngoài, giúp tổ chức công việc cho các Thẩm phán. Ban Chánh án còn chịu
trách nhiệm triển khai các nhiệm vụ khác như bảo đảm việc thực thi các bản
án do Tòa đưa ra. Để thực hiện tất cả những trách nhiệm của mình, Ban
Chánh án sẽ phải phối hợp và thống nhất ý kiến với Công tố viên về mọi vấn
đề cùng quan tâm.
1.2.2. Các Hội đồng tại các Tòa Phúc thẩm, Tòa Xét xử và Tòa Tiền xét
xử
Theo Điều 39, ngay sau khi kết thúc bầu chọn Thẩm phán, Tòa án sẽ tổ
chức thành ba Tòa (hay Phân Tòa): Tòa Tiền xét xử, Tòa Xét xử và Tòa Phúc
thẩm. Tòa Phúc thẩm bao gồm năm Thẩm phán, Tòa Xét xử gồm sáu Thẩm
phán và Tòa Tiền xét xử gồm bảy Thẩm phán. Việc phân công Thẩm phán
vào các Tòa căn cứ vào tính chất và chức năng của mỗi Tòa và trình độ, kinh
nghiệm của Thẩm phán được bầu chọn vào Tòa án theo cách mỗi Tòa đều có
tỷ lệ hợp lý các Thẩm phán am hiểu về Luật Hình sự, Luật Tố tụng Hình sự
và Luật Quốc tế. Đặc biệt, các Tòa Xét xử và Tòa Tiền xét xử sẽ bao gồm chủ
yếu các Thẩm phán có kinh nghiệm trong lĩnh vực xét xử tội phạm hình sự.
Các chức năng tư pháp của Tòa án sẽ do các Hội đồng tại các Tòa thực
hiện. Trong mỗi Tòa có thể có nhiều hơn một Hội đồng tùy thuộc vào nhu cầu
thông tin liên lạc và an ninh, đảm bảo phục vụ một cách đúng đắn cho Toà án
17
và xây dựng một cơ chế hỗ trợ hiệu quả các nạn nhân, nhân chứng, biện hộ
nhằm bảo đảm quyền lợi của họ theo Quy chế Rome.
Với tư cách là kênh truyền thông chính thức của Toà án, Phòng Thư ký
chịu trách nhiệm chủ yếu đối với hoạt động đối ngoại và thông tin chung của
Tòa án.
1.3. Những tội ác thuộc quyền tài phán của Tòa án
Điều 1 Quy chế Rome quy định Tòa án Hình sự Quốc tế có quyền tài
phán đối với những cá nhân về những tội ác nghiêm trọng nhất gây lo ngại
cho cả cộng đồng quốc tế được đề cập trong Quy chế. Theo Điều 5, những tội
ác nghiêm trọng nhất bao gồm tội ác diệt chủng, tội ác chống lại loài người,
tội ác chiến tranh và tội ác xâm lược.
Ba loại tội ác đầu tiên đã được định nghĩa một cách cẩn thận. Tuy
nhiên, định nghĩa về tội ác xâm lược lại không thể đạt được sự nhất trí tại Hội
nghị Rome năm 1998, mặc dù nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế phi chính
phủ đã ủng hộ rộng rãi việc ghi nhận tội ác xâm lược vào quyền tài phán của
Tòa án. Kết quả là Quy chế đã quy định Tòa án sẽ không có quyền xét xử đối
với tội ác xâm lược cho đến khi các quốc gia thành viên đạt được một sự
thống nhất tại một phiên họp khác nhằm xem xét lại vấn đề này, bao gồm việc
đưa ra định nghĩa, các yếu tố cấu thành và những điều kiện để từ đó xác định
quyền xét xử của Tòa án. Điều này sẽ được giải quyết tại một hội nghị nhằm
xem xét lại vấn đề trên được tổ chức sau bảy năm kể từ ngày Quy chế có hiệu
lực. Điều quan trọng là Quy chế cũng không đưa ra một định nghĩa nào về các
loại tội phạm mới mà chỉ là sự ghi nhận lại một cách cụ thể hơn vấn đề này
trong các thỏa thuận quốc tế và tập quán quốc tế.
18
Mặc dù có nhiều đề xuất về việc ghi nhận cả tội khủng bố và tội ma túy
đặt những biện pháp nhằm ngăn cản sự sinh đẻ của nhóm người đó và cưỡng
bức chuyển giao trẻ em của một nhóm người này sang một nhóm người khác.
Như vậy, diệt chủng về văn hóa (những hành vi cố ý thực hiện nhằm ý
định ngăn chặn những thành viên của một nhóm người không cho một cộng
đồng khác sử dụng ngôn ngữ, thi hành tôn giáo hoặc thực hiện nền văn hóa
của họ) sẽ không được xếp vào loại hành vi được định nghĩa trong Quy chế
trừ khi những hành vi đó đồng thời là một trong số năm hành vi bị cấm và nó
được thực hiện với nghĩa được yêu cầu. Tương tự như vậy, định nghĩa diệt
chủng cũng không bao gồm sự hủy diệt sinh thái (những hành vi được thực
hiện với mục đích hủy diệt hoặc phá vỡ hệ sinh thái tại một khu vực nào đó)
bằng việc tàn phá môi trường trừ khi hành vi đó đồng thời là một trong số
năm hành vi bị cấm và nó được thực hiện với nghĩa được yêu cầu.
Theo điểm b khoản 3 Điều 25 của Quy chế, bất kỳ người nào ra lệnh,
gạ gẫm hoặc xúi giục người khác thực hiện hoặc cố gắng thực hiện các hành
vi diệt chủng sẽ phạm tội ác diệt chủng. Những người “trực tiếp và công khai
kích động người khác thực hiện hành vi diệt chủng” cũng sẽ bị coi là phạm tội
diệt chủng (Điều 25.3(e)). Điều 25.3(c) nhấn mạnh rằng những người trợ
giúp, tiếp tay hoặc những hình thức giúp đỡ khác nhằm thực hiện hoặc cố
gắng thực hiện hành vi diệt chủng sẽ bị coi là tội phạm diệt chủng. Mặc dù,
trái với Điều 3 của Công ước 1948, sự đồng phạm trong việc thực hiện hành
vi diệt chủng không được định nghĩa chính thức là một tội phạm, và Điều
25.3(d) khẳng định rằng những hành vi đó tương tự như hành vi diệt chủng.
1.3.2. Tội ác chống lại loài người
Quy chế Rome đã phân biệt giữa tội ác thông thường và tội ác chống lại
loài người thuộc quyền xét xử của Tòa án theo ba tiêu chí:
20
Thứ nhất, những hành vi cấu thành loại tội phạm này, ví dụ như hành vi
sát nhân, phải là hành vi được thực hiện ở quy mô lớn hoặc một cách có hệ
thống. Tuy nhiên, từ “tấn công” ở đây không chỉ bao gồm sự tấn công quân
nhắm vào một cộng đồng người xác định hoặc một tập thể về chính trị, màu
da, quốc tịch, sắc tộc, văn hóa, tôn giáo… được thừa nhận rộng rãi nhưng bị
cấm trong luật quốc tế; cưỡng bức mất tích – bắt giữ, cầm giữ hoặc bắt cóc
với sự trao quyền, chấp thuận hoặc làm ngơ từ phía nhà nước hoặc một tổ
chức chính trị, tiếp nối với việc từ chối công nhận sự mất tự do hoặc từ chối
cung cấp thông tin về sự mất tích đó; tội Apartheid – những hành vi phi nhân
tính được thể chế hóa trong chính sách bao gồm việc đàn áp hoặc thống trị có
hệ thống của một cộng đồng sắc tộc đối với một cộng đồng khác và cố ý duy
trì chế độ đó và những hành vi phi nhân tính có đặc điểm tương tự gây ra sự
mất mát to lớn hoặc gây thương tích nghiêm trọng cho con người về thể chất
hoặc tinh thần.
Quy chế Rome đã khẳng định rằng những tội ác chống lại nhân loại
được thực hiện cả trong thời gian chiến tranh cũng như hòa bình. Mặc dù các
Tòa án Nuremberg và Tokyo giới hạn sự xét xử của mình đối với những tội
phạm được thực hiện trong Thế chiến thứ hai, nhưng những văn kiện pháp lý
quốc tế cũng như các án lệ hoặc những công trình nghiên cứu sau đó lại xác
định rõ rằng không có sự đòi hỏi nào về việc hành vi phạm tội được thực hiện
trong thời gian xung đột vũ trang hay không trong việc quy kết những hành vi
là phạm tội chống lại nhân loại.
22
1.3.3. Tội ác chiến tranh
Những tội ác chiến tranh được chia thành hai nhóm chính:
Thứ nhất, Tòa án có thể xét xử những cá nhân bị cáo buộc là vi phạm
nghiêm trọng Công ước Geneva 1949 về đối xư
̉
nhân đa
̣
o vơ
́
trẻ em dưới 15 tuổi hoặc những hành vi bị cấm thực hiện trong lãnh thổ bị
chiếm đóng hoặc đối với công dân phe đối địch, như dời chuyển một cách
trực tiếp hoặc gián tiếp dân cư của mình sang lãnh thổ bị chiếm đóng, hoặc
trục xuất hoặc di chuyển toàn bộ hoặc một phần dân cư của vùng chiếm đóng,
tước bỏ hoặc đình chỉ các quyền hợp pháp của công dân phe đối địch hoặc
cưỡng ép họ tham gia vào các hoạt động quân sự chống lại chính nước của
họ…
1.3.4. Tội ác xâm lược
Định nghĩa về tội ác xâm lược được thông qua bởi Đại hội đồng của các
quốc gia thành viên trong Hội nghị Kiểm điểm Quy chế Rome được tổ chức
tại Kampala (Uganda) từ ngày 31 tháng 5 đến ngày 11 tháng 6 năm 2010 [24,
tr. 17]. Theo đó, một “tội ác xâm lược” có nghĩa là hành vi lập kế hoạch,
chuẩn bị, bắt đầu hoặc thực hiện hành vi sử dụng lực lượng vũ trang của Nhà
nước xâm phạm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập về chính trị của
một quốc gia khác. Các hành vi được coi là hành vi xâm lược bao gồm xâm
chiếm, tấn công bằng lực lượng vũ trang từ lãnh thổ của một quốc gia đến
một quốc gia khác, chiếm đóng quân sự, thôn tính bằng vũ lực, phong tỏa
cảng hoặc bờ biển , căn cứ vào tính chất nghiêm trọng và quy mô thể hiện rõ
vi phạm Hiến chương của Liên Hợp Quốc. Thủ phạm của hành động gây hấn
là một người có chức vụ thực hiện kiểm soát hoặc chỉ đạo các hoạt động
chính trị hoặc quân sự của Nhà nước nêu trên.