MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO PHONG TRÀO:
“NÉT CHỮ NẾT NGƯỜI” Ở TỔ CHUYÊN MÔN 2-3
Năm học 2012-2013.
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
"Viết chữ đẹp là cần thiết đối với mỗi con người trong thời đại công nghệ thông tin”.
Phong trào giữ vở sạch, viết chữ đẹp là một hoạt động trọng tâm trong công tác
dạy và học của nhà trường tiểu học. Ngành giáo dục đã tổ chức nhiều hoạt động,
nhiều hội thi để thúc đẩy và đánh giá phong trào vở sạch chữ đẹp của các trường cũng
như chất lượng chữ viết của học sinh qua từng năm học. Hướng dẫn nhiệm vụ qua
các năm học của Sở GD&ĐT Nghệ An, phòng GD&ĐT Anh Sơn đều nêu rõ phong
trào “Luyện nét chữ , rèn nết người”. cùng với giải pháp đột phá mới “Nét chữ- Nết
người, kiểm định chất lượng”là một yêu cầu quan trọng trong nhà trường tiểu
học. Chữ viết của học sinh thể hiện chất lượng dạy học của giáo viên và kết quả học
tập của học sinh. Chữ viết thể hiện rất rõ ý thức học tập, tính cẩn thận, óc thẩm mỹ,
tính khoa học và kiên trì của học sinh.
Nguyên thủ tướng Phạm Văn Đồng có nói : “ Nét chữ là nết người”. Thật vậy
trong quá trình công tác chúng ta nhận thấy chữ viết sẽ góp phần rèn luyện đạo đức
và tính cách con người. Ta dạy cho các em viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp
phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, thận trọng trong công việc, lòng tự tin của
bản thân. Đồng thời chữ viết chính là cơ sở, là nền tảng để học tốt các môn học. Mục
tiêu của chúng ta là giúp cho trẻ “ Đọc thông - Viết thạo”. Trẻ đọc thông viết thạo sẽ
giúp trẻ tiếp thu bài nhanh hơn , học tốt hơn.
Nhận thức được tổ chuyên môn là pháo đài để nâng cao chất lượng toàn diện cho
học sinh và việc “Rèn chữ cũng là rèn người “. Rèn luyện nề nếp học tập cho học
sinh là khâu quan trọng để nâng cao chất lượng toàn diện học sinh, vì thế là tổ trưởng
tôi cũng rất chú trọng đến việc tổ chức chỉ đạo phong trào “Giữ vở sạch ,viết chữ
đẹp” trong tổ chuyên môn 2-3 .Từ những năm học trước nhận được công văn chỉ đạo
của Sở giáo dục ,Phòng giáo dục ,tôi đã tổ chức triển khai đến giáo viên ,yêu cầu giáo
viên thực hiện tốt các các hướng dẫn của cấp trên .Thế nhưng qua mỗi lần kiểm tra
lớp hoặc mỗi đợt thi” vỡ sạch chữ đẹp “vòng trường (nhất là ở học kì II),nề nếp vở
Số
HS
KẾT QUẢ
Loại A+
Loại A Loại B
XT
Số HS % Số HS % Số HS %
1 2A 32 5 15,6 17 53,2 10 31,2 4
2 2B 31 6 19,3 14 45,2 11 35,5 3
3 3A 26 5 19,2 14 53,9 7 26,9 2
4 3B 26 7 26,9 12 46,2 7 26,9 1
Trên thực tế thì chất lượng chữ viết cho thấy vẫn còn thấp. Điều này khiÕn tôi
trăn trở tìm tòi vạch kế hoạch chỉ đạo tổ chuyên môn thực hiện rèn luyện chữ viết cho
các em. Làm thế nào để đẩy phong trào vở sạch chữ đẹp đi vào thực chất ?.Đó` là mối
quan tâm lớn của tôi vì theo quan niệm “Nét chữ ,nết người “nhân cách con người
.Các em đã không có tính kiên trì ,cẩn thận và yêu thích cái đẹp thì làm sao có được
nhân cách tốt ,nhà trường lại là nơi dạy chữ ,dạy người mà không làm tốt trọng trách
này làm sao làm tốt được nhiệm vụ giáo dục của mình .
2. NHỮNG NGUYÊN NHÂN:
- Việc chỉ đạo phong trào “ Nét chữ - nết người” của nhà trường, của tổ chuyên
môn chưa mạnh. Chưa xác định được tổ chuyên môn là pháo đài để nâng cao chất
lượng toàn diện cho học sinh.
- Kế hoạch chỉ đạo của các tổ chưa cụ thể còn lệ thuộc kế hoạch chỉ đạo chung của
nhà trường.
- Chưa chủ động, sáng tạo trong quá trình theo dõi, kiểm tra, đánh giá vở sạch chữ
đẹp của học sinh, của lớp,
- Giáo viên và học sinh đều chưa thực sự chăm lo, đầu tư thời gian rèn luyện viết
chữ đẹp, giữ vở sạch.
- Phong trào thi đua “ Vở sạch - chữ đẹp” những năm trước đây chưa được chú
10 Thiếu một loại trừ 1 điểm
2 - Về hình thức:
+ Bảo quản tốt, có bìa có nhãn,
không để nhàu nát, không để
quãn góc, không để bẩn, không
tẩy xoá tuỳ tiện.
+ Nếu văn bản đánh máy phải
trình bày đúng thể thức văn
bản.
+ Chữ viết: Viết đúng chính tả,
rõ ràng, thẳng hàng, đều và
đẹp.
10
+ Không bảo đảm một nội dung về hình
thức mỗi lỗi trừ 0,5 điểm.
+ Sai phông chữ, sai thể thức mỗi trang
trừ 0,5 điểm
+ Viết sai chính tả, mỗi lỗi trừ 1 điểm
3 - Về nội dung:
+ Ghi đầy đủ, đúng nội dung
của các loại hồ sơ.
10 - Ghi sai hoặc không đầy đủ mỗi loại hồ
sơ trừ 2 điểm
4 - Giáo án: có chất lượng, đảm
bảo các quy định chuyên môn.
10 - Vi phạm lỗi qui định trừ 5 điểm
Tổng 40
Cách xếp loại:
Loại A: Từ 35 đến 40 điểm (II.3; II.5 phải đạt tối đa); Loại B: Từ 25 đến dưới 35
điểm; (II.3 phải đạt tối đa); Loại C: Từ 20 đến dưới 25 điểm; Loại D: Dưới 20 điểm.
6 Trần Thị H Giáo viên Chỉ đạo và xây dựng phong trào lớp 3A
7 Võ Thị Ng Giáo viên Chỉ đạo và xây dựng phong trào lớp 3A
8 Nguyễn Thị Hoài L Giáo viên Chỉ đạo và xây dựng phong trào lớp 3B
* Mục tiêu:
Đối với giáo viên:
- Nhận thức được cái đẹp để từ đó có khái niệm về viết chữ đẹp và có thể khẳng định: "Viết
chữ đẹp là cần thiết đối với mỗi con người trong thời đại công nghệ thông tin”.
- Nâng cao nhận thức cho giáo viên về tầm quan trọng của việc luyện viết chữ đẹp. Bản thân tự
rèn luyện viết chữ đúng, đẹp thì học sinh mới viết chữ đúng, đẹp, giữ vở cẩn thận, sạch sẽ.
- Tích cực nghiên cứu, học tập qua các tài liệu: Thông tin Giáo dục Tiểu học, báo
Giáo dục và Thời đại, Tạp chí Thế giới trong ta, bảng chữ cái trong trường Tiểu học,
các thông tin trên mạng Internet
Đối với học sinh:
- Chấp hành tốt nề nếp, yêu cầu của người dạy.
- Nâng cao chất lượng chữ viết của bản thân, có ý thức, niềm say mê luyện viết.
- Rèn tính cẩn thận trong khi trình bày bài viết, bài kiểm tra.
- Kiên nhẫn, tỉ mỉ tập viết từng nét chữ, con chữ, từ, câu
- Tạo thói quen khi ngồi viết là phải cẩn thận, nắn nót
- Tự mình thường xuyên luyện viết
Đối với tổ chuyên môn:
- Phong trào “Giữ vở sạch- Viết chữ đẹp” của tổ chuyên môn được chú trọng và được
sự hưởng ứng của đại đa số học sinh và giáo viên tham gia. Phấn đấu chất lượng vở sạch
- chữ đẹp của nhà trường, của tổ ngày càng được nâng cao. Nhiều giáo viên và học sinh
đạt giải trong các kì thi viết chữ đẹp cấp trường, cấp huyện, cấp tỉnh và là một trong
những trường Tiểu học trong huyện dẫn đầu về phong trào "Giữ vở sạch - Viết chữ
đẹp".
* Yêu cầu:
- Tập trung các nguồn lực để giải quyết dứt điểm những yếu kém về cơ sở vật chất,
thiết bị dạy học, bàn ghế, bảng, bút viết phải đúng tiêu chuẩn, phòng học phải có đầy
đủ ánh sáng cần thiết cho việc học tập của học sinh.
- Một việc làm quan trọng nữa góp phần làm cho vở sạch đẹp là viết một màu mực
trong vở và nên viết bằng bút lá tre (bút mực). Không nên dùng nhiều loại mực khác
nhau và không viết chữ bằng bút bi. Muốn được như vậy, giáo viên cần vận động phụ
huynh trang bị đầy đủ bút cho học sinh. Bên cạnh đó, giáo viên cần có những cây bút
dự phòng (nhớ là những cây bút dự phòng phải cùng màu mực với bút của học sinh
đang dùng) để cho học sinh mượn lúc cần thiết (các em hay quên bút, làm mất bút
hoặc bút hết mực).
Rèn chữ đẹp:
- Việc làm quan trọng nhất để giúp học sinh rèn chữ đẹp, đó là: Ngay từ đầu năm
học, giáo viên cần phân loại chữ viết của học sinh trong lớp thông qua việc kiểm tra
vở luyện viết, vở chính tả theo từng nhóm A, B, C, D để có kế hoạch rèn chữ phù hợp
với từng em.
- Những học sinh nhỏ, kém mắt, nặng tai xếp ngồi trên đầu. Những học sinh hay
viết cẩu thả, viết sai, xếp ngồi đầu bàn, tùy theo cao thấp mà xếp ngồi bàn trên hay
ngồi bàn dưới.
- Việc rèn chữ cho học sinh phải được chú trọng ở tất cả các môn học nhưng mấu
chốt của việc rèn chữ phải bắt đầu từ phân môn Tập viết. Vì yêu cầu của phân môn
này là rèn kĩ năng viết chữ. Mỗi tuần, ngoài giờ chính tả và ghi các bài học khác, giáo
viên tổ chức cho học sinh rèn chữ một tiết học với thời gian khoảng 30 phút (ở tiết
tăng cường). Đối với giờ rèn chữ này, giáo viên tổ chức cho HS viết vở “Thực hành
viết đúng viết đẹp” các em nắm chắc hình dáng đặc điểm của từng chữ cái, các thao
tác viết các nhóm chữ cái → từng chữ (Thao tác viết nhóm chữ nét cong khác với
nhóm chữ nét khuyết ) và phải luyện tập nhiều lần trên bảng con, bảng lớp, vở luyện
viết.
Ví dụ:
+ Kiểu chữ thường: Nhóm rèn luyện trọng tâm là nét móc: u, ư, m, n ; nét khuyết:
b, h, k, y ; nét cong: o, ô, ơ, c
+ Kiểu chữ hoa: Chia nhóm tương tự theo cấu tạo nét giống nhau.
- Trong giờ luyện viết giáo viên phải sử dụng đồ dùng dạy học: sử dụng bộ chữ
mẫu cho học sinh quan sát nhằm giúp các em có biểu tượng chính xác về con chữ và
- Giáo viên nắm vững đặc điểm của mẫu chữ nêu trên sẽ rất thuận lợi trong quá
trình hướng dẫn học sinh viết chữ.
- Giáo viên treo các mẫu chữ trước lớp cho học sinh quan sát hàng ngày để các em
ghi nhớ được cụ thể hơn.
- Khi học sinh viết bài vào vở việc đầu tiên giáo viên phải nhắc nhở hướng dẫn
(chú trọng HS yếu) về tư thế ngồi viết, cách cầm bút, cụ thể như sau:
+ Tư thế ngồi viết : Lưng thẳng, không tì ngực xuống bàn, đầu hơi cúi, mắt cách
vở khoảng 20-25 cm, tay phải cầm bút, tay trái tì nhẹ lên mép vở để giữ, hai chân để
song song thoải mái. Bài viết đẹp phải đi kèm với tư thế đúng, rèn cho trẻ viết đẹp mà
quên mất việc uốn nắn cách ngồi viết là một thiếu sót lớn của giáo viên
( Trích vở luyện viết chữ đẹp do BGD& ĐT phát hành năm 2012).
+ Cách cầm bút: Cầm bút bằng 3 ngón tay: ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa. Khi
viết dùng 3 ngón tay di chuyển bút từ trái sang phải, cổ tay, khuỷu tay và cánh tay cử
động theo mềm mại, thoải mái. Cầm bút vào khoảng 2cm tính từ ngòi bút lên (nếu
cầm bút thấp quá tốc độ viết sẽ chậm, chữ to. Nếu cầm bút quá cao thì chữ viết sẽ
gầy, nhỏ, không đẹp). Nhắc nhở học sinh không nên cầm bút tay trái
( Trích vở luyện viết chữ đẹp do BGD& ĐT phát hành năm 2012). Có như vậy mới
tạo ra cho học sinh sự thoải mái khi viết chữ, tránh được bệnh cận thị và cong vẹo cột
sống và bài viết của các em mới đạt kết quả cao.
- Giáo viên khảo sát chữ viết của học sinh, thống kê các lỗi sai; tìm các lỗi thường
mắc và tìm nguyên nhân, cách khắc phục.
- Rèn kỹ năng viết chữ đẹp, nhanh, đúng tốc độ của từng lớp học.
- Rèn luyện tư thế ngồi viết, cách cầm bút và để vở theo đúng quy định.
-Tổ chức các cuộc thi viết chữ đẹp theo lớp học và trong nhà trường:
- Tổ chức các cuộc thi viết chữ đẹp, trưng bày các bộ hồ sơ đẹp, mẫu chữ đẹp, bộ vở
đẹp để cho học sinh, giáo viên và phụ huynh cùng tham quan, học hỏi. Qua đó phát
huy khuyến khích con em mình học tập.
- Học sinh tham gia các cuộc thi “Giữ vở sạch- viết chữ đẹp” các cấp
Thông qua cuộc họp phụ huynh đầu năm, các giáo viên chủ nhiệm càn phổ biến
cho phụ huynh biết được tầm quan trọng và sự cần thiết của việc rèn chữ, giữ vở đối
Tổ chuyên môn, khối chuyên môn và các giáo viên chủ nhiệm, phụ huynh học sinh
hưởng ứng phong trào “Vở sạch-Chữ đẹp” có trách nhiệm:
+ Phát động phong trào thi đua “Vở sạch-Chữ đẹp”, xây dựng kế hoạch và thực hiện.
+ Phối hợp tổ chuyên môn, khối chuyên môn và các giáo viên chủ nhiệm, phụ huynh
học sinh thực hiện phong trào “Vở sạch-Chữ đẹp” triển khai thực hiện phong trào thi
đua nhằm huy động mọi lực lượng xã hội tích cực tham gia và hưởng ứng.
+ Tổ chuyên môn tổ chức thực hiện một cách cụ thể các hoạt động giáo dục trong và
ngoài giờ lên lớp, tạo điều kiện để thực hiện tốt phong trào “ Vở sạch – Chữ đẹp”
+ Chỉ đạo tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá kết quả, định kỳ sơ kết, tổng kết,
nhân rộng các điển hình về việc thực hiện phong trào “ Vở sạch- Chữ đẹp”
* Xây dựng kế hoạch thực hiện:
+ Tổ xây dựng kế hoạch thực hiện và triển khai sâu rộng trong giáo viên chủ nhiệm,
học sinh và phụ huynh phong trào “ Vở sạch-Chữ đẹp”. Hướng dẫn, chỉ đạo các đơn
vị lớp xây dựng kế hoạch cụ thể về phong trào “Vở sạch- Chữ đẹp” cho lớp mình.
* Tổ chức phổ biến, quán triệt và phát động phong trào thi đua:
- Tổ chức phổ biến mục tiêu, yêu cầu., nội dung của phong trào “ Vở sạch-Chữ đẹp”
theo công văn số 1733/SDG&ĐT-GDTH ngày 25/9/2008 và công văn số /PGD&ĐT
ngày 9/8/2012 về việc hướng dẫn đánh giá xếp loại “Vở sạch-Chữ đẹp” đến tất cả
cán bộ giáo viên, nhân viên, học sinh và phụ huynh trong nhà trường.
- Tham mưu với các cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương, hội phụ huynh, phụ
huynh xây dựng cơ sở vật chất phục vụ tốt cho việc dạy và học: bàn ghế đúng quy
cách, lắp đặt bốn bóng đèn trong lớp
- Cuối năm học trước nhà trường phát động và yêu cầu toàn thể phụ huynh học sinh
đăng ký mua các loại vở theo quy định tại nhà trường cho năm học sau.
- Đầu năm học nhà trường tiến hành kiểm tra số lượng vở của học sinh. Sách vở phải
được đóng bọc, có nhãn vở, quy định cách dán nhãn vở, cách ngang kẻ khi viết hết
bài, hết ngày, hết tuần, cách viết thứ ngày, cách trình bày bài viết… mua bút đúng
theo quy định (bút kim).
- Phong trào “Vở sạch- Chữ đẹp” được đưa vào nhiệm vụ của năm học, các lớp đăng
ký thi đua đạt “Vở sạch-Chữ đẹp” các cấp, tự nhận loại “Vở sạch-Chữ đẹp” của lớp
BGH,TTCM,
GVCN, HS
11/2012
- Tự kiểm tra vở của học sinh
- Tổ chức thi Vở sạch- Chữ đẹp cấp trường(Từ khối 1
đến khối 5).
- Tiếp tục bồi dưỡng chỉ đạo nâng cao chất lượng chữ
viết và phong trào VSCĐ.
BGH,TTCM,
GVCN, HS
12/2012
- Kiểm tra Vở sạch chữ đẹp lần thứ 2, làm bài viết vào
giấy
- Đánh giá rút kinh nghiệm sau kiểm tra.
- Nạp báo cáo tổng hợp về phòng.
BGH,TTCM,
GVCN,HS
1/2013
- Tiếp tục bồi dưỡng chỉ đạo nâng cao chất lượng phong
trào VSCĐ.
BGH, TTCM,
GVCN
2/2013
- Kiểm tra vở sạch chữ đẹp lần thứ 3.
- Đánh giá rút kinh nghiệm sau kiểm tra.
BGH, TTCM,
GVCN, HS
3/2013
- Tự kiểm tra vở của học sinh
- Tiếp tục bồi dưỡng chỉ đạo nâng cao chất lượng phong
sinh.
- Toàn trường thống nhất các loại vở, bút của từng khối, phối hợp với giáo viên chủ
nhiệm kiểm tra và tổ chức thi “Vở sạch-Chữ đẹp” theo từng tháng, từng kỳ nhằm để
khuyến khích và nhắc nhở kịp thời, đánh giá mức độ tiến bộ của từng em và làm cho
phong trào được nhân lên ngày càng sâu rộng.
- Khuyến khích học sinh mua vở luyện viết chữ đẹp, vở tập viết.
- Lưu giữ các bài kiểm tra viết của học sinh, các loại hồ sơ về “Vở sạch-Chữ đẹp”.
- Hàng tháng tổ chức đánh giá xếp loại vở sạch chữ đẹp của học sinh chính xác, công
khai.
- Tổ chức cho học sinh thi viết chữ đẹp một học kì hai lần, sau mỗi lần như vậy cần
động viên khen thưởng để khích lệ phong trào.
- Sau mỗi học kì nhà trường tổ chức họp phụ huynh học sinh, giáo viên chủ nhiệm
báo cáo tình hình rèn luyện chữ viết của học sinh trong từng tháng, từng kì để cho
phụ huynh biết .
* Giáo viên chủ nhiệm chịu trách nhiệm về chất lượng “Vở sạch-Chữ đẹp” của lớp.
Thường xuyên theo dõi, đôn đốc học sinh thực hiện tốt phong trào và nhân rộng
phong trào ngày càng phát triển mạnh mẽ.
- Qua cuộc họp phụ huynh, giáo viên chủ nhiệm đưa ra một số cá nhân học sinh điển
hình có ý thức trong việc giữ vở sạch viết chữ đẹp để khen ngợi và khích lệ phong
trào mà học sinh đã làm được như các bài thi viết chữ đẹp, các bộ sách vở tiêu biểu
để cho các em, các bậc phụ huynh cùng xem và thấy được những thành quả của con
em mình đã ý thức rèn luyện để học sinh và các lớp có sự thi đua học tập lẫn nhau.
- Có sự động viên khen thưởng thích đáng và kịp thời đối với những cá nhân học sinh
và các lớp trong phong trào “ Giữ vở sạch - Viết chữ đẹp” sau các đợt thi đua.
+ Mặt khác , từ cuối năm học trước cần có định hướng về phong trào “Vở sạch chữ
đẹp” cho năm học sau bằng cách tổ chức hội nghị phụ huynh toàn trường, tuyên
truyền để phụ huynh hiểu rõ ý nghĩa của phong trào và quy định cho HS mua đồng
bộ loại vở lô gô của phòng giáo dục, loại bút, màu mực, giấy bao và kể cả dây ghim .
+ Nhà trường chú trọng đầu tư các điều kiện về cơ sở vật chất: Mỗi phòng học
ngoài 3 cửa sổ lớn và cửa ra vào để lấy đủ ánh sáng tự nhiên, có 4 bóng đèn để lấy
thứ hai cần đạt trong năm học.( Tùy tình hình từng lớp, giáo viên chủ nhiệm tự đề ra
kế hoạch của lớp mình nhưng phải hướng đến mục tiêu mà khối đã đề ra.)
Để hoàn thành kế hoạch đề ra, trong quá trình quản lý tổ khối tôi cùng tập thể giáo
viên trong khối tham mưu với nhà trường và các lực lượng giáo dục trong và ngoài
nhà trường tích cực tham gia hỗ trợ phong trào rèn chữ giữ vở cho học sinh. Cụ thể
như sau:
+ Trong sinh hoạt tổ chuyên môn:Như thường lệ, cứ đầu năm học khi giáo viên
vừa nhận lớp xong, tôi yêu cầu giáo viên tiến hành khảo sát chữ viết của học sinh lớp
mình phụ trách .
Bên cạnh đó tôi còn phân công giáo viên có nhiều kinh nghiệm trực tiếp hướng dẫn
giáo viên chưa có kinh nghiệm, ít kinh nghiệm.
- Ngoài việc tổ chức hội thảo trong sinh hoạt tổ chuyên môn; tôi còn tiến hành tổ
chức cho giáo viên có nhiều kinh nghiệm thực hiện việc rèn chữ cho lớp mình Thực
tế chúng ta không có tiết học dành cho việc rèn chữ. Vì vậy công tác rèn chữ giữ vở
được thực hiện ngay trong quá trình giảng dạy.Trong quá trình rèn chữ, tôi vận động
giáo viên vận dụng một cách linh hoạt các sáng kiến kinh nghiệm về rèn chữ giữ vở
đã triển khai kết hợp với kinh nghiệm của bản thân mà mình tích lũy được. Bên cạnh
đó, tôi thường xuyên nhắc nhở giáo viên thực hiện việc rèn chữ viết cho học sinh mọi
lúc mọi nơi:
+ Thời gian học sinh viết bài là lúc mà giáo viên phải theo sát các em, theo dõi và
uốn nắn các em từng nét chữ, từng con số. Công việc này nếu được giáo viên tiến
hành thường xuyên thì ta sẽ tạo cho học sinh thói quen và ý thức rèn chữ.
+ Lúc học sinh làm bảng con hay trình bày bảng lớp cũng là lúc giáo viên động viên
khuyến khích học sinh, sửa chữa và uốn nắn từng nét chữ, từng con số cho học sinh.
+ Phối hợp với tổng phụ trách Đội tổ chức các phong trào nhằm kích thích việc rèn
chữ viết như: Phong trào văn hay chữ đẹp ( tổng kết hàng tháng có phát thưởng );
phong trào nét chữ đẹp tặng thầy cô ( tổ chức viết lời cảm ơn thầy cô nhân ngày
20/11); Phong trào viết thư gửi các chú bộ đội; phong trào viết thư vẽ thiệp nhân
ngày 8/3; viết bài tuyên truyền phòng chống HIV…
+ Phối hợp với Ban chấp hành hội Cha mẹ học sinh: Đề xuất hỗ trợ kinh phí phát
Kết quả đạt được trong năm học 2012- 2013:
* Giáo viên:
- Kết quả hồ sơ chuyên môn của giáo viên: 8/8 bộ hồ sơ đạt yêu cầu
Trong đó có 5 bộ đạt xuất sắc, 2 bộ tốt, 1 bộ khá.
- Kết quả thi “Văn hay – chữ tốt” của giáo viên: 6 đ/c đạt điểm tốt ( điểm 9, điểm 10)
2 đ/c đạt diểm khá
* Học sinh:
- Kết quả chấm vở sạch chữ đẹp – lần 1
Chấm mỗi lớp 1/2 số học sinh.
Thứ 6 ngày 5 tháng 10 năm 2012.
Lớp 2A.
TT Họ Và Tên
Điểm vở Chữ viết Chung
Bảo
quản
(1 đ)
Trình
bày
(1đ)
Nội
dung
(2đ)
Đúng
chuẩn
(3đ)
Đúng
chính
tả (2đ)
Số
lượng
Nội
dung
(2đ)
Đúng
chuẩn
(3đ)
Đúng
chính
tả (2đ)
Số
lượng
bài 1đ)
Tổng XL
1 Nguyễn Hữu Châu 1 0.5 1 0,5 0.5 0,5 4 B
2 Thái Đình Chinh 1 0.5 1 1.5 1.5 1 6.5 A
3 Lê Thị Quỳnh Diệp 1 1 1 1.5 1.5 1 7 A
4 Nguyễn Văn Đức 1 0.5 1 2 1.5 1 7 A
5 Lê Thị Trà Giang 1 0.5 0.5 1.5 1.5 1 6 A
6 Lê Thị Thanh Huyền 1 1 1.5 2 1.5 1 8 A
7 Nguyễn Thị Khánh Linh 1 1 1.5 2 1.5 1 8 A
8 Nguyễn Hữu Mạnh 1 0.5 1 2 1 1 6.5 A
9 Nguyễn Hữu Nhất 1 1 1.5 2.5 1.5 1 8.5 A
10 Nguyễn Văn Quang 1 1 1 2 1.5 1 7.5 A
11 Trần Thị Hoài Thắm 1 0.5 1 1.5 1.5 1 6.5 A
12 Bùi Nguyễn Anh Thư 1 1 2 2.5 2 0.5 9 A+
13 Nguyễn Văn Trình 0,5 0.5 1 1 0,5 0,5 4 B
14 Nguyễn Thị Quỳnh Trang 1 0.5 0.5 2 1.5 05 6 A
15 Nguyễn Khắc Tuyên 1 0.5 1 1.5 1 1 6 A
Danh sách này gồm có: 15 học sinh Điểm trung bình của lớp: 6,7 điểm
Xếp vị thứ 4
Điểm trung bình của lớp: 6,88 điểm
Xếp vị thứ 3
Lớp 3B.
TT Họ Và Tên
Điểm vở Chữ viết Chung
Bảo
quản
(1 đ)
Trình
bày
(1đ)
Nội
dung
(2đ)
Đúng
chuẩn
(3đ)
Đúng
chính
tả (2đ)
Số
lượng
bài 1đ)
Tổng XL
1 Nguyễn Mạnh Cường 1 1 1,5 2 1.5 1 8 A
2 Nguyễn Như Mai Đan 1 1 2 3 2 1 10 A+
3 Nguyễn Văn Giáp 1 1 1.5 1 1 1 6.5 A
4 Nguyễn Văn Hoa 0,5 0,5 0.5 1 1 0.5 4 B
5 Trịnh Văn Hoàng 1 0.5 1.5 1 1 1 6 A
6 Nguyễn Hữu Bảo Lâm 1 1 2 2 2 1 9 A+
STT LỚP
Số
HS
KẾT QUẢ
Loại A+
Loại A Loại B
XT
Số HS % Số HS % Số HS %
1 2A 32 8 25 20 62,5 4 12,5 3
2 2B 31 9 29 18 58 4 13 4
3 3A 26 8 30,8 15 57,7 3 11,5 2
4 3B 26 9 34,7 14 53,8 3 11,5 1
* Kết quả chấm vở sạch chữ đẹp lần 3:
Ngày 25 tháng 2 năm 2013.
STT LỚP
Số
HS
KẾT QUẢ
Loại A+
Loại A Loại B
XT
Số HS % Số HS % Số HS %
1 2A 32 10 31,2 22 68,8 0 0 4
2 2B 31 11 35,5 20 64,5 0 0 3
3 3A 26 11 42,3 15 57,7 0 0 2
4 3B 26 12 46,2 14 53,8 0 0 1
- 4 lớp đều đạt lớp “Vở sạch – chữ đẹp”
Giáo viên là người trực tiếp rèn luyện cho học sinh nề nếp và kỹ thuật viết chữ,
giúp học sinh có những hiểu biết về dòng kẻ, đường kẻ, độ cao từng con chữ, cỡ chữ,
hình dáng và tên gọi các con chữ, cấu tạo các chữ, khoảng cách giữa các nét chữ và
giữa các chữ cái, giữa các tiếng, cách viết các chữ viết thường, dấu thanh và chữ số.
Viết đúng quy trình viết các nét chữ cái và liên kết chữ cái, tạo chữ ghi tiếng theo yêu
cầu liền mạch, viết thẳng hàng các dòng chữ trên dòng kẻ. Ngoài ra học sinh còn
được rèn luyện các kỹ năng như: tư thế ngồi viết, cách cầm bút, cách đặt vở,
* Đối với học sinh:
Giúp cho các em biết được chữ viết đẹp có ý nghĩa quan trong thế nào, để viết
chữ đẹp thì phải rèn luyện và nắm vững cách viết từng con chữ trong bảng chữ cái.
* Đối với gia đình học sinh:
Giáo viên phải định hướng cho phụ huynh thấy rõ tầm quan trọng của việc rèn
chữ viết trong nhà trường và thường xuyên tạo điều kiện để con em của mình viết
được những nét chữ ngày càng đúng, đẹp và hoàn hảo.
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Sau một thời gian nghiên cứu thực hiện, tôi thấy rằng:
- Phong trào “ Nét chữ - nết người” đạt được kết quả cao là nhờ sự ủng hộ nhiệt
tình, sự đoàn kết nhất trí cao của tập thể giáo viên, học sinh, hội cha mẹ học sinh, phụ
huynh và kế hoạch chỉ đạo sát sao của nhà trường, của tổ chuyên môn.
- Xác định được tổ chuyên môn là pháo đài để nâng cao chất lượng toàn diện cho
học sinh. Tổ chuyên môn vạch kế hoạch kịp thời, chỉ đạo xuyên suốt cả năm học.
. - Chất lượng chữ viết của học sinh nói chung được nâng lên rất nhiều, đa số các em
có ý thức trong việc luyện chữ ở lớp và ở nhà.
- Học sinh viết đúng mẫu, đảm bảo tốc độ, đúng kỹ thuật viết và nhiều em có nét
chữ đẹp và sáng tạo.
- Phụ huynh học sinh ngày càng quan tâm đến chất lượng chữ viết của học sinh và
rất tự hào vì chữ viết của các em đã có tiÕn bộ.
Đạt được kết quả trên là nhờ:
Giáo viên