Động cơ của người già vào sống trong một số trung tâm nuôi dưỡng trên địa bàn Hà Nội - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TÂM LÝ HỌC NGUYỄN ĐẮC TUÂN

ĐỘNG CƠ CỦA NGƯỜI GIÀ VÀO SỐNG TRONG MỘT SỐ
TRUNG TÂM NUÔI DƯỠNG NGƯỜI GIÀ
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SỸ TÂM LÝ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ KHANH

HÀ NỘI – 2009

HÀ NỘI – 2009 3

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI Error! Bookmark not
defined.
1. Động cơ hoạt động 9
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu động cơ hoạt động trong tâm lý học 9
1.2. Một số vấn đề lý luận về động cơ hoạt động trong tâm lý học 16
1.2.1. Định nghĩa động cơ 16
1.2.2. Định nghĩa động cơ vào sống trong trung tâm nuôi dưỡng người già. 18
1.2.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến động cơ vào sống trong trung tâm
nuôi dưỡng người già của người già 18
1.2.4. Những đặc điểm nổi bật của động cơ hoạt động 22
1.2.5. Những mặt biểu hiện của động cơ hoạt động 24
1.2.6. Mối quan hệ giữa nhu cầu và động cơ, giữa động cơ và xúc cảm 27
1.2.7. Cấu trúc của động cơ hoạt động 28
2. Người già 32
2.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu về người già 32
2.2. Một số vấn đề lý luận liên quan dến người già 40
2.2.1. Định nghĩa người già 40
2.2.2. Vai trò của người già trong đời sống gia đình và xã hội. 43
2.2.3. Một số đặc điểm phát triển về mặt sinh học của người già 45
2.2.4. Một số đặc điểm phát triển về mặt tâm lý của người già 47
2.2.5. Định nghĩa trung tâm nuôi dưỡng người già 54
Chương 2. TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 56
1. Khách thể và phạm vi nghiên cứu 56

3.1.2. Cụ Đ.N.K nói về động cơ vào sống trong trung tâm nuôi dưỡng
người già của mình 102
3.2. Phân tích trường hợp Cụ bà Đ.T.Tr 104
3.2.1. Một số thông tin chung 104
3.2.2. Cụ bà Đ.T.Tr nói về động cơ vào sống trong trung tâm nuôi
dưỡng người già của mình. 104
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107
Kết luận 107
Kiến nghị: 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

5
PHỤ LỤC

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong công cuộc đổi mới hiện nay của đất nước, nhiều người già vẫn đang
phát huy trí tuệ, kinh nghiệm khả năng và uy tín của mình để tham gia các chương
trình kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, sáng tạo trên các lĩnh vực khoa
học kỹ thuật, xã hội…, góp phần không nhỏ vào việc giữ gìn an ninh chính trị, làm
giàu cho gia đình và xã hội. Thể hiện tinh thần tuổi cao chí càng cao.
Người già là lực lượng trung kiên, chống tiêu cực, chống tham nhũng,
bảo vệ thuần phong mỹ tục, bảo vệ giá trị văn hoá truyền thống mà dân tộc đã
tạo dựng trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước.
Nhân dân ta vốn có truyền thống và nếp sống văn hoá tốt đẹp: Kính
trọng cha mẹ, ông bà và những người cao tuổi. Tôn vinh, chăm sóc người già và
phát huy vai trò, khả năng của họ, điều đó thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Việt Nam: “Uống nước nhớ nguồn”, “Kính lão đắc thọ”, “Kính già, già để tuổi
cho”; đồng thời thể hiện bản chất ưu việt của chế độ ta, thể hiện tư tưởng của Nhà
nước về phát huy mọi nguồn nhân lực nội sinh của dân tộc, trong sự nghiệp công

thúc đẩy họ đi đến quyết định như vậy?
Để trả lời cho câu hỏi trên, chúng tôi chọn vấn đề:
“Động cơ của người già vào sống trong một số trung tâm nuôi dưỡng
người già trên địa bàn Hà Nội”, làm đề tài cho luận văn Thạc sỹ của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Tìm hiểu thực trạng động cơ của người già vào sống trong trung tâm nuôi
dưỡng người già, phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến động cơ này ở họ, trên cơ

7
sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần cải thiện đời sống tinh thần của
người già tại một số trung tâm nuôi dưỡng họ.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
3.2. Khảo sát, điều tra thực trạng động cơ thúc đẩy người già vào sống
trong trung tâm nuôi dưỡng người già.
3.3. Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến động cơ của người già vào
sống trong trung tâm nuôi dưỡng người già.
3.4. Đề xuất một số kiến nghị, nhằm cải thiện đời sống tinh thần của
người già tại trung tâm nuôi dưỡng họ.
4. Đối tượng, khách thể và giới hạn nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Động cơ của người già vào sống trong trung tâm nuôi dưỡng người già.
4.2. Khách thể nghiên cứu
- Đối với khách thể là người già:
Trong công trình nghiên cứu của mình, chúng tôi nghiên cứu:
- Bằng phương pháp điều tra 110 người già đang sống trong 05
trung tâm nuôi dưỡng người già trên địa bàn Hà Nội
- Phỏng vấn sâu cá nhân 12 người già
- Nghiên cứu 02 trường hợp người già điển hình.
Liên quan đến giả thuyết nghiên cứu của mình, chúng tôi quyết định chỉ
9 CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỂ TÀI
1. Động cơ hoạt động
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu động cơ hoạt động trong tâm lý học
Động cơ là một hiện tượng tâm lý hết sức phức tạp, giữ một vai trò rất
quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống tâm lý con người. Hiện tượng tâm
lý này đã có khá nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu.
Ngay từ rất sớm các nhà tâm lý học Phương Tây đã quan tâm nghiên
cứu những yếu tố thúc đẩy hành vi của con người, do đó đã có nhiều công
trình khác nhau nghiên cứu về động cơ.
Trường phái Phân tâm học, các tác giả đã đề cập tới động lực của
hành vi con người mà họ cho rằng đó là hành vi cơ bản của hành vi con
người: Người sáng lập ra trường phái này là S.Freud (1856 – 1939) bác sĩ tâm
thần người Áo. Trường phái này đã tuyệt đối hoá vai trò của yếu tố bản năng,
coi đó là động lực cơ bản của hành vi con người. S.Freud đã khẳng định:
“Libido” là căn nguyên cội nguồn của mọi hành vi con người, ông khẳng định
yếu tố bản năng, mà hơn hết đó là bản năng tính dục, là cội nguồn căn bản nhất
thúc đẩy mọi hoạt động của con người. Bên cạnh đó ông cho rằng: Trong đời
sống tâm lý con người, không phải hành vi ý thức là chủ yếu và cơ bản mà
hành vi vô thức mới chiếm vị trí trung tâm và có vai trò quyết định đến đời
sống tâm lý của con người. Ông đã dùng hình ảnh tảng băng trôi để ví hai tầng
bậc ý thức và vô thức của đời sống tâm lý con người, phần nổi trên mặt nước ta

năng vô thức.
Còn đối với các nhà tâm lý học hành vi: Gạt thế giới nội tâm ra khỏi
đối tượng nghiên cứu của tâm lý học, Watson và Skinner (những đại biểu xuất

11
sắc của tâm lý học hành vi), về nguyên tắc, không nghiên cứu động cơ hoạt
động của con người. Các tác giả chỉ tập trung nghiên cứu hành vi có thể trực
tiếp quan sát. Để giải thích hành vi và cái đã gây ra hành vi chỉ cần kiểm soát
được những tác nhân kích thích vào cơ thể và quan sát kỹ các hành vi mà cá
nhân đó thể hiện ra là đủ. Nên nhiệm vụ của tâm lý học hành vi dự báo và
điều khiển hành vi, là những cái có thể trực tiếp quan sát, đo đạc, lượng hoá
theo các phương pháp của khoa học tự nhiên chứ không phải là những quá
trình tâm lý bên trong như ý thức, vô thức, động cơ…vv. [8, tr 95 - 108]
Trong các nghiên cứu của mình Albert Bandura không chỉ quan tâm
đến những kích thích bên ngoài mà còn đề cập đến các hoạt động nhận thức
nội tại là yếu tố có thể làm phát sinh hoạt động, những ý nghĩ có thể có trong
tương lai có thể thúc đẩy con người hành động, do đó trong mỗi một hoạt
động con người thường tự đặt ra cho mình mục tiêu để vươn tới. Mỗi khi
hành động của mình đạt được mục tiêu tự đề ra hay thất bại trong khi thực
hiện mục tiêu đó người ta tự thưởng hoặc phạt chính mình, nó trở thành
phương pháp điều chỉnh hành vi của chính chúng ta. Bên cạnh đó tác giả còn
cho rằng: Hành vi của chính chúng ta trong quá khứ có thể trở thành điểm
tham chiếu trong việc đánh giá hành vi hiện tại, đồng thời là động cơ thực
hiện tốt những hoạt động trong tương lai.
Ở đây tác giả đề cập đến tính hiệu quả của hành động, chính là phụ thuộc
vào niềm tin của cá nhân, vào bản thân mình có đạt được hay không đạt được
mục tiêu đã đề ra, do đó đã hình thành ý thức về tính hiệu quả hoạt động của bản
thân, ý thức đã tham gia vào sự lựa chọn hành vi và mức độ vượt qua khó khăn
trong khi thực hiện hành vi trong những tình huống nhất định. [8, tr 108 - 112]
Trong khi đó thì A.Maslow cho rằng: Động lực (động cơ) của nhân

hoạt động cho rằng: Nghiên cứu động cơ của con người phải xuất phát từ hoạt
động thực tiễn của con người trong những điều kiện xã hội lịch sử nhất định
để vạch ra được bản chất xã hội của động cơ.

13
X.L.Rubinstein, khi nghiên cứu về động cơ đã nhận xét: Động cơ là
yếu tố thúc đẩy và định hướng cá nhân tích cực tham gia vào các quá trình xã
hội khác nhau, làm cho nhân cách có khuynh hướng năng động, tức là thể
hiện mặt hoạt động của nó.
Còn Lêônchiép nhấn mạnh nhân cách là một quá trình tác động qua lại
lẫn nhau của nhiều hoạt động khác nhau mà giữa chúng có mối quan hệ và
được sắp xếp theo thứ bậc, nhân cách bộc lộ ra như là một tổng hoà các mối
quan hệ có thứ bậc của các hoạt động, mỗi hoạt động có thể được thúc đẩy
bởi nhiều động cơ khác nhau, trong quá trình tác động qua lại lẫn nhau của
nhiều hoạt động khác nhau đã làm xuất hiện hiện tượng phân đôi chức năng
giữa các động cơ của cùng một hoạt động, thành một bên là chức năng tạo ý,
đồng thời cũng có chức năng thúc đẩy và bên kia chỉ là chức năng thúc đẩy
(không có chức năng tạo ý). Chức năng tạo ý xuất hiện từ những động cơ mà
trong quá trình hoạt động, chúng làm xuất hiện ở chủ thể một mối quan hệ
thiết thân với đối tượng, mang lại cho chủ thể một ý nghĩa đặc biệt chi phối
lối sống của nó, quy định sự biểu hiện hành vi của nó. Nói cách khác, nó gắn
liền một cách trực tiếp với sự hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân.
Trong khi đó cũng trong hoạt động này những động cơ khác không mang lại
cho cá nhân những trải nghiệm như vậy mà chỉ có chức năng kích thích đơn
thuần. Điều đó cho phép chúng ta hiểu được những quan hệ chủ yếu nói lên
đặc trưng của lĩnh vực động cơ của nhân cách, quan hệ thứ bậc của các động
cơ. Thứ bậc của động cơ này làm thành một trường động cơ chiếm vị trí trung
tâm trong cấu trúc nhân cách. Thứ bậc của các hoạt động được thực hiện
thông qua thứ bậc của các động cơ tạo ý phù hợp với nó.
B.F.Lomov, đã khẳng định vị trí đặc biệt quan trọng của động cơ trong

tập, động cơ chọn nghề nghiệp, động cơ duy trì và phát triển nghề truyền

15
thống, động cơ hiến máu, động cơ tiêu dùng, động cơ mua bán, động cơ lao
động … Chưa có đề tài nào nghiên cứu động cơ của người già vào sống trong
các trung tâm nuôi duỡng người già. Điều đó được trình bày cụ thể dưới đây:
Năm 2005 tác giả Nguyễn Thị Lệ Thu với công trình nghiên cứu:
“Động cơ học tập của học sinh trường Phổ thông trung học - Huyện Hạ Hoà -
Tỉnh Phú Thọ.
Năm 2006 tác giả Trần Thị Thơm với công trình nghiên cứu: “Động cơ
học tập chuyên ngành tâm lý học của sinh viên khoa tâm lý học Trường đại
học khoa học xã hội và nhân văn”.
Năm 2006 tác giả Đào Lan Hương với đề tài: “Động cơ học tập của
sinh viên Trường Cao Đẳng sư phạm Bắc Ninh”.
Năm 2007 Phan Thị Hồng Phương với đề tài: “Động cơ hiến máu của
sinh viên”.
Năm 2007 Nguyễn Thị Huyên tiến hành công trình nghiên cứu: “Tìm
hiểu động cơ thúc đẩy người dân duy trì và phát triển nghề truyền thống.
Năm 2007 Tác giả Vũ Tuấn Nam tiến hành công trình nghiên cứu:
“Động cơ mua bán chất mà tuý của phạm nhân tại trại giam Z30D cục V26
Bộ công an”, tác giả đã đưa ra những kết luận sau:
- Có nhiều động cơ thúc đẩy phạm nhân phạm tội mua bán các chất ma
tuý, trong đó động cơ vì bị túng quẫn và vì bị nghiện là chủ yếu.
- Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan làm xuất hiện những
nhu cầu nổi trội, vượt quá khả năng của bản thân, thậm chí là những nhu cầu
bệnh hoạn, những nguyên nhân đó là: Sự tác động của nền kinh tế thị trường,
những tác động của những yếu tố tiêu cực của xã hội, của môi trường sống
làm tha hoá, băng hoại về nhân cách và quan điểm, lối sống của một bộ phận
dân cư, làm sai lệch định hướng giá trị.
- Với bản thân những phạm nhân tội phạm mua bán các chất ma tuý ở


17
quy định này được thực hiện gián tiếp bằng quá trình phản ánh động cơ đó.
Thông qua động cơ của mình, con người liên hệ với bối cảnh của hiện thực.
A.N.Lêônchiép thì khẳng định: Động cơ chính là đối tượng có khả
năng thoả mãn nhu cầu đã được chủ thể tri giác, tư duy, tưởng tượng, đó là sự
phản ánh chủ quan về đối tượng thoả mãn nhu cầu. [8, tr 7 - 12]
Tác giả Vũ Tuân Nam trong công trình nghiên cứu, động cơ mua bán
các chất ma tuý của phạm nhân tại trại giam Z30D cục V26 Bộ công an, đưa
ra quan niệm về động cơ như sau: “Động cơ là động lực thúc đẩy, định hướng
hoạt động của con người, nhằm thoả mãn những nhu cầu đa dạng của cuộc
sống”. [13, tr 13]
Lê Khanh trong tập bài giảng tâm lý học nhân cách hiểu: Động cơ là
sức mạnh tinh thần được nảy sinh từ một nhu cầu mà đối tượng thoả mãn nó
đã được chủ thể làm xuất hiện một cách rõ ràng trong đầu óc mình dưới hình
thức biểu tượng, có sức thúc đẩy hành động có hướng nhằm thoả mãn nhu cầu
của chủ thể.
Nhìn chung các tác giả đều nhấn mạnh mối quan hệ khăng khít giữa
nhu cầu và động cơ trong hoạt động thực tiễn của con người trong các mối
quan hệ xã hội mà họ là thành viên tích cực; động cơ có bản chất xã hội.
Các nhà tâm lý học hoạt động đã khẳng định: Động cơ hoạt động của
con người được hình thành và phát triển ngay trong quá trình con người hoạt
động và giao lưu trong các mối quan hệ xã hội mà nó gia nhập vào một cách
có ý thức. Động cơ hoạt động của con người, do đó có bản chất xã hội và
không tách rời khỏi sự vận động, phát triển của ý thức. Động cơ của con
người, cũng như nhu cầu, nảy sinh từ hoạt động lao động của chính người đó,
vì vậy để tìm hiểu động cơ và nhu cầu của một người nào đó chúng ta phải
tiến hành nghiên cứu thông qua hoạt động có ý thức của họ.
Tiếp thu có chọn lọc quan điểm về động cơ của các nhà tâm lý học hoạt
động, khi triển khai nghiên cứu đề tài này chúng tôi hiểu:

Trong đời sống tâm lý con người, định hướng giá trị cuộc sống được
hình thành và phát triển chính trong cuộc sống của họ. Nó trở thành yếu tố

19
quan trọng cho sự xác định mục đích sống, lối sống, điều khiển, điều chỉnh
mọi hoạt động trong các mối quan hệ xã hội của mỗi người.
Có rất nhiều yếu tổ ảnh hưởng đến động cơ vào sống trong trungt âm
nuôi dưỡng người giàg của các cụ, nhưng theo chúng tôi thì yếu tố giá trị cuộc
sống của người già, yếu tố về sự quan tâm chăm sóc của con cháu các cụ là
những yếu tố cơ bản nhất ảnh hưởng đến động cơ vào sống trong trung tâm
nuôi dưỡng người già của các cụ. Những yếu tố đó được chúng tôi trình bày
cụ thể như sau:
- Yếu tố giá trị cuộc sống của người già
Người già trong phạm vi nghiên cứu của chúng tôi, đang sống trong các
trung tâm nuôi dưỡng dành cho người già là một lớp người đã trải qua nhiều biến
động trong lịch sử phát triển của Đất nước. Là lớp người đã có nhiều đóng góp
làm nên chiến thắng vẻ vang của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
vĩ đại của dân tộc, chứng nhân của cuộc cải cách ruộng đất, của cơ chế bao cấp,
của chế độ tem phiếu những năm trước 1986 và cũng đang là chủ thể của công
cuộc đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế của đất nước hôm nay. Có thể nói đây
là lớp người được tôi luyện trong thực tiễn đấu tranh xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc trong một giai đoạn lịch sử rất đáng tự hào của dân tộc ta.
Phần đông trong số họ, những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc
như: Lòng yêu nước gắn với yêu chủ nghĩa xã hội, sống vì người khác, vì tập
thể, sẵn sàng đặt quyền lợi tập thể lên trên quyền lợi cá nhân khi cần thiết, sẵn
sàng quên mình vì sự trưởng thành của con cháu, trọng nghĩa tình, trọng danh
dự, trọng chữ tín, và phẩm giá con người, vv…đã được hình thành và củng cố
một cách vững chắc trong cuộc sống đầy biến động của họ. Hệ thống giá trị
này trở thành niềm tin và chỗ dựa vững chắc cho những ứng xử và đánh giá
của họ đối với bản thân và người khác trong cuộc sống hôm nay. Chính


21
kinh tế đầy đủ, nhưng bầu không khí gia đình không hoà thuận, con cháu
không biết kính trên nhường dưới, không quan tâm chăm sóc ông bà thì bệnh
tật càng nhiều ở người già. Người già rất coi trọng đời sống tinh thần, họ luôn
mong muốn được tiếp xúc trò chuyện với mọi người, nhất là đối với con cháu
Niềm hy vọng của cuộc đời họ, vì điều đó mà họ đã cống hiến cả cuộc
đời mình.
Sống dưới mái ấm đại gia đình, các cụ hưởng được sự chăm sóc cả vật
chất lẫn tinh thần. Yếu tố tinh thần lại có ảnh hưởng không ít tới sức khoẻ thể
chất của các cụ. Cho nên truyền thống phụng dưỡng cha mẹ không những tốt
đẹp về phương diện văn hoá mà còn tốt về phương diện kinh tế bằng cách
giảm thiểu tốn kém về các dịch vụ y tế dành cho các cụ.
Quan tâm chăm sóc người già không chỉ đơn giản là đói thì có cơm ăn,
ốm yếu thì có thuốc uống, chạy chữa cho khỏi bệnh, mà quan trọng hơn là
trong ứng xử của con cháu phải thể hiện được sự tôn trọng niềm tin và những
nhân phẩm cũng như những giá trị của cha mẹ đã được hình thành trong cả
cuộc đời của họ, không để các cụ cảm thấy bị khinh rẻ, coi thường, là người
thừa, bị coi là đối tượng cần được cải tạo cho phù hợp với thời đại mới. Trái
lại trong ứng xử của con cháu phải cố gắng khơi dậy những sức mạnh còn
tiềm ẩn trong các cụ, làm cho các cụ tiếp tục vươn lên chiến thắng tuổi già
đóng góp sức lực còn lại cho gia đình và xã hội. Do đó các thế hệ con cháu
muốn làm được điều đó thì khi sống chung với cha mẹ phải thành kính với
cha mẹ, phải vui vẻ hết lòng phụng dưỡng, phải lo lắng thuốc thang hết lòng
chạy chữa cho cha mẹ khi đau ốm vv… chính vì vậy mà người xưa thường
dạy con cháu phải dưỡng thân, tôn thân, tuân thân, lễ thân, quang thân.
Do đó nếu con cháu mà chăm sóc nhưng không tôn trọng các cụ, các cụ
cảm thấy như đó là sự chiếu lệ của con cháu cho mình thì khiến họ tủi hổ và
buồn chán, không được cháu con tôn trọng như trước mà các cụ không tìm
thấy sự bình yên và niềm vui tại chính ngôi nhà thân quen của mình nên họ

ý, song trong trường hợp khác lại chỉ có chức năng kích thích.

23
Động cơ là một cấu trúc có thứ bậc cho nên tính thứ bậc là đặc trưng cơ
bản của động cơ nhân cách, gồm: Động cơ tạo ý và động cơ kích thích, trong
đó động cơ tạo ý bao giờ cũng chiếm vị trí thứ bậc cao mặc dù không trực tiếp
có tính chất gợi cảm. Động cơ tạo ý xuất hiện từ những động cơ mà trong quá
trình hoạt động chúng làm xuất hiện ở chủ thể một mối quan hệ thiết thân với
đối tượng, mang lại cho chủ thể một ý nghĩa đặc biệt chi phối lối sống của nó,
quy định sự biểu hiện hành vi của nó, nói cách khác nó gắn liền một cách trực
tiếp với sự hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân. Trong khi đó cũng
trong hoạt động này những động cơ khác không mang lại cho cá nhân những
trải nghiệm như vậy mà chỉ có chức năng kích thích đơn thuần. Điều đó cho
phép chúng ta hiểu được những quan hệ chủ yếu nói nên đặc trưng của lĩnh
vực động cơ, thứ bậc của động cơ làm thành một trường động cơ chiếm vị trí
trung tâm trong cấu trúc nhân cách.
Tất cả các nhà nghiên cứu tâm lý học khi đề cập đến động cơ của hoạt
động đều chỉ ra mối quan hệ giữa động cơ và nhu cầu, tuy nhiên, ở đây tính
thứ bậc của động cơ hoàn toàn khác so với tính thứ bậc của nhu cầu theo cách
hiểu của A. Maslow. Quan hệ thứ bậc giữa các động cơ được quy định bởi
những mối liên hệ được hình thành trong hoạt động của chủ thể trong các mối
quan hệ xã hội mà người mang động cơ đó gia nhập vào, những mối liên hệ
được hình thành không giống nhau mà nó tuỳ thuộc vào tính đặc thù của
những điều kiện và hoàn cảnh diễn ra hoạt động, làm cho sự sắp xếp thứ bậc
giữa các động cơ có thể thay đổi, vì thế mà sự sắp xếp thứ bậc giữa các động
cơ là không cứng nhắc, không nhất thành bất biến. Vì vậy trong điều kiện này
của hoạt động thì động cơ này có thể có chức năng tạo ý, còn trong điều kiện,
hoàn cảnh khác của hoạt động thì động cơ khác lại giữ chức năng tạo ý. Như
vậy sự vận động và phát triển của động cơ có vai trò đặc biệt quan trọng trong
sự hình thành và phát triển nhân cách diễn ra trong quá trình vận động, phát

tạp, có sự thống nhất hay không thống nhất.

25
- Biểu hiện mặt nhận thức của động cơ hoạt động
Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người
(Nhận thức, tình cảm và hành động). Nó là tiền đề của hai mặt kia đồng thời
có quan hệ chặt chẽ với chúng và với các hiện tượng tâm lý khác.
Khi con người tham gia vào một hoạt động nào đó, cái thúc đẩy con
người tiến hành hoạt động chính là động cơ, theo khái niệm động cơ chúng tôi
đã đưa ra thì: “Động cơ là sức mạnh tinh thần được nảy sinh từ một nhu cầu
mà đối tượng của nó đã được chủ thể hình dung một cách hết sức rõ ràng
trong đầu óc mình một cách có ý thức dưới hình thức biểu tượng, có sức thúc
đẩy một hành động có hướng nhằm thoả mãn nhu cầu của chủ thể”. Để hình
thành được động cơ thúc đẩy hành động của con người, chủ thể đó phải nhận
thức một cách chính xác và đầy đủ về đối tượng một cách có ý thức, chính
nhận thức đã điều khiển, điều chỉnh hành động của chủ thể đạt được mục đích
nhằm thoả mãn nhu cầu của chủ thể, ngoài ra chủ thể còn có khả năng đánh
giá hoạt động, đánh giá thái độ của chính bản thân chủ thể rồi quyết định tiến
hành hoạt động đó. Do đó tính chất động cơ hành động của chủ thể như thế
nào, trước tiên phụ thuộc vào những biểu hiện mặt nhận thức của nó về đối
tượng, đối với quá trình hoạt động, đối với chính bản thân chủ thể vv. Vậy
biểu hiện mặt nhận thức của động cơ có vai trò rất quan trọng trong quá trình
tìm hiểu và đánh giá động cơ hoạt động của con người.
Đối với đề tài này, chúng tôi muốn tìm hiểu biểu hiện mặt nhận thức
của động cơ vào sống trong trung tâm nuôi dưỡng người già của các cụ thể
hiện ở sự nhận thức về vai trò, ý nghĩa tầm quan trọng của các trung tâm nuôi
dưỡng người già đối với các cụ. Khi các cụ đã nhận thức được vai trò, ý
nghĩa, tầm quan trọng của các trung tâm nuôi dưỡng người già đối với các cụ
thì nó đã góp phần vào quá trình hình thành động cơ cũng như thúc đẩy người
già vào sống trong các trung tâm nuôi dưỡng người già như thế nào. Tuy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status