LỜI MỞ ĐẦU
Một trong những xu hướng phát triển hiện nay là sự bùng nổ của cuộc
cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới. Công
nghệ đã làm cho năng lực sản xuất tăng nhanh chưa từng có, chất lượng sản
phẩm nâng cao thoả mãn được hầu hết những đòi hỏi khắt khe của cuộc sống
hiện đại. Những ngành sản xuất có công nghệ càng cao thì tỉ suất lợi nhuận thu
được càng lớn trong khi đó nguyên vật liệu sử dụng không đáng kể. Do vậy
nước nào càng nắm giữ được nhiều công nghệ sản xuất hiện đại tiên tiến thì
kinh tế càng phát triển. Những nền kinh tế hàng đầu thế giới hiện nay như Mỹ,
Nhật Bản và khối EU đều là những nước nắm giữ những công nghệ hàng đầu
thế giới.
Là một nước có nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu, khoa học công nghệ
kém phát triển thì không có con đường nào tốt hơn cho Việt Nam trong việc
chú trọng đầu tư trong công tác nghiên cứu thử nghiệm và sử dụng công nghệ là
thông qua các dự án FDI. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là con đường ngắn nhất,
rẻ nhất để tiếp cận đến công nghệ sản xuất hiện đại. Từ khi tiến hành mở cửa
nền kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã mang lại cho Việt Nam không chỉ
vốn mà cả công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến. Việt Nam từ một nước
chỉ có công nghệ cũ kỹ lạc hậu chủ yếu nhận viện trợ từ nước ngoài đến nay đã
du nhập được hầu hết những công nghệ cần thiết phục vụ cho sản xuất cơ bản,
nhiều công nghệ được đánh giá là hiện đại tiên tiến. Sản xuất phát triển, đời
sống nhân dân từng bước được nâng cao. Công nghệ hiện đại còn tạo nên
những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như dầu khí, dệt may, giày
dép...
Với mục đích nâng cao hiệu quả của việc tiếp nhận và sử dụng công
nghệ chuyển giao qua các dự án FDI, chuyên đề “Chuyển giao công nghệ
thông qua các dự án FDI: Thực trạng và giải pháp” sẽ phân tích tổng quan
tình hình chuyển giao công nghệ thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
Việt Nam thời gian qua, đánh giá những mặt đã đạt được, những mặt còn hạn
chế. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp chủ yếu. Với mục đích như trên đề tài
sẽ đưa ra những nghiên cứu, đánh giá và trình bày giải pháp ở tầm vĩ mô mà
hoạt động thực tiễn tạo cho Bên kia một năng lực công nghệ nhất định. Năng
lực công nghệ là tập hợp những tri thức và giải pháp mà chủ thể có thể sử dụng
để hoàn thành một mục tiêu nhất định.
Có thể nói rằng: chuyển giao công nghệ là một quá trình bao gồm hai
bên: Bên giao và Bên nhận công nghệ.
Bên giao công nghệ gồm một hoặc nhiều tổ chức khoa học, công nghệ và
các tổ chức khác có tư cách pháp nhân hoặc cá nhân ở nước ngoài có công
nghệ.
Bên nhận công nghệ gồm một hoặc nhiều tổ chức kinh tế khoa học, công
nghệ và tổ chức khác có tư cách pháp nhân hoặc cá nhân tiếp nhận công nghệ.
Tuy nhiên, theo ESCAP (Uỷ ban kinh tế – xã hội – Châu Á - Thái Bình
Dương) thì chỉ có hoạt động chuyển giao công nghệ từ quốc gia này sang quốc
gia khác mới được coi là hoạt động chuyển giao công nghệ. Như vậy, có thể nói
thực chất hoạt động chuyển giao công nghệ là quá trình trong đó công nghệ
được di chuyển qua các Biên giới quốc gia.
1.1.1.2. Nội dung chuyển giao của công nghệ:
Theo Bộ luật Dân sự và Nghị định 45/1008/CĐ-CP (ngày 1/7/1998) quy
định chi tiết về chuyển giao công nghệ thì các hoạt động sau đây được coi là
nội dung (đối tượng) của chuyển giao công nghệ:
- Các đối tượng sở hữu công nghiệp có hoặc không kèm theo máy móc thiết
bị mà pháp luật cho phép chuyển giao như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và
nhãn hiệu hàng hoá. Bao gồm cả chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử
dụng của các đối tượng đó. Riêng nhãn hiệu hàng hoá buộc phải kèm theo việc
chuyển giao công nghệ mới được gọi là chuyển giao công nghệ.
- Các yếu tố thuộc phần cứng thông tin của công nghệ như: Bí quyết kỹ
thuật, lựa chọn công nghệ, tài liệu thiết kế, công thức bản vẽ, sơ đồ, bảng biểu...
- Các hình thức hỗ trợ và tư vấn cho công nghệ như: Bí quyết kỹ thuật, lựa
chọn công nghệ, hướng dẫn lắp đặt thiết bị, vận hành thử các dây chuyền công
nghệ, đào tạo huấn luyện chuyên môn cho cán bộ kỹ thuật, công nhân, lao động
quản lý dịch vụ cung cấp thông tin phục vụ cho công nghệ được chuyển giao.
Đầu tư nước ngoài (đặc biệt là FDI) được coi là nguồn quan trọng để
phát triển khả năng công nghệ của nước chủ nhà. Vai trò này được thể hiện ở
hai khía cạnh chính là chuyển giao công nghệ sẵn có từ bên ngoài vào và phát
triển khả năng công nghệ của các cơ sở nghiên cứu. Đây là những mục tiêu
quan trọng được nước chủ nhà mong đợi từ các nhà đầu tư nước ngoài.
Chuyển giao công nghệ thông qua con đường FDI thường được thực hiện
chủ yếu bởi các TNCs, dưới các hình thức: chuyển giao trong nội bộ giữa các
chi nhánh của một TNCs (intra-firm networks) và chuyển giao giữa các chi
nhánh của các TNCs (inter-firm networks). Tuy nhiên, trong những năm gần
đây, các hình thức này thường đan xen nhau với các đặc điểm rất đa dạng.
Phần lớn công nghệ được chuyển giao giữa các chi nhánh của TNCs sang
nước chủ nhà (nhất là các nước đang phát triển) ở hình thức 100% vốn nước
ngoài và doanh nghiệp liên doanh có phần lớn vốn nước ngoài, dưới các hạng
mục chủ yếu như những tiến bộ công nghệ, sản phẩm công nghệ, công nghệ
thiết kế và xây dựng, kỹ thuật kiểm tra chất lượng, công nghệ quản lý, công
nghệ marketing. Theo số liệu thống kê của Trung tâm TNCs của Liên Hợp
Quốc (UNCTC) năm 1993 cho thấy, các chi nhánh của TNCs ở các nước đang
phát triển nhận được khoảng 95% các hạng mục công nghệ trên từ các công ty
mẹ của chúng (xem bảng 1.1)
Bảng I.1. Chuyển giao công nghệ của TNCs cho các nước đang phát triển (*)
Đơn vị: hạng mục
Hạng mục công nghệ Đông Nam
á
Mỹ Latinh Các nước khác Tổng
1. Tiến bộ công nghệ
2. Sản phẩm công nghệ
3. C.nghệ thiết kế & XD
4. C.nghệ K.tra chất.L
5. Công nghệ quản lý
6. C.nghệ marketing
biến (adaptation) hoặc nhái lại (copy) công nghệ của các công ty nước chủ nhà.
Mặt khác, do nước chủ nhà còn chưa đáp ứng được các yêu cầu sử dụng công
nghệ của các TNCs.
Cùng với hình thức chuyển giao trên, chuyển giao công nghệ giữa các chi
nhánh của các TNCs tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây. Mức tăng
trung bình hàng năm khoảng 300 hợp đồng chuyển giao công nghệ (inter-firm
technology agreements) trong giai đoạn từ đầu thập kỷ 80 đến giữa thập kỷ 90
(xem biểu đồ I.2). Trong giai đoạn 1980-1996, các TNCs đã thực hiện khoảng
8.254 hợp đồng chuyển giao công nghệ, trong đó 100 TNCs lớn nhất thế giới
chiếm bình quân khoảng35% (World Investment Report 1998, p.24).
Ở các nước đang phát triển, các hợp đồng chuyển giao công nghệ tập
trung nhiều vào các lĩnh vực công nghệ thông tin, chiếm khoảng 37% tổng số
hợp đồng chuyển giao công nghệ. Số hợp đồng chuyển giao công nghệ trong
lĩnh vực này tăng nhanh, từ mức trung bình 74 hợp đồng giai đoạn 1980-1983
lên tới 284 hợp đồng giai đoạn 1992-1995 và đạt được 254 hợp đồng vào năm
1996. Tiếp theo là các ngành dược phẩm (28% năm 1996) và ô tô (khoảng 8%
năm 1996).
Biểu đồ I.2. Tốc độ tăng của các hợp đồng chuyển giao công nghệ giữa các chi
nhánh của các TNCs, giai đoạn 1980-1996 (số hợp đồng)
Sè hîp ®ång
280
493
502
626
650
0
100
200
300
400
cũng cho thấy tình trạng tương tự như vậy. (Nguồn: Đầu tư quốc tế – NXB
Quốc gia Hà Nội 2001).
Dù vậy, các hoạt động cải tiến công nghệ của các doanh nghiệp đầu tư
nước ngoài đã tạo ra nhiều mối quan hệ liên kết cung cấp dịch vụ công nghệ từ
các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trong nước. Nhờ đó đã gián tiếp
tăng cường năng lực phát triển công nghệ địa phương. Mặt khác, trong quá
trình sử dụng các công nghệ nước ngoài (nhất là trong các dự án liên doanh),
các nhà đầu tư và phát triển công nghệ trong nước học được (learning by doing
things) cách thiết kế, chế tạo,... công nghệ nguồn, sau đó cải biến cho phù hợp
với điều kiện sử dụng của địa phương và biến chúng thành những công nghệ
của mình. Đây là một trong những tác động tích cực quan trọng của đầu tư
nước ngoài đối với phát triển công nghệ ở nước chủ nhà, đặc biệt là các nước
đang phát triển.
Do có các tác động tích cực trên, khả năng công nghệ của nước chủ nhà
đã được tăng cường, vì thế nâng cao năng suất các thành tố, nhờ đó thúc đẩy
được tăng trưởng.
Bên cạnh những tác động tích cực, chuyển giao công nghệ qua đầu tư
nước ngoài cũng đặt ra nhiều vấn đề cho nước chủ nhà, trong đó nổi bật là:
công nghệ cũ (bãi thải công nghệ), công nghệ không phù hợp với điều kiện của
các nước đang phát triển, gây ô nhiễm môi trường, giá cả đắt hơn giá thực tế,...
Vấn đề tiếp nhận công nghệ cũ (cả hao mòn hữu hình và hao mòn vô
hình) luôn là mối quan tâm lớn của nước chủ nhà, đặc biệt là các nước đang
phát triển. Một mặt, công nghệ cũ thường giá rẻ, sử dụng nhiều lao động và dễ
sử dụng. Nhưng mặt khác các công nghệ này lại kém sức cạnh tranh, năng suất
thấp và gây ô nhiễm môi trường. Do đó, việc chuyển giao công nghệ cũ phụ
thuộc quan trọng vào sự lựa chọn của nước chủ nhà.
Đã từ lâu, vấn đề chuyển giao công nghệ không phù hợp vào các nước
đang phát triển đang là đề tài gây nhiều tranh luận trong giới kinh tế học phát
triển. Nhiều quan điểm cho rằng, phần lớn công nghệ chuyển giao vào các nước
đang phát triển qua con đường đầu tư nước ngoài là không phù hợp. Bởi vì các
qua các dự án FDI.
Ngay từ khi hình thành dự án FDI, các nhà đầu tư đã phải xác định các
giải pháp về kỹ thuật công nghệ để thực hiện dự án. Sau đây là các công việc cơ
bản trong khâu chuẩn bị tiếp nhận công nghệ.
- Chuẩn bị cơ sở hạ tầng để tiếp nhận công nghệ mới
- Tìm kiếm các nguồn công nghệ có khả năng đáp ứng và các Bên đối
tác có tiềm năng.
- Nghiên cứu đặc điểm của từng nguồn công nghệ và đối tác tương ứng.
- So sánh các công nghệ khác nhau và lựa chọn “Công nghệ phù hợp
nhất” đáp ứng tốt nhất yêu cầu của dự án.
- Lựa chọn đối tác cung cấp công nghệ đó.
- Hoạch định chiến lược đàm phán với đối tác
1.4.2. Đàm phán với đối tác và ký kết hợp đồng chuyển giao công
nghệ.
Trong các dự án FDI, việc chuyển giao công nghệ nước ngoài thường
xảy ra 1 trong 2 tình huống: Một là, Bên giao công nghệ đồng thời là đối tác
tham gia liên doanh. Hai là, Bên giao công nghệ là Bên thứ ba không nằm trong
liên doanh. Các kịch bản có thể diễn ra như sau:
Thứ nhất, nếu Bên cung cấp công nghệ đồng thời là đối tác tham gia liên
doanh thì việc chuyển giao công nghệ là một bộ phận không thể tách rời của dự
án liên doanh. Giá trị công nghệ được tính như một bộ phận góp vốn và lợi
nhuận được chia theo tỷ lệ này. Vì vậy, Bên nước ngoài thường kê cao giá của
công nghệ, thiết bị mang vào góp vốn, đưa đến sự thiệt hại không chỉ trước mắt
mà còn lâu dài đối với Bên tiếp nhận công nghệ. Thực tế đó, đòi hỏi Bên tiếp
nhận công nghệ phải hết sức thận trọng, cần cân nhắc kỹ những điều khoản về
chuyển giao công nghệ. Đặc biệt, cần phải cụ thể hoá mức độ tiên tiến của công
nghệ và tình trạng kỹ thuật của máy móc thiết bị. Trong hợp đồng, tránh những
cụm từ chung chung, dễ bị Bên nước ngoài lợi dụng dẫn đến những sai lầm
nghiêm trọng, muốn sửa cũng gặp nhiều khó khăn.
Kinh nghiệm cho thấy nếu đối tác tham gia liên doanh đồng thời là Bên
tư. Như vậy, đối với các dự án có vốn FDI, khi thành lập doanh nghiệp, việc
chuẩn y Hợp đồng chuyển giao công nghệ do:
- Hoặc là Bộ Kế hoạch và Đầu tư trực tiếp phê duyệt sau khi có ý kiến
chính thức bằng văn bản của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường.
- Hoặc là Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường trực tiếp phê duyệt.
Trong đầu tư quốc tế, Hợp đồng chuyển giao công nghệ là một bộ phận
của hồ sơ dự án, nên quá trình thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ được
thực hiện đồng thời với quá trình triển khai dự án FDI. Trong giai đoạn này, các
thoả thuận đã được chính thức hoá bằng hợp đồng chuyển giao công nghệ, vì
thế, nhiệm vụ của Bên tiếp nhận là phải kiểm tra, đánh giá thật kỹ các thiết bị
và dây chuyền công nghệ đưa vào thực hiện dự án. Điều cần lưu ý, việc thực
hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ không chỉ diễn ra và kết thúc trong quá
trình triển khai thực hiện dự án mà nó vẫn còn tiếp tục trong giai đoạn vận hành
kết quả đầu tư. Trong giai đoạn này, Bên tiếp nhận cần phải đánh giá được kết
quả và hiệu quả của chuyển giao công nghệ. Đó là việc đánh giá sự phát triển
năng lực công nghệ của Bên nhận đã đạt được ở mức độ nào? Đánh giá việc
đáp ứng các mục tiêu đặt ra ban đầu cho chuyển giao công nghệ và hiệu quả
của việc chuyển giao công nghệ ấy.
1.1.5. Kinh nghiệm du nhập và tiếp thu công nghệ qua các dự án FDI của
Hàn Quốc
(Chỉ phân tích trong giai đoạn đầu những năm 60 đến cuối những năm 80
vì giai đoạn này đã đủ cho thấy các kinh nghiệm của Hàn Quốc trong quá trình
công nghiệp hoá. Do đó ở đây không đề cập tình hình sau thời gian nói trên).
Mặc dù Đầu tư trực tiếp nước ngoài bị chính phủ Hàn Quốc kiểm soát
ngặt nghèo và chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng vốn đầu tư (2% thời kỳ 1976-1987)
nhưng nó đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc chuyển giao công nghệ
vào nước này.
Kinh tế Hàn Quốc bắt đầu phát triển từ thập kỷ 60, khi các nước đang
phát triển nói chung rất cảnh giác đối với các công ty đa quốc gia. Là nước có ý
thức dân tộc rất mạnh mẽ, Hàn Quốc cũng có khuynh hướng cảnh giác với sự
Như vậy là cho đến thập kỷ 70, Hàn Quốc còn rất cảnh giác đối với sự
chi phối của công ty nước ngoài, nhưng kết quả thực tế mà họ thu được qua đầu
tư trực tiếp không phải là nhỏ, mà ngược lại trong giai đoạn đầu phát triển kinh
tế còn khó khăn trong tích luỹ vốn kinh doanh, đầu tư trực tiếp còn nhiều hơn
các hợp đồng nhập khẩu bằng sáng chế kỹ thuật. Đầu tư trực tiếp nước ngoài
khởi đầu việc sản xuất trên nhiều dây chuyền làm hàng xuất khẩu phát triển
nhanh chóng. Nghiên cứu cho thấy các công ty trong nước luôn lấy các công ty
xuyên quốc gia làm hình mẫu cho mình. Một số công ty nước ngoài lãnh trách
nhiệm đào tạo chuyên sâu cho kỹ sư và nhà quản lý, cũng như chuyển giao kỹ
năng và bí quyết. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc quan trọng nhất trong việc
mở ra thị trường xuất khẩu cho Hàn Quốc và các nước con hổ châu Á khác.
Cũng có bằng chứng cho thấy rằng các kỹ sư trong nước được đào tạo bởi các
nhà đầu tư nước ngoài đã được công ty mẹ lập công ty riêng cho họ (thường là
công ty con này cung cấp các bộ phận hoặc một số dạng dịch vụ kỹ thuật), do
đó tạo ra mối liên hệ ngược chiều cần thiết.
Đưa công nghệ nước ngoài vào nhưng không có khả năng tiếp thu nó một
cách có hiệu quả thì cũng không có tác dụng trong việc phát triển kinh tế. Cũng
không ngoa nếu nói rằng Hàn Quốc thành công được trong việc phát triển kinh
tế là vì họ đã thu hút được công nghệ của nước ngoài, đồng thời đã không
ngừng nâng cao được khả năng tiếp thu (absorptive capacity) công nghệ, hoàn
chỉnh môi trường để cho công nghệ đó phát huy có hiệu quả. Điều này phản
ánh qua nỗ lực nghiên cứu và triển khai (R&D) chính phủ và những cố gắng
nghiên cứu và triển khai của các xí nghiệp.
Hoạt động nghiên cứu và triển khai của Hàn Quốc có những đặc diểm
như sau:
a) Từ thập kỷ 70 đến 80, chi cho hoạt động nghiên cứu và triển khai tăng
vọt. Năm 1970, mức chi tiêu là 10.5 tỉ Won nhưng đến năm 1975 là 42,7 tỉ
Won, năm 1980 là 211,7 tỉ Won. Tỷ lệ chi tiêu cho nghiên cứu và triển khai
chiếm trong tổng sản phẩm quốc dân (GNP) nửa đầu thập kỷ 70 chỉ có 0.3%,
nhưng nửa cuối thập kỷ này tăng lên 0.6%, nửa đầu thập kỷ 80 tăng lên 1% và
là giáo dục được phổ biến nhanh chóng ở Hàn Quốc. Tỷ lệ thanh thiếu niên học
các trường cao đẳng (cấp III) năm 1965 mới có 34% thì đến năm 1975 tăng lên
56% và đến năm 1984 tăng vọt lên 91%. Tỷ lệ thanh niên học tại các trường đại
học cùng thời gian này là 6%, 10% và 26% và như vậy, họ đã nhanh chóng tiến
sát trình độ Nhật Bản là 29%. Do đó, chất lượng lao động của Hàn Quốc được
nâng cao với tốc độ nhanh và đương nhiên họ đã thành công trong việc nâng
cao khả năng tiếp thu và phát triển công nghệ.
Tiếp theo đây chúng ta hãy nghiên cứu khả năng tiếp thu công nghệ trong
từng xí nghiệp và chiến lược đuổi bắt công nghệ của Hàn Quốc. Để đẩy nhanh
sự phát triển kinh tế, các xí nghiệp Hàn Quốc hết sức tranh thủ thu hút vốn và
công nghệ của nước ngoài, và ngay từ đầu từng xí nghiệp đã cố gắng để một
ngày nào đó tự mình có thể đứng vững được. Trong trường hợp nhận đầu tư
trực tiếp, tuy là liên doanh với các xí nghiệp nước ngoài, nhưng ngay từ đầu, họ
đã có ý thức cao trong việc tham gia tích cực vào việc kinh doanh của xí nghiệp
liên doanh, họ quán triệt phương châm chỉ dựa vào nước ngoài phần việc mà
mình chưa thể làm nổi. Có thể nêu ra ví dụ sau đây:
Ví dụ về ngành tơ sợi tổng hợp đưa công nghệ vào thông qua kênh đầu tư
trực tiếp nước ngoài. Tuy có một số xí nghiệp của ngành này đã du nhập công
nghệ thông qua hợp đồng nhập khẩu bằng sáng chế kỹ thuật nhưng đối với Hàn
Quốc, ngành tơ sợi là một ngành mà vai trò của đầu tư trực tiếp tương đối quan
trọng. Điều đáng chú ý là hầu hết các xí nghiệp sợi tổng hợp cuả Hàn Quốc đều
liên doanh với xí nghiệp Nhật, nhưng xí nghiệp nào của Hàn Quốc cũng tìm
cách cố gắng để đuổi kịp Nhật Bản. Một đặc điểm đáng nói là trong trong một
thời gian ngắn họ đã cố gắng tự mình nghiên cứu và đưa vào ứng dụng những
công nghệ nâng cao được năng suất lao động, tiết kiệm được năng lượng và
nguyên liệu. Từ khi thành lập xí nghiệp liên doanh, họ đã muốn xác lập quyền
chủ đạo về kinh doanh, đồng thời hạn chế ở mức tối thiểu số cán bộ kỹ thuật và
quản lý người nước ngoài. Và họ từng bước cố gắng đẻ người Hàn Quốc thay
thế vào vị trí của người nước ngoài. Chúng ta hãy xem trường hợp của Kolon –
một xí nghiệp liên doanh quan trọng trong ngành tơ sợi tổng hợp của Hàn
Bắt đầu sản xuất 58(26) 83 83 100
Công việc tu sửa 88(17) 88 88 100
Số trong ngoặc là toàn bộ số người trong các công đoạn (kể cả người Hàn Quốc
và người nước ngoài).
Nguồn: Trần Văn Thọ (1992, chương 4, dựa theo tư liệu trong Enos and Park
(1988).
Bảng 1.3
Nỗ lực tự chủ hoá công nghệ sản xuất nilon của Hàn Quốc:
trường hợp công ty Kolon
1.2. Lí THUYT LA CHN CễNG NGH.
1.2.1. S cn thit phi la chn cụng ngh.
Chuyn giao cụng ngh úng mt vai trũ vụ cựng quan trng i vi cỏc
nc, c bit l cỏc nc ang phỏt trin ang cú nhu cu tip nhn cụng ngh
thc hin cụng nghip hoỏ, hin i hoỏ t nc. Nhng vn t ra l
khụng phi c tip nhn cụng ngh l c m cũn phi la chn cụng ngh
nh th no. õy l vn m ton th gii hin nay ang bn ti mt cỏch sụi
ng. Cú nhiu ý kin cho rng cỏc nc ang phỏt trin v chm phỏt trin nờn
s dng cụng ngh tiờn tin v hin i da vo trỡnh sn cú ca cỏc nc
phỏt trin m thc hin vic cụng nghip hoỏ t nc. Tuy nhiờn trong mt
thi gian thc t s dng v hot ng nhiu ngi bt u nhn ra rng cụng
ngh hin i t nú khụng gii quyt c vn kộm phỏt trin ca cỏc quc
gia. Mt s cụng ngh hin i ó t ra khụng cú hiu qu v khụng thớch hp,
từ đó có nhiều xu hướng muốn tìm ra các giải pháp trung gian giữa công nghệ
mới và cũ, hiện đại và thô sơ. Từ đó xuất hiện các thuật ngữ như: “Công nghệ
phù hợp”, “Công nghệ trung gian”...
Mọi người mong muốn rằng chúng là những giải pháp chung cho mọi
nhu cầu công nghệ. Sự phù hợp với quá trình phát triển, trình độ kinh tế – xã
hội, năng lực công nghệ, trình độ khoa học kỹ thuật của từng nước. Ta biết rằng
công nghệ: máy móc, thiết bị là sản phẩm, là kết quả của tri thức khoa học.
Nhập công nghệ không chỉ đơn thuần là nhập máy móc một cách thụ
1
, (v
1
:
l
2
) tạo sản phẩm O
2
Hình 1.3. Công nghệ sử dụng nhiều lao động - ít vốn
V: Vốn lao động
L: Lao động
R: Lãi suất
R1: Giá đất
Nguồn: Chính sách công nghiệp trong các nền kinh tế thị trường phát
triển, NXB Khoa học Xã hội Hà Nội 1994.
Giả định: chất lượng lao động là thuần nhất và không có sự tác động của
các yếu tố phi kinh tế qua sơ đồ, đồ thị hàm giới hạn khả năng sản xuất ta thấy
với mỗi sự kết hợp
(v
1
:
l
1
) (v
2
:
l
2
K
O
2
a
c
v
1
v
2
O
l
1
l
2
d b L
T
1
T
2
Y
2
O
1
Y
1
Trong phần lớn các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói
riêng thông thường lao động thì dư thừa mà vốn thì khan hiếm. Nhiều nước
ngoài điều kiện tự nhiên thì lao động cũng được coi là vốn (tài nguyên) của đất
nước. Chẳng hạn như ở Việt Nam, vấn đề tạo công ăn việc làm cho người lao
động là yêu cầu bức thiết. Trong khi trình độ khoa học chưa cao, trình độ tay
này bước đầu thành công
trong việc giải quyết công an việc làm cho một khối lượng lao động lớn nhưng
về mặt hiệu quả kinh tế lâu dài thì chưa đạt được. Tuy nhiên việc tạo ra một sản
phẩm có tính cạnh tranh tốt còn cần nhiều yếu tố khác nhau chứ không chỉ đơn
thuần là công nghệ.
1.2.2.2. Mô hình 2: Công nghệ cần nhiều vốn sử dụng nhiều lao động.
Ta vẫn sử dụng hàm sản xuất Y = f(K,L,R,R
1
)
Hình I.4. Công nghệ sử dụng nhiều vốn nhiều lao động
OK: biểu thị về vốn
OL: biểu thị về lao động
V : Vốn
L : Lao động
R: lãi suất
R
1:
Giá đất
Nguồn: Chính sách công nghiệp trong các nền kinh tế thị trường phát triển,
NXB Khoa học Xã hội, 1994.
Sản lượng đầu ra Y phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau nhưng liên
quan trực tiếp và chủ yếu tới giá thành của sản phẩm lại chính là 2 nhân tố vốn
và lao động, đây là 2 nhân tố tác động tác động mạnh hơn so với các yếu tố còn
lại.
Do vậy giả định rằng chỉ có 2 nhân tố V và L biến động còn các nhân tố
khác coi như không đổi và coi như không có sự tác động của các nhân tố phi
kinh tế khác.
K
a
3
Y
1
l
1
l
1
Tại đường Y
2
với mỗi sự kết hợp các yếu tố V và L khác nhau đều cho ta
mức sản lượng như nhau: v
1
kết hợp l
1
cho O
1
, v
2
kết hợp l
2
cho O
2
. Công nghệ
T
1
cho ta sử dụng nhiều lao động ít vốn, công nghệ T
2
cho phép ta sử dụng
nhiều vốn và ít lao động. Kết hợp T
1
, T
2
, T
3
đối với các nước đang phát triển bước đầu
công nghệ T
2
đã giải quyết được công ăn việc làm cho người lao động và tiết
kiệm được vốn thế nhưng chỉ sản xuất các sản phẩm tiêu thụ trong thị trường
nội địa. T
1
là công nghệ tạo ra các sản phẩm có tính cạnh tranh cao nhưng với
điều kiện có nhiều vốn và đòi hỏi người lao động phải có trình độ tay nghề cao,
trong khi các nước đang phát triển bước đầu công nghiệp hoá và hiện đại hoá
đât nước thì trình độ tay nghề của người lao động không thể đáp ứng được yêu
cầu trên.
Ta thấy công nghệ T
3
cho mức sản lượng cao và sản phẩm đủ tính cạnh
tranh và kỹ thuật, đồng thời cũng sử dụng được nhiều lao động so với 2 công
nghệ T
1
và T
2
trong khi vốn chỉ cần ở mức v
1
.
Từ việc phân tích mô hình này ta có thể chú ý tới một số vấn đề sau:
- Công nghệ T
3
T
2
có mức sản lượng là B
Sản lượng B > sản lượng A
Công nghệ T
2
sử dụng nhiều lao động và tiết kiệm vốn hơn so với công
nghệ T
1
. Với công nghệ T
2
đã tận dụng được lao động dư thừa của các nước
Q
O
A
B
Q
1
Q
2
Q
3
C D
A’
T
1
- Công nghệ cao
T
2
- Công nghệ thấp
máy móc của công nghệ. Đây cũng là tiêu đề cho sự cất cánh về sản lượng sau
này. Bước vào năm C mức sản lượng của công nghệ T
1
và T
2
bằng nhau. Sau
năm C ta thấy mức sản lượng của công nghệ T
1
tiến nhanh ngày càng vượt xa
so với công nghệ T
2
. Sở dĩ có sự gặp nhau vào năm C là do ban đầu người sử
dụng công nghệ T
1
phải mất một thời gian làm quen và học tập vận hành do đó
ngay ban đầu sản lượng không cao. Còn người sử dụng công nghệ T
2
đặc trưng
là ban đầu công nghệ T
2
thường là công nghệ cũ kỹ lạc hậu với các nước phát
triển nhưng với các nước đang và chậm phát triển thì nó là công nghệ mới.
Ngay từ đầu nhờ sử dụng lực lượng lao động đông đảo lại không phải qua đào
tạo nên sản lượng lớn, song do công nghệ T
2
là công nghệ đã qua sử dụng hoặc
không còn phù hợp với sức cạnh tranh dẫn đến sự suy giảm về sản lượng trong
khi công nghệ T
1
ngày càng phù hợp và sản lượng tăng không ngừng vào những