1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÀO THỊ TƯ DUYÊN
NHU CẦU VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI DÂN
Ở MỘT SỐ VÙNG ĐÔ THỊ HÓA TẠI HẢI PHÒNG LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Tâm lý học Hà Nội – 2012
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
4
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Nhận thức của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải
Phòng về ý nghĩa của việc làm đối với người dân vùng đô thị hóa. 51
Bảng 2: Nhận thức của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải
Phòng về giá trị của việc làm đối với bản thân và gia đình. 57
Bảng 3: Nhận thức của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải
Phòng về những thuận lợi để có việc làm nhằm thỏa mãn nhu cầu việc
làm của bản thân và gia đình. 62
Bảng 4: Đối tượng hướng tới của người dân ở một số vùng độ thị hóa tại
6
Mục lục
MỞ ĐẦU 8
1. Lý do chọn đề tài. 8
2. Mục đích nghiên cứu 9
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 9
4. Đối tượng nghiên cứu 10
5. Khách thể nghiên cứu 10
6. Phạm vi nghiên cứu 10
7. Giả thuyết nghiên cứu 10
8. Phương pháp nghiên cứu. 11
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN 50
3.1. Thực trạng nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị
hóa tại Hải Phòng 50
3.1.1. Nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại
Hải Phòng biểu hiện qua nhận thức 50
3.1.2. Nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa
biểu hiện qua việc làm mà họ hướng tới (đối tượng cụ thể). 77
3.1.3 Nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại
Hải Phòng thể hiện qua một số hành động cụ thể. 83
3.2. Đánh giá mức độ nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng
đô thị hóa tại Hải Phòng. 92
3.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu việc làm của người dân ở
một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng 94
3.4. Một số kết quả nghiên cứu chân dung tâm lý về nhu cầu việc làm
của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng 102
3.5. Một số giải pháp tâm lý - xã hội giúp người dân ở một số vùng đô
thị hóa tại Hải Phòng thỏa mãn nhu cầu việc làm của bản thân và gia
đình. 106
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
8
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Cuộc sống của chúng ta muôn màu, muôn sắc nhưng đều tuân
theo một quy luật nhất định, đó là quy luật hai chiều. Thế giới có âm, có
dương, vạn vật hữu sinh hữu diệt, con người có nam có nữ, có cái tích
xã hội.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về nhu cầu, các mức độ của nhu
cầu việc làm cũng như một số yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu việc làm
của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng. Từ đó đề xuất
một số giải pháp tâm lý - xã hội giúp nhà nước đưa ra các chính sách
phát triển việc làm góp phần thỏa mãn nhu cầu việc làm cho người dân ở
vùng đô thị hóa.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu lý luận
- Đọc và phân tích các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước
về nhu cầu, nhu cầu việc làm để làm rõ một số khái niệm cơ bản của đề
tài như: Khái niệm nhu cầu, khái niệm nhu cầu việc làm, khái niệm nhu
cầu việc làm của người dân ở vùng đô thị hóa để hoàn thành cơ sở lý
luận của đề tài.
- Nghiên cứu các văn bản, tài liệu của Đảng, nhà nước về việc làm
và tạo việc làm cho người dân vùng đô thị hóa.
3.2. Nghiên cứu thực tiễn
- Nghiên cứu thực trạng nhu cầu việc làm của người dân ở một số
vùng đô thị hóa tại Hải Phòng biểu hiện qua nhận thức, đối tượng hướng
tới và hành động cụ thể để thỏa mãn nhu cầu việc làm của bản thân và
gia đình.
- Đưa ra một số giải pháp tâm lý - xã hội giúp chính quyền địa
phương đưa ra giải pháp tạo việc làm nhằm thỏa mãn nhu cầu việc làm
của người dân.
10
4. Đối tượng nghiên cứu
8. Phương pháp nghiên cứu.
8.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến đề tài để tìm hiểu sâu
hơn những khái niệm công cụ nhằm hoàn thiện cơ sở lý luận của đề tài.
8.2. Phương pháp chuyên gia
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để nâng cao sự hiểu biết về
lĩnh vực mà mình nghiên cứu cũng như cách thức tiến hành nghiên cứu.
8.3. Phương pháp quan sát
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng để thu thập những
thông tin mà phiếu bảng hỏi chưa làm được.
8.4. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Chúng tôi sử dụng các câu hỏi đóng, câu hỏi mở nhằm thu thập
thông tin chính, liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu trên cơ sở thực
tiễn.
8.5. Phương pháp phỏng vấn sâu
Để có thêm thông tin chân thực, rõ ràng và chính xác phục vụ việc
nghiên cứu, chúng tôi đưa ra một số câu hỏi phỏng vấn sâu người dân và
chính quyền địa phương.
8.6. Phương pháp nghiên cứu chân dung tâm lý.
Phương pháp này được thực hiện nhằm phản ánh rõ nét hơn về
mức độ nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải
Phòng và nguyên nhân của mức độ đó.
8.7. Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán
học
Chúng tôi sử dụng công thức tính trung bình, tính phần trăm và sử
dụng phần mềm SPSS để phân tích, xử lí kết quả thu được từ phiếu điều
tra bằng bảng hỏi.
13
tâm lý học hành vi nghiên cứu khá rõ và kĩ về nhu cầu, đặc biệt là những
nhu cầu cụ thể, nhu cầu sinh lý.
Clack Hull với thuyết xung năng theo hướng tiếp cận sinh học cho
rằng: Các nhu cầu sinh lý chi phối đời sống con người mặc dù ông
không phủ định sự có mặt của những nhu cầu, động cơ khác. Về bản
chất, thuyết xung năng đã sinh vật hóa nhu cầu của con người. Xem nhu
cầu như là xung năng mang tính sinh vật, nảy sinh từ sự thiếu hụt thức
ăn, nước uống, không khí, nguy hiểm… qua đó phủ nhận tính xã hội,
bản chất xã hội của nhu cầu. Quy gán: nhu cầu nội tâm và nhu cầu xã
hội đều do nhu cầu sinh vật tạo ra.
Trong lý thuyết phân tâm của mình, Freud (1856 - 1939) đã đề
cập đến vấn đề nhu cầu của cơ thể trong “Lý thuyết bản năng của con
người”. Ông khẳng định, Phân tâm học coi trọng nhu cầu tự do cá nhân
như các nhu cầu tự nhiên, đặc biệt là nhu cầu tình dục. Việc thoả mãn
nhu cầu tình dục sẽ giải phóng năng lượng tự nhiên và như thế tự do cá
nhân thực sự được tôn trọng, kìm hãm nhu cầu này sẽ dẫn đến hành vi
mất định hướng của con người. “Khát dục” trong Phân tâm học không
có ý nói đến việc thỏa mãn những khát khao thông thường mà là sự đòi
hỏi thỏa mãn những khát khao mãnh liệt. Những mong muốn này được
thỏa mãn sẽ đem lại cho con người những khoái cảm đặc biệt và sẽ tạo
ra một trạng thái tâm lý sung sướng, khoan khoái, dễ chịu. Khi một khát
vọng nào đó chưa được thỏa mãn thì sự căng thẳng về mặt tâm lý lên
đến tột đỉnh”.
Erich Fromm nhà Phân tâm học mới quan niệm: “Nhu cầu tạo ra
cái tự nhiên của con người, đó là những nhu cầu:
1. Nhu cầu quan hệ người - người.
2. Nhu cầu tồn tại “cái tâm” con người
3. Nhu cầu đồng nhất bản thân và xã hội với dân tộc, giai cấp, tôn
nhân cách của mỗi người. Sự phát triển của mỗi nhu cầu trong thang nhu
cầu đều phụ thuộc vào những nhu cầu khác có được thỏa mãn hay
15
không. Maslow gọi những nhu cầu ở bậc thang thấp là những nhu cầu bị
thiếu hụt (không được thỏa mãn dễ gây ra sự thiếu hụt cho cơ thể). Trái
lại, những nhu cầu ở bậc thang cao do ít cần thiết cho sự tồn tại nên việc
thỏa mãn những nhu cầu này có thể trì hoãn (không nhất thiết phải thỏa
mãn ngay). Tuy nhiên, việc thỏa mãn những nhu cầu ở bậc thang cao lại
quan trọng cho sự phát triển của cá nhân nên Maslow gọi các nhu cầu
này là nhu cầu phát triển. Nó có tác dụng kích thích sự xuất hiện những
nhu cầu mới hướng tới hoàn thiện con người qua sự tham gia vào những
hoạt động có tính thách thức ngày một nhiều hơn. [trích bởi 12, 126 -
127]
Thứ tự thỏa mãn nhu cầu lần lượt từ thấp đến cao theo kiểu “leo
thang” như cách luận giải của Maslow là một quan niệm máy móc và
cứng nhắc không phù hợp với thực tiễn diễn ra trong đời sống tâm lý
con người. Tuy nhiên, quan niệm này có ý nghĩa rất lớn đối với những
nghiên cứu về nhu cầu của các nhà Tâm lý học sau này.
Khi nghiên cứu về vấn đề nhu cầu Herry Murray khẳng định:
“Nhu cầu là một tổ chức cơ động, hướng dẫn và thúc đẩy hành vi. Nhu
cầu ở mỗi người khác nhau về cường độ, mức độ, đồng thời các loại nhu
cầu chiếm ưu thế cũng khác nhau ở mỗi người”. Do ảnh hưởng của phân
tâm học nên ông cho rằng nhu cầu quy định xu hướng nhân cách đều
xuất phát từ nguồn năng lượng libido vô thức.
Tuy nhiên, ông cũng đưa ra quan điểm tiến bộ về nhu cầu: Thể
nghiệm ban đầu là cảm giác băn khoăn luôn ám ảnh con người cũng như
con người cảm thấy thiếu thốn một cái gì đó, nó cần thiết cho hoạt động
sống của chủ thể và do đó gây cho chủ thể một mục đích tích cực nhất
định.
2. Nhu cầu thực tế
3. Nhu cầu không được nói ra
4. Nhu cầu được thích thú
5. Nhu cầu thầm kín
17
Nhìn chung, quan điểm của ông về nhu cầu chỉ ứng dụng trong
hoạt động quản trị kinh doanh nhưng nó cũng đóng góp một phần trong
việc tìm hiểu nhu cầu của con người.
D. N. Uznatze là người đầu tiên trong tâm lý học Xô Viết nghiên
cứu về nhu cầu. Ông khám phá ra mối quan hệ giữa nhu cầu và hành vi,
tương ứng với mỗi kiểu hành vi là một nhu cầu. Ông cho rằng: “Không
có gì đặc trưng cho một cơ thể sống hơn sự có mặt của nó ở nhu cầu.
Nhu cầu, đó là cội nguồn của tính tích cực”. Với ý nghĩa này thì khái
niệm nhu cầu rất rộng, nhu cầu là một thuộc tính tâm lý đặc trưng giữ
vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hành vi. Theo ông: “Nhu cầu là
yếu tố quyết định tạo ra tính tích cực của chủ thể, nó xác định xu hướng,
tính chất hành vi”. Đồng thời Uznatze khẳng định: “Có thể dựa vào nhu
cầu của con người để phân loại hành vi của con người”. [15, 20]
X.L Rubinstein khẳng định: Con người có nhu cầu sinh vật nhưng
bản chất của con người là sản phẩm của xã hội vì thế phải xem xét đồng
thời các vấn đề cơ bản của con người với nhân cách. Nói đến nhu cầu
của con người là nói đến việc đòi hỏi một cái gì đó hay một điều gì đó
nằm ngoài con người có thể thỏa mãn nhu cầu. Khả năng đáp ứng những
đòi hỏi ấy một mặt phụ thuộc vào thế giới đối tượng trong những điều
kiện cụ thể, mặt khác nó phụ thuộc vào sự nỗ lực, năng lực của chính
chủ thể. Do đó, khi nói đến nhu cầu sẽ xuất hiện hai hệ thống là: thế giới
đối tượng và trạng thái tâm lý của chủ thể, tức là phải có mối quan hệ
thống nhất giữa hai yếu tố khách quan (của đối tượng) và yếu tố chủ
quan (của chủ thể) trong hoạt động thỏa mãn nhu cầu. [15, 21]
khác nhau với những mục đích khác nhau sẽ có nhu cầu khác nhau, thậm
chí ở một cá nhân, tại một thời điểm cũng có thể có nhiều nhu cầu khác
nhau cùng tồn tại nhưng sẽ có một nhu cầu cơ bản, thiết yếu nhất nổi lên
buộc cá nhân phải thỏa mãn ngay, các nhu cầu khác có thể tạm thời trì
hoãn được.
19
Khi xem xét mối quan hệ giữa nhu cầu với động cơ, ông cho rằng:
“Khi đối tượng của nhu cầu xuất hiện, được nhận biết (được cảm nhận,
được hình dung hoặc được tư duy) thì có được chức năng thúc đẩy,
hướng dẫn hoạt động tức là trở thành động cơ. Hay nội dung đối tượng
của nhu cầu chính là động cơ của hoạt động. Một hoạt động diễn ra bao
giờ cũng hướng vào việc đạt mục đích, đạt kết quả ở một mức độ nhất
định. Động cơ của hoạt động chính là cái nhu cầu đã được đối tượng hóa
và được hình dung trước dưới dạng các biểu tượng của kết quả hoạt
động”. [10, 21]
Như vậy, có rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu về nhu
cầu và họ đều đưa ra những quan điểm và dẫn chứng chứng minh cho
tính đúng đắn của nó dựa trên cách tiếp cận của riêng mình. Tuy nhiên,
quan điểm về nhu cầu của các nhà Tâm lý học Xô Viết dường như được
nhiều nhà khoa học đồng thuận hơn cả. Ở Việt Nam hiện nay, khi
nghiên cứu về nhu cầu cũng lấy quan điểm của các nhà Tâm lý học Xô
Viết làm nền tảng.
Trong nghiên cứu mới nhất của các nhà khoa học Mỹ về nhu cầu
việc làm công nghệ thông tin chỉ ra rằng: Nhu cầu về các nhà chuyên
nghiệp công nghệ thông tin (CNTT) đang dâng lên nhanh hơn mong đợi.
Bùng nổ của công nghệ thông tin trong kinh doanh toàn cầu nơi "dây
chuyền giá trị" được kết nối từ khách hàng tới nhà chế tạo và nhà cung
cấp và gần đây với thị trường ứng dụng di động đã làm tăng thêm nhiều
nhu cầu đối với việc thiếu hụt công nhân.
mong muốn của cá nhân đòi hỏi phải thỏa mãn để tồn tại và phát triển”
[16; 52].
Các tác giả Phạm Minh Hạc, Lê Khanh và Trần Trọng Thủy lại
viết rằng: “ Để tồn tại và phát triển cá nhân phải đòi hỏi ở môi trường
xung quanh những cái cần thiết (không thể thiếu) cho mình. Sự đòi hỏi
ấy là nhu cầu của cá nhân. Nói đến nhu cầu là nói đến sự đòi hỏi của cá
nhân về một cái gì đó ở ngoài nó, cái đó có thể là một sự vật, một hiện
21
tượng hoặc những cái khác. Trong ý nghĩa đó nhu cầu biểu lộ sự gắn bó
của cá nhân với thế giới xung quanh, sự phụ thuộc của cá nhân vào thế
giới đó”. Mặt khác “khi xuất hiện một nhu cầu cụ thể thì chủ thể sẽ
hướng trí lực của mình vào việc tìm kiếm các phương thức, điều kiện để
thoả mãn nhu cầu đó, vì vậy nảy sinh đòi hỏi với tư cách là phương thức
thoả mãn nhu cầu. Nhu cầu xuất hiện với cường độ mạnh, thúc đẩy con
người hoạt động nhằm thoả mãn nó. Khi nhu cầu không được thoả mãn,
ở chủ thể sẽ xuất hiện trạng thái căng thẳng, cảm xúc âm tính”.
Như vậy, các nhà Tâm lý học trong nước đã khẳng định nhu cầu
là hình thức tồn tại giữa cơ thể sống và thế giới xung quanh, là nguồn
gốc của tính tích cực. Mọi hoạt động của con người đều là quá trình tác
động vào đối tượng nhằm thoả mãn nhu cầu. Với ý nghĩa đó, nhu cầu
được hiểu là trạng thái cảm nhận được sự cần thiết của đối tượng đối với
sự tồn tại và phát triển của mình và xuất hiện như là nguồn gốc tạo ra
tính tích cực hoạt động. Nhu cầu được thoả mãn sẽ tạo ra nhu cầu mới ở
mức độ cao hơn, con người sau khi hoạt động để thoả mãn nhu cầu này
sẽ làm phát triển nó và nảy sinh ra nhu cầu khác cao hơn nữa.
Bên cạnh các tập sách viết về nhu cầu còn có nhiều công trình
nghiên cứu về nhu cầu trên khách thể là học sinh, sinh viên của các tác
giả như Nguyễn Thạc, Hoàng Thị Thu Hà, Hà Thị Hòa Bình… Ngoài ra,
cũng có khóa luận, luận văn, luận án của các bạn sinh viên, học viên,
của sinh viên sư phạm là nhu cầu học tập chuyên nghiệp, ở trình độ cao
về nghề dạy học, là nhu cầu lĩnh hội hệ thống kiến thức khoa học, kỹ
năng, kỹ xảo mới, cách thức tiếp cận chúng; đáp ứng yêu cầu chuyên
môn, nghiệp vụ sư phạm hướng tới việc rèn luyện và hoàn thiện nhân
cách giáo viên tương lai. Nó là thành tố cơ bản của động cơ học tập
mang tính nghề nghiệp thúc đẩy sinh viên tích cực học tập, nâng cao kết
quả học tập” (10, 58).
Các công trình nghiên cứu trên đã làm rõ thêm lý luận về nhu cầu,
vai trò của nhu cầu trong thực tiễn đời sống tâm lý của con người.
23
Nhu cầu việc làm là nhu cầu được làm việc, được hoạt động, nó là
nhu cầu cấp cao, được con người sáng tạo ra và có sự tham gia mạnh mẽ
của ý thức, nó khác với nhu cầu sinh học. Hoạt động là yếu tố hiện thực
hóa nhu cầu, là bằng chứng thể hiện và khẳng định giá trị tồn tại của con
người, không ai sống mà không hoạt động, không làm việc. Bởi thế nhu
cầu việc làm có ở bất kỳ cá nhân nào trong xã hội và mức độ thiết thân,
thường trực của nó ở mỗi cá nhân khác nhau là khác nhau.
1.2. Một số khái niệm công cụ của đề tài
1.2.1. Khái niệm nhu cầu
1.2.1.1. Khái niệm
Theo “Từ điển tâm lí học” của tác giả Nguyễn Khắc Viện: “Nhu
cầu là điều cần thiết để đảm bảo sự tồn tại và phát triển. Được thỏa mãn
thì dễ chịu, thiếu hụt thì khó chịu, căng thẳng, ấm ức. Có nhu cầu của cá
nhân, nhu cầu của tập thể, khi hòa hợp, khi thu ẩn, có nhu cầu cơ bản
thiết yếu, có nhu cầu thứ yếu giả tạo. Nhu cầu do trình độ phát triển xã
hội mà biến đổi, cho nên cần xác định rõ ràng những tiêu chuẩn sinh lí,
xã hội, tâm sinh lí để phân biệt những nhu cầu xác đáng với những ham
muốn đòi hỏi không quan trọng”. [18, 266]
Trần Hiệp trong “Tâm lí học xã hội - những vấn đề lí luận” cho
Vì quá trình thỏa mãn nhu cầu của con người là hoạt động có định
hướng nên nhu cầu là nguồn gốc của tính tích cực. Nhu cầu và mục đích
của con người có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Mục đích của con người
là nhu cầu được ý thức chủ quan, con người tin rằng nhu cầu chỉ thực sự
thỏa mãn khi đạt được mục đích. Điều đó tạo cho họ khả năng cân nhắc
giữa hình dung chủ quan của họ về nhu cầu với nội dung khách quan của
nó khi tìm kiếm công cụ để đạt được mục đích tức là chiếm lĩnh đối
tượng. Nếu nhu cầu không được thỏa mãn sẽ làm nảy sinh xúc cảm âm
tính, kìm hãm hoạt động của con người gây ra những hậu quả nặng nề về
thể chất và tinh thần.
25
Như vậy, có rất nhiều quan niệm khác nhau về nhu cầu, trong đề
tài này, chúng tôi quan niệm: “Nhu cầu là trạng thái tâm lý của con
người, là mong muốn, là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được
thỏa mãn để tồn tại và phát triển với tư cách là một nhân cách”.
1.2.1.2. Đặc điểm của nhu cầu
+ Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng.
Theo X. L. Rubinstein ở cấp độ tâm lý nhu cầu bao giờ cũng có
đối tượng xác định. Đối tượng của nhu cầu nằm ngoài chủ thể lại là nơi
chứa đựng khả năng thỏa mãn nhu cầu ấy. Bản thân đối tượng đáp ứng
nhu cầu luôn tồn tại một cách khách quan và không tự bộc lộ ra khi chủ
thể có cảm giác thiếu hụt hay đòi hỏi. Nó chỉ bộc lộ ra khi chủ thể tiến
hành hoạt động, nhờ vậy mà nhu cầu có tính đối tượng.
Nhu cầu là yếu tố đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của con
người bởi nó luôn là động lực thúc đẩy con người hoạt động. Khi nhu
cầu gặp đối tượng làm xuất hiện những mối liên hệ cơ động giữa nhu
cầu với vật thể. Chính quá trình gặp gỡ giữa nhu cầu với vật thể đã làm
nảy sinh động cơ và hướng dẫn hoạt động của chủ thể. Ở con người, đối
tượng đáp ứng yêu cầu cũng như bản thân các trạng thái nhu cầu đều