Công tác lưu trữ tài liệu nghe, nhìn ở các đài truyền hình - thực trạng và giải pháp - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THÚY BÌNH

CÔNG TÁC LƯU TRỮ TÀI LIỆU NGHE, NHÌN Ở CÁC
ĐÀI TRUYỀN HÌNH – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ

HÀ NỘI - 2002
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3

CÁC ĐÀI TRUYỀN HÌNH 77
3.1. NHỮNG GIẢI PHÁP VỀ CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÔNG TÁC LƯU TRỮ TÀI LIỆU NGHE NHÌN
Ở CÁC ĐÀI TRUYỀN HÌNH: 78
3.1.1. Hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp l{ đối với công tác lưu trữ tài liệu nghe nhìn ở các Đài
Truyền hình: 78
3.1.2. Hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn nghiệp vụ lưu trữ tài liệu nghe nhìn ở các Đài Truyền
hình 79
3.2. NHŨNG GIẢI PHÁP VỀ TỔ CHỨC – CÁN BỘ LÀM CÔNG TÁC LƯU TRỮ Ở CÁC ĐÀI TRUYỀN HÌNH
81
3.3. NHỮNG GIẢI PHÁP VỀ TỔ CHỨC KHOA HỌC TÀI LIỆU NGHE NHÌN Ở CÁC ĐÀI TRUYỀN HÌNH 82
3.3.1. Các phương pháp xác định giá trị, thu thập, bổ sung tài liệu nghe nhìn vào lưu trữ của các Đài
Truyền hình 82
3.3.2. Xác định các đặc trưng phân loại tài liệu nghe nhìn ở các Đài Truyền hình 86
3.3.3. Xây dựng hệ thống số ký hiệu lưu trữ tài liệu nghe nhìn 89
3.3.4. Xác định mục đích, yêu cầu và các yếu tố thông tin cho biên mục tài liệu nghe nhìn 91
3.3.5. Hoàn thiện hệ thống công cụ thống kê và tra cứu tài liệu nghe nhìn : 99
3.3.6. Xây dựng hệ thống CSDL trên máy tính: 111
3.4. HOÀN THIỆN CÁC PHƯƠNG THỨC VÀ PHƯƠNG TIỆN PHỤC VỤ KHAI THÁC SỬ DỤNG TÀI LIỆU Ở
CÁC ĐÀI TRUYỀN HÌNH: 113
3.4.1. Hoàn thiện hệ thống các phương tiện theo dõi, quản lý khai thác sử dụng tài liệu nghe nhìn
113
3.4.2. Cải tiến phương thức phục vụ khai thác tài liệu nghe nhìn: 114
3.5. NHŨNG GIẢI PHÁP VỀ CHẾ ĐỘ BẢO QUẢN TÀI LIỆU NGHE NHÌN Ở CÁC ĐÀI TRUYỀN HÌNH: 115
3.5.1. Các yêu cầu về nhà kho bảo quản tài liệu nghe nhìn: 115
3.5.2. Trang thiết bị bảo quản tài liệu nghe nhìn: 115
3.5.3. Sắp xếp tài liệu nghe nhìn trong kho lưu trữ: 117
3.5.4. Các biện pháp kỹ thuật bảo quản tài liệu nghe nhìn 117
KẾT LUẬN 123
ngày càng trở nên phong phú hơn. Những bức ảnh, những đoạn phim và tài liệu ghi
âm với hình ảnh, âm thanh rõ ràng, đã có sức thuyết phục cao.
Ngày nay tài liệu nghe nhìn đã trở thành một loại hình tài liệu lưu trữ đặc
biệt - một nhân chứng sống động của lịch sử không thể thiếu được trong thành
phần Phông lưu trữ Quốc gia. Điều này đã được khẳng định trong các văn bản
pháp quy của nhièu nước trên thế gới trong đó có Việt Nam.
Tuy nhiên so với tài liệu giấy, tài liệu nghe nhìn chỉ mới xuất hiện từ thế kỷ
thứ 19 (bắt đầu từ tài liệu ảnh năm 1839), còn ở Việt Nam mãi đến năm 1869 hiệu
ảnh tiên mới được ra đời [25, 10]. Chính vì vậy việc lưu trữ, bảo quản loại hình tài
liệu này vẫn còn nhiều hạn chế. Mặc dù trong các văn bản qui phạm pháp luật của
Nhà nước về công tác lưu trữ, tài liệu phim, ảnh, ghi âm vẫn luôn được ghi nhận là
thành phần của Phông lưu trữ Quốc gia cần phải được quản lý theo nguyên tắc tập
trung thống nhất. Song cho đến nay, loại hình tài liệu này vẫn còn đang được bảo
quản phân tán ở nhiều cơ quan. Cùng với sự phát triển của khoa học, tài liệu nghe
nhìn được sản sinh ra ngày càng nhiều, nhu cầu sử dụng chúng vào các mục đích
khác nhau của xã hội ngày càng lớn. Điều đó đòi hỏi các nhà lưu trữ phải quan tâm
nhiều hơn nữa đến việc lưu trữ loại hình tài liệu này. Một trong những dạng cơ
quan sản sinh ra nhiều loại hình tài liệu nghe nhìn hơn cả là hệ thống các Đài
Truyền hình từ Trung ương đến địa phương. Tài liệu nghe nhìn ở các Đài Truyền
hình rất đa dạng và phong phú. Nhưng cho đến nay các Đài Truyền hình vẫn còn
lúng túng trong việc lưu trữ khối tài liệu này. Công tác lưu trữ tài liệu nghe nhìn ở
các Đài Truyền hình chưa được quan tâm đúng mức, chưa theo những quy định
thống nhất. Tình trạng thất thoát tài liệu nghe nhìn ở các Đài Phát thanh - Truyền
hình địa phương là phổ biến, bộ phận lưu trữ của các Đài hầu như không quản lý
được tài liệu của Đài. Là một cán bộ lưu trữ, được học tập, tham quan và nghiên
cứu về công tác lưu trữ của một số nước tiên tiến, trước thực trạng công tác lưu trữ
tài liệu nghe nhìn ở các Đài Truyền hình còn nhiều tồn tại và chưa được quan tâm
đúng mức, tôi đã chọn vấn đề “ Công tác lưu trữ tài liệu nghe, nhìn ở các Đài
Truyền hình – Thực trạng và giải pháp” làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học
thuộc chuyên ngành Lưu trữ học và Tư liệu học.

1. Mục tiêu:
Đặt vấn đề nghiên cứu trên, luận văn nhằm giải quyết hai mục tiêu sau:
- Khảo sát được thực trạng công tác lưu trữ tài liệu nghe nhìn ở Đài Truyền
hình Việt Nam và các Đài Phát thanh -Truyền hình địa phương. Từ đó rút ra những
tồn tại của công tác lưu trữ tài liệu nghe nhìn ở hệ thống các Đài Truyền hình.
- Đề xuất các giải pháp nhằm củng cố, tăng cường công tác lưu trữ tài liệu
nghe nhìn ở các Đài Truyền hình.
2. Nhiệm vụ:
Với mục tiêu đã nêu trên, luận văn có nhiệm vụ như sau:
- Khảo sát thực tế, đánh giá thực trạng công tác lưu trữ tài liệu nghe nhìn ở
các Đài Truyền hình. Trong đó đánh giá về hệ thống các văn bản qui phạm pháp
luật, văn bản hướng dẫn chỉ đạo nghiệp vụ của ngành Lưu trữ cũng như của các
Đài Truyền hình về công tác lưu trữ tài liệu nghe nhìn và về thực trạng các nghiệp
vụ lưu trữ tài liệu nghe nhìn ở các Đài Truyền hình hiện nay.
- Đề xuất các giải pháp nhằm củng cố, tăng cường công tác lưu trữ tài liệu
nghe nhìn ở các Đài Truyền hình.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tài liệu nghe nhìn và thực trạng công
tác lưu trữ tài liệu nghe nhìn ở các Đài Truyền hình.
4. Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn chỉ đề cập đến tài liệu nghe nhìn và công tác lưu trữ tài liệu nghe
nhìn ở Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Phát thanh - Truyền hình địa phương. Ở
đây luận văn không đề cập đến tài liệu của Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam và
mảng tài liệu chữ viết của các Đài Truyền hình.
IV. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Công tác lưu trữ tài liệu nghe nhìn là vấn đề tương đối mới so với công tác
lưu trữ tài liệu chữ viết. Ở Việt Nam, vấn đề này cũng đã được nghiên cứu trong
những năm gần đây, nhưng chưa nhiều và phần lớn mới chỉ dừng ở mức độ giới
thiệu trong những bài viết ngắn trên báo , tạp chí, luận văn thạc sĩ, cử nhân.
1.Vấn đề tổ chức công tác lưu trữ tài liệu nghe nhìn

Cũng như cuốn sơ thảo về Lịch sử Nhiếp ảnh Việt Nam của Hội nghệ sĩ Nhiếp ảnh
Việt Nam, Hà Nội năm 1993…
Tuy nhiên, những bài viết trên mới chỉ giới thiệu quá trình hình thành, phát
triển của loại hình tài liệu ảnh, phim điện ảnh mà chưa đề cập đến các dạng tài liệu
nghe nhìn khác.
Trong tạp chí Văn thư Lưu trữ, tác giả Đào Xuân Chúc đã có các bài viết
như: Nguyên tắc và phương pháp đánh giá tài liệu ảnh trong công tác lưu trữ", số
03/1983; " Mấy vấn đề về cở phương pháp luận để xác định giá trị tài liệu lưu trữ
phim điện ảnh", số 03/1988; "Tiêu chuẩn xác định giá trị tài liệu ảnh lưu trữ", tạp
chí Lưu trữ Việt Nam ,số 03/ 1993….
Trong các bài viết trên, tác giả Đào Xuân Chúc chỉ nêu lên những nguyên
tắc, phương pháp và tiêu chuẩn xác định giá trị cho loại hình tài liệu ảnh, phim
điện ảnh nói chung, mà không đề cập đến vấn đề xác định giá trị tài liệu nghe nhìn
ở các Đài Truyền hình nói riêng.
Bên cạnh đó, một số tác giả khác cũng đã có những bài viết được đăng trên
tạp chí Nhiếp ảnh như: "Tính tài liệu và tính nghệ thuật" của A.Vartanốp, số
03/1994; "Ảnh phong cảnh và các loại ảnh phong cảnh" hoặc " Một vài suy nghĩ về
phóng sự ảnh" của Hoàng Ánh, số 03/1983 và số 04/1984; " Bản chất của ảnh"
của Nguyễn Long, số 01/1986; "Tính chất và nội dung thông tin của ảnh" của Chu
Chí Thành, số 24 và 25/1982; " Thể loại ảnh" của Chu Chí Thành - Hoàng Ánh-
Lê Hải, số 01, 02/1994 v.v
Những bài viết này mới chỉ đề cập về từng khía cạnh, từng đặc điểm của một
loại hình tài liệu nghe nhìn, đó là tài liệu ảnh nói chung.
Cũng cần phải kể đến sự đóng góp của các luận văn cử nhân của sinh viên
trong Khoa Lưu trữ và Quản trị văn phòng trong việc nghiên cứu đặc điểm, nguyên
tắc phương pháp để xác định giá trị tài liệu nghe nhìn. Tuy nhiên các luận văn này
mới chỉ dừng ở phạm vi tài liệu phim điện ảnh của Viện Nghệ thuật và Lưu trữ
điện ảnh Việt Nam mà không đề cập đến các loại hình tài liệu nghe nhìn khác. Ví
dụ như: Tác giả Hà Thị Tiêu với đề tài "Một số ý kiến đánh giá về xác định giá trị
tài liệu phim thời sự-tài liệu ở Viện Tư liệu Phim Việt Nam, luận văn cử nhân, năm

cử nhân, năm 1991…
Tuy nhiên, chưa có tác giả nào đề cập đến các yếu tố thông tin cần biên mục,
các loại hình công cụ tra cứu cho tất cả các thể loại của tài liệu nghe nhìn nói
chung và tài liệu nhe nhìn của các Đài Truyền hình nói riêng.
5. Khai thác sử dụng tài liệu nghe nhìn:
Về vấn đề này, phần lớn các công trình nghiên cứu mới chỉ tập trung giới
thiệu các nguồn sử liệu nghe nhìn về các chủ đề khác nhau. Chưa có một công
trình nào đề cập đến vấn đề chế độ khai thác sử dụng tài liệu nghe nhìn nói chung
cũng như tài liệu nghe nhìn ở các Đài Truyền hình nói riêng. Ví dụ như: các bài
viết của tác giả Đào Xuân Chúc " Vài nét về hoạt động Điện ảnh ở Việt Nam trước
Cách mạng tháng Tám", tạp chí Nghiên cứu văn hoá nghệ thuật, số 04/ 1981; "
Phương phương pháp nghiên cứu tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh qua tài liệu
phim, ảnh, tạp chí Thông tin Khoa học - Xã hội, số 5/ 1993; đặc biệt gần đây, tiến
sĩ Đào Xuân Chúc đã giới thiệu cho bạn đọc và các nhà nghiên cứu lịch sử một
nguồn tư liệu quí giá về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta
"Nguồn tư liệu ảnh về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945- 1954)", nhà
xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 2002.
Ngoài ra, các tác giả khác cũng đã có những công trình tổng hợp các tài liệu
lưu trữ nghe nhìn đã được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng như "
Ảnh lưu trữ về các sự kiện lịch sử đã được công bố trên báo Quân đội nhân dân từ
1975- 1995" của Nguyễn Việt Hằng, luận văn cử nhân, năm 1998; Những tài liệu
ảnh về cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953- 1954 và chiến dịch lịch sử
Điện Biên Phủ" của Nguyễn Liên Hương, luận văn cử nhân, năm 1984; "Nguồn tài
liệu điện ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh" của Nguyễn Thị Hương, luận văn cử nhân,
năm 1990.
Tuy nhiên tất cả các bài viết, luận văn mới chỉ dừng ở mức đề cập đến từng
khía cạnh của công tác lưu trữ cho từng loại hình tài liệu nghe nhìn, chưa có luận
văn, bài viết nào đề cập đến toàn diện các vấn đề của công tác lưu trữ tài liệu nghe
nhìn ở các Đài Truyền hình.
V. Nguồn tài liệu tham khảo:

liệu, điều tra khảo sát, phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu qua thực tế tình hình
tài liệu và công tác lưu trữ tài liệu nghe nhìn ở Đài Truyền hình Việt Nam và một
số Đài Phát thanh và Truyền hình địa phương như Đài Phát thanh và Truyền hình
Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Phú Thọ, Hà Tây, Hà Bắc v.v
VII. Bố cục của luận văn
Ngoài Phần mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 : Sự hình thành, đặc điểmvà ý nghĩa của tài liệu nghe nhìn ở các
Đài Truyền hình.
Trong chương này, luận văn trình bầy khái quát về sự hình thành của các
loại hình tài liệu nghe nhìn. Qua đó, luận văn đi sâu phân tích đặc điểm chung và
đặc điểm riêng của của từng loại hình tài liệu nghe nhìn trong sự so sánh với tài
liệu chữ viết. Tiếp theo luận văn nêu lên những ý nghĩa cơ bản của tài liệu nghe
nhìn trong đời sống kinh tế và xã hội.
Chương 2: Thực trạng công tác lưu trữ tài liệu nghe nhìn ở các Đài
Truyền hình
Trong chương này luận văn nêu khái quát về chức năng, nhiệm vụ thành
phần, nội dung tài liệu nghe nhìn của Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Phát thanh -
Truyền hình địa phương.
Để có cơ sở cho những đề xuất của chương 3, luận văn tiếp tục nghiên cứu,
khảo sát thực trạng công tác lưu trữ tài liệu nghe nhìn ở các Đài Truyền hình về các
vấn đề : Cơ sở pháp lý, tổ chức- cán bộ, tổ chức khoa học, bảo quản và khai thác
sử dụng tài liệu nghe nhìn. Từ đó nêu ra những tồn tại của công tác lưu trữ tài liệu
nghe nhìn ở các Đài Truyền hình, để làm cơ sở cho những giải pháp về công tác
lưu trữ tài liệu nghe nhìn ở chương 3.
Những số liệu và thông tin khảo sát trong luận văn chủ yếu được lấy từ thực
tế của Đài Truyền hình Việt Nam, một số Đài Phát thanh - Truyền hình địa phương
như Hà Nội, Phú Thọ, Hà Tây, Hà Bắc, Thanh Hoá, Hải Phòng, Thành phố Hồ
Chí Minh, Cần Thơ v.v.
Chương 3: Những giải pháp về công tác lưu trữ tài liệu nghe nhìn ở các
Đài Truyền hình

Quản trị Văn phòng, Lãnh đạo Cục Lưu trữ Nhà nước, Trung tâm Nghiên cứu
Khoa học Lưu trữ, cùng bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận
văn này.
Những vấn đề mà luận văn đặt ra đã được tác giả cố gắng thực hiện. Song do
những hạn chế về trình độ bản thân và thời gian, địa bàn khảo sát, nên chắc chắn
luận văn không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp, chỉ giáo của các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp.
Hà Nội, tháng 10 năm 2002 Chƣơng 1
SỰ HÌNH THÀNH, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA
CỦA TÀI LIỆU NGHE NHÌN Ở CÁC ĐÀI TRUYỀN HÌNH
1.1. SỰ HÌNH THÀNH CỦA TÀI LIỆU NGHE NHÌN
1.1.1. Khái niệm về tài liệu nghe nhìn và tài liệu lƣu trữ nghe nhìn
Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, nền khoa học kỹ thuật có những bước phát
triển nhảy vọt, làm thay đổi bộ mặt xã hội ở tất cả các nước trên toàn thế giới.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, các loại hình tài liệu ngày

khác….” [30, 8]. Như vậy là những bộ phim, những bức ảnh, băng ghi âm, ghi
hình có giá trị về lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học và các ý nghĩa khác
được sản sinh ra trong các hoạt động của cơ quan văn hoá, thông tin, tuyên truyền,
các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan nghiên cứu khoa học và những cá nhân
quay phim, chụp ảnh và ghi âm, ghi hình đều là những tài liệu lưu trữ. Tài liệu
nghe nhìn là kết quả của sự hình thành văn kiện, trong đó các hiện tượng khách
quan được thể hiện bằng hình ảnh và âm thanh.
Vậy có thể định nghĩa về tài liệu lưu trữ nghe nhìn như sau: Tài liệu ảnh,
phim điện ảnh, ghi âm và ghi hình được sản sinh ra trong quá trình hoạt động của
các cơ quan văn hoá, thông tin, tuyên truyền, các cơ quan quản lý nhà nước, các
cơ quan nghiên cứu khoa học và những người chụp ảnh, quay phim và ghi âm, ghi
hình nghiệp dư có giá trị khoa học, lịch sử và thực tiễn không kể không gian, địa
điểm sản sinh và những vật liệu gì mà nó mang tin, được nộp vào các kho, viện lưu
trữ Nhà nước theo các chế độ nhất định thì gọi là tài liệu lưu trữ ảnh, phim điện
ảnh và ghi âm, ghi hình (tài liệu lưu trữ nghe nhìn) [2, 1].
Để làm được điều đó trước tiên phải hiểu được quá trình hình thành và đặc
điểm của loại hình tài liệu đặc biệt này.
1.1.2. Sự hình thành của các loại hình tài liệu nghe nhìn:
1.1.2.1. Sự hình thành của tài liệu phim, ảnh:
Các yếu tố kỹ thuật cần thiết để có một bức ảnh là ánh sáng, vật liệu và kỹ thuật
đặc biệt của nhiếp ảnh. Trong đó ánh sáng cần thiết để tạo nên hình ảnh ẩn trên phim
khi chụp. Các vật liệu để tạo nên hình ảnh gồm có: máy ảnh, phim ảnh, (hoặc kính
ảnh), giấy ảnh, các hoá chất tạo và giữ hình ảnh.
Có thể tóm tắt quy trình kỹ thuật tạo ra một bức ảnh như sau: [2, 6]
- Bước 1: Phim sau khi được chụp (đã lộ sáng), trên phim diễn ra quá trình
phản ứng quang học, tạo thành hình ảnh ẩn mà mắt thường không nhìn thấy được.
- Bước 2: Phim được đưa qua thuốc hiện hình trong một thời gian nhất định,
thì hình ảnh của đối tượng chụp sẽ dần dần hiện ra. Để giữ cho hình ảnh không bị
đen và mất hình, phải ngâm qua thuốc hãm hình (giữ hình). Lúc này, những hạt
muối bạc không được dùng để tạo thành hình ảnh, sẽ hoà tan và bị loại bỏ sau khi

và giữ hình.
- Bước 5: Sau khi các cảnh đã quay xong, công việc cuối cùng là dựng phim
và thu âm.
Sau khi bộ phim được duyệt, bản đầu cùng với âm bản gốc hình và tiếng
cùng các tài liệu kèm theo khác được chuyển tới Xí nghiệp in tráng phim, ở đó sẽ
sản xuất theo yêu cầu của cơ quan phát hành số lượng dương bản nhất định. Những
bản này gọi là bản sao (bản copy).
Những âm bản gốc hình, âm bản gốc tiếng và bản đầu theo quy định phải được
đưa vào bảo quản trong lưu trữ.
1.1.2.3. Sự hình thành tài liệu ghi âm: [2, 8]
a.Ghi âm cơ giới: Ngày 12 tháng 8 năm 1877, Edison-nhà phát minh người
Mỹ đã tạo ra được một dụng cụ hoạt động nhờ một tay quay và đăng ký phát
minh vào ngày 17/2/1878. Phát minh này đánh dấu sự ra đời của kỹ thuật ghi
âm.
Các đĩa ghi âm cơ học hiện nay thường có đường kính khoảng 250-300 mm
và bước rãnh từ 0,075 mm đến 0,2 mm. Ngoài các loại đầu ghi âm có tốc độ quay
là 78 vòng/phút, 45 vòng/phút, còn có tốc độ quay 33 :1/3 vòng /phút, 16:2/3 vòng
/phút và 8: 1/3 vòng phút. Thông thường tốc độ ghi là bao nhiêu thì tốc độ quay lại
cũng sẽ là bấy nhiêu. Nếu làm thay đổi tốc độ, thì âm thanh sẽ không giống như
khi phát, có thể bị rè hoặc trở thành méo tiếng.
b. Ghi âm quang học: Ghi âm quang học là dùng phương pháp chụp ảnh để
chụp các dao động âm thanh trên phim nhựa và làm tái hiện chúng bằng hệ thống
quang học. Ghi âm quang học được dùng cho phim điện ảnh.
c. Ghi âm từ tính: Ghi âm từ tính được O.Smith người Anh phát triển về mặt
lý thuyết năm 1888. Đây là phương pháp làm cho độ từ hoá của băng từ thay đổi
tương ứng với sự thay đổi của tín hiệu âm thanh cần ghi. Cấu tạo của băng từ tính
gồm 2 lớp: một lớp đế bằng nhựa và được phủ lên mặt một lớp ô-xít sắt.
d. Ghi âm lazer (CD): Kỹ thuật ggi âm này được hãng Philips Hà Lan bvà
hãng Sony Nhật Bản phát minh vào năm 1979. Phương pháp ghi và đọc đĩa CD có
những điểm khác cơ bản so với các phương pháp ghi âm cơ học, quang học hay từ

thể có được [4, 12]. Ví dụ một trang giấy có thể ghi lại nội dung bài phát biểu của
Bộ trưởng, nhưng một băng Video, một cuộn phim, những bức ảnh hoặc một cuốn
băng ghi âm có thể cho chúng ta biết ông ta đã thực sự nói gì?, âm điệu của diễn
giả, vẻ bề ngoài, sự biểu hiện về nét mặt cũng như các điệu bộ cử chỉ khác. Tài liệu
nghe nhìn đặc biệt hay được sử dụng trong các dịp lễ hội, ghi lại những sự kiện
quan trọng, vì những tài liệu này có thể cho chúng ta biết con người, địa điểm và
những điều mà chúng ta không được tận mắt chứng kiến.
3. Tài liệu nghe nhìn không chỉ cung cấp những thông tin đơn thuần, mà nó
còn là loại hình tài liệu mang tính nghệ thuật cao.
4. Khác với tài liệu chữ viết, tài liệu nghe nhìn không phản ánh trực tiếp các
hoạt động của người quay, người chụp hoặc của cơ quan làm ra tài liệu. Vì vậy, giá
trị của tài liệu nghe nhìn phụ thuộc vào ý nghĩa của các sự kiện, hiện tượng mà
chúng phản ánh.[5,14].
5. Tài liệu nghe nhìn không được sản sinh ra ở mọi cơ quan như tài liệu chữ
viết. Đối với tài liệu nghe nhìn không có khái niệm tài liệu của cơ quan cấp dưới bị
bao hàm bởi tài liệu của cơ quan cấp trên. Giá trị của tài liệu nghe nhìn không phụ
thuộc vào vị trí của cơ quan sản sinh ra nó, vì nó không chỉ phản ánh hoạt động của
cơ quan đó, mà còn phản ánh gần như mọi mặt hoạt động của xã hội.
6. Tài liệu nghe nhìn có khả năng tuyên truyền, giáo dục hiệu quả hơn nhiều
so với tài liệu chữ viết. Bởi lẽ qua những hình ảnh, âm thanh sống động, đã đưa
đến cho người xem lượng thông tin gọn nhẹ, súc tích và mau chóng nhất. Vì hình
ảnh, âm thanh mang tính khách quan, tính sự thật một cách hiển nhiên nên nó dễ đi
vào lòng người, dễ thuyết phục và gây lòng tin mạnh mẽ đối với người xem [14,
9].
Tài liệu nghe nhìn được chứa đựng trên những vật mang tin khác nhau. Hiểu
được các vật mang tin đó, sẽ giúp chúng ta có thể sử dụng, bảo quản và quản lý
loại hình tài liệu này được hiệu quả.
1.2.2. Đặc điểm riêng của từng loại hình tài liệu nghe nhìn
a. Phim điện ảnh: Từ những đặc điểm chế tác trên, phim điện ảnh có những
đặc thù riêng như sau: [3, 16]

nghiên cứu lịch sử dân tộc cũng như lịch sử ngành điện ảnh.

Trích đoạn Xác định mục đích, yêu cầu và các yếu tố thôngtin cho biên mục tài liệunghe nhìn Hoàn thiện hệ thống công cụ thống kê và tra cứu tài liệunghe nhìn: Xây dựng hệ thống CSDL trên máy tính: Trang thiết bị bảo quản tài liệunghe nhìn: Các biện pháp kỹ thuật bảo quản tài liệunghe nhìn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status