1
®¹i häc quèc gia hµ néi
Trêng ®¹i häc khoa häc x· héi & nh©n v¨n
VŨ THỊ HUẾ
KHẢO SÁT HIỆN TƯỢNG TỪ ĐẠO HẠNH Ở HÀ NỘI
(QUA TRUYỆN KỂ VÀ LỄ HỘI)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học dân gian
KHẢO SÁT HIỆN TƯỢNG TỪ ĐẠO HẠNH Ở HÀ NỘI
(QUA TRUYỆN KỂ VÀ LỄ HỘI)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số : 60.22.01.25
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ NGUYỆT
HÀ NỘI - 2012
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài: Khảo sát hiện tượng Từ Đạo Hạnh ở Hà Nội
(Qua truyện kể và lễ hội) và toàn bộ nội dung luận văn không phải là sự sao
chép bất cứ một công trình khoa học hay luận văn nào đã được công bố trong
và ngoài nước. Các tài liệu sử dụng tham khảo đã được trích nguồn đầy đủ và
chính xác.
Xin chân thành cảm ơn.
hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Văn học - Trường
Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gian Hà Nội đã góp ý
tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài.
Tôi cũng xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới các cá nhân, đoàn
thể có liên quan đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình khảo
sát điền dã và tìm kiếm, tập hợp tư liệu.
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi luôn nhận được sự giúp
đỡ, động viên của bạn bè và những người thân trong gia đình. Tôi xin chân
thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2012
Học viên Vũ Thị Huế
5
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1. Lý do chọn đề tài 7
2. Lịch sử vấn đề 8
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
3.1. Khái niệm lễ hội 62
3.1.1. Khái niệm lễ hội 62
3.1.2. Mối quan hệ giữa lễ và hội 64
3.2. Tín ngưỡng thờ Từ Đạo Hạnh 64
3.3. Lễ hội về Từ Đạo Hạnh 67
3.3.1. Lễ hội chùa Láng 67
3.3.2. Lễ hội chùa Thầy 77
3.3.3. Một số lễ hội khác 89
PHẦN KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 101
7
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ Đạo Hạnh (? - 1117) tục gọi là đức Thánh Láng, Thánh Từ, là một
thiền sư nổi tiếng Việt Nam thời nhà Lý. Cuộc đời ông được ghi lại dưới nhiều
màu sắc huyền thoại. Ông là một trong những hiện tượng văn hóa chứa nhiều
nghịch lý.
Từ Đạo Hạnh được biết đến không chỉ là một thiền sư, ông còn là một danh nhân
văn hóa - lịch sử, một tác giả văn học. Ông có tên húy (Từ Lộ), cha ông là Từ Vinh, mẹ
ông là bà Tăng Thị Loan. Quê ông tại hương Yên Lãng, nay thuộc phường Láng
Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội. Từ một con người xác thực, Từ Đạo Hạnh đã chuyển
hóa dần thành nhân vật thần linh, truyền thuyết, nhân vật của truyện cổ tích. Ông được
tôn vinh vào hàng Thánh, Thánh Láng, thánh Từ Đạo Hạnh, tương truyền ông có phép
thần thông, thác sinh làm vua Lý Thần Tông (1128 - 1138), sau còn là hậu thân Lê
Thần Tông (1619 - 1643).
Tìm hiểu truyền thuyết về Từ Đạo Hạnh, chúng tôi muốn lý giải con
đường dân gian hóa, Phật thoại hóa từ hiện tượng Từ Đạo Hạnh, để thấy được
sự đặc biệt của hiện tượng này trong văn học dân gian.
mở ra trường đạo riêng. Vào mùa xuân năm Kỷ Sửu, niên hiệu Long Phù Nguyên
Hóa thứ 9 (1109), ông cho đúc một quả chuông nặng hai nghìn cân, rộng khoảng
10 vòng. Mùa thu năm đó, lại đón đệ tử là Thích Huệ Hưng tới để viết bài ký dài
vài nghìn câu, một bài minh theo lối 4 câu 2 vần, văn từ, điển chương rất đẹp.
Người viết chữ là Nghiêm Thường Chuông đúc được 7 năm thì Từ Đạo Hạnh
mất. Trải qua các triều đại Lý, Trần, chùa vẫn được bảo vệ tốt. Riêng quả chuông
thì sau cuộc xâm lược của quân Minh vẫn còn giữ được nguyên vẹn. Mãi đến năm
1789 (năm Kỷ Dậu, niên hiệu Quang Trung năm thứ 2), do thiếu đồng để đúc tiền,
nên quả chuông nhà Lý này mới bị phá hủy”
.
9
Gần đây những nhà nghiên cứu và sưu tập Di Văn Kim Thạch của các
các thời đại từ Bắc thuộc đến Lý - Trần, đã tìm được bài ký và bài minh khắc
trên chuông chùa Thiên Phúc do Huệ Hưng soạn năm 1109 được chép trong
một sưu tập văn bia Kim văn loại tụ (Sách hiện lưu giữ tại Thư viện Viện
Nghiên cứu Hán Nôm), có tên là: Thiên Phúc tự hồng chung minh văn (Minh
văn chuông chùa Thiên Phúc). Bài ký hơn ngàn chữ, bài minh 4 câu 2 vần
.
Ngoài ra, truyện về Từ Đạo Hạnh còn được ghi chép trong nhiều tư liệu
cổ như: An Nam chí lược [64], Thiền uyển tập anh [77], Việt điện u linh [87],
Đại Việt sử ký toàn thư [34], Lĩnh Nam chích quái [52], Tân đính Lĩnh Nam
chích quái [53], Việt sử giai thoại [74], Thơ văn Lý - Trần [43], Từ điển văn
học [41], Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam [4], Truyền thuyết dân gian người
Việt [22], Lễ hội Việt Nam [84], Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam [39]…
Có thể thấy dưới mỗi thời đại, mỗi điểm nhìn văn hóa, mỗi tư duy tiếp
cận khác nhau, các nhà biên soạn đã có những ghi chép, đánh giá riêng về
hiện tượng này. Nhưng dù tiếp cận ở góc độ nào, câu chuyện về Từ Đạo Hạnh
vẫn luôn luôn được thêu dệt, huyền thoại hóa, dân gian hóa.
- Về mặt nghiên cứu:
trạng của Từ Đạo Hạnh giống các đạo sĩ nhiều hơn và không nên xếp ông vào
bậc chân tu Phật giáo.
Từ góc độ văn hóa, PGS. Nguyễn Hữu Sơn trong bài Thiền sư Từ Đạo
Hạnh - từ chùa Láng đến chùa Thầy đã cho rằng Từ Đạo Hạnh là “một trong
những hiện tượng văn hóa chứa nhiều nghịch lý”, được khúc xạ qua thời gian
và không gian, trong đó mang nhiều yếu tố của Phật – Nho và Đạo giáo.
Cùng tác giả Nguyễn Hữu Sơn, các bài nghiên cứu: Tìm hiểu đặc trưng
“lạ hóa” về sự ra đời của các thiền sư trong Thiền uyển tập anh, Về motif “quy
11
tịch” của các thiền sư trong Thiền uyển tập anh, Loại hình tác phẩm Thiền
uyển tập anh khi phân tích về cấu trúc, cốt truyện, các motif cơ bản của loại
truyện thiền sư cũng đã nhiều lần nhắc tới hiện tượng thiền sư Từ Đạo Hạnh.
Trong công trình nghiên cứu Phật giáo với 1000 năm Thăng Long, Thích
Đồng Bổn có bài Đóng góp thêm các bản dịch mới về bài kệ của thiền sư Từ Đạo
Hạnh [9]. Như nhan đề của bài viết, tác giả đã đưa thêm các bản dịch mới về bài
kệ Hữu không của Từ Đạo Hạnh và đánh giá cao tài năng của thiền sư Từ Đạo
Hạnh, cho bài kệ của thiền sư là “một giá trị văn học đã đạt đến chân lý giác ngộ”.
Trên phương diện tín ngưỡng, lễ hội, chúng ta có nhiều công trình, bài
viết về các lễ hội chùa Láng, chùa Thầy, và một số chùa có thờ Từ Đạo Hạnh:
Đỗ Danh Huấn có bài Làng Đồng Bụt và thiền sư Từ Đạo Hạnh [24]. Thông
qua bài viết tác giả đã chỉ ra một không gian sinh hoạt văn hóa Phật giáo với
hệ thống chùa, các sinh hoạt lễ hội và những truyền thuyết lịch sử gắn với
cuộc đời thiền sư Từ Đạo Hạnh.
Bài nghiên cứu Từ huyền tích của Từ Đạo Hạnh đến lễ hội chùa Thầy [32]
của Đặng Thị Phong Lan đã phân tích một số huyền tích của Từ Đạo Hạnh
liên quan đến lễ hội chùa Thầy, cũng như liên quan đến việc tái hiện nghệ
thuật kiến trúc và điêu khắc.
Cùng hướng nghiên cứu còn có các bài Chùa Láng với sự tích thiền sư Từ
Đạo Hạnh (Thích Bảo Nghiêm), Non nước chùa Thầy (Thích Viên Thành),
pháp nghiên cứu phân tích và tổng hợp với mục đích vừa có khả năng bao
quát vừa khai thác hiện tượng từ trong bản chất của nó, dưới nhiều khía cạnh
và góc độ. Nghiên cứu hiện tượng Từ Đạo Hạnh trong văn học và trong văn
hóa dân gian, chúng tôi sử dụng những phương pháp:
- Phương pháp cấu trúc - loại hình: là phương pháp cơ bản để nghiên cứu
hiện tượng Từ Đạo Hạnh trong văn học dân gian.
13
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: văn hóa học, xã hội học, dân tộc
học, tâm lý học, sử học, ngôn ngữ học: giúp cho việc nghiên cứu hiện tượng
Từ Đạo Hạnh dưới góc nhìn văn hóa.
- Phương pháp thống kê: thống kê các truyền thuyết, các motif, các lễ hội
dân gian về hiện tượng Từ Đạo Hạnh.
- Phương pháp so sánh: so sánh giữa các truyền thuyết, motif, các lễ hội
dân gian về hiện tượng Từ Đạo Hạnh.
- Phương pháp điền dã - khảo sát thực tế : điều tra, quan sát, lấy tư liệu
thực tế tại những vùng phát tích và lưu truyền hiện tượng thờ Từ Đạo Hạnh.
5. Mục đích, ý nghĩa, đóng góp của luận văn
5.1. Mục đích
Khảo sát hiện tượng Từ Đạo Hạnh trong văn học và trong lễ hội dân
gian, chúng tôi muốn nhìn nhận và khái quát hóa, hệ thống hóa về hiện tượng
này từ góc độ văn học và góc độ văn hóa. Qua đó thấy được mối liên hệ giữa
hiện tượng Từ Đạo Hạnh trong văn học và trong đời sống lễ hội dân gian Việt
Nam. Từ đó chứng minh rằng hiện tượng Từ Đạo Hạnh không chỉ là một
truyền thuyết, một lễ hội bó hẹp trong một địa phương nhất định mà nó được
sinh ra và lưu truyền, có sức sống bền bỉ về mặt thời gian và ảnh hưởng rộng
lớn về mặt không gian.
5.2. Đóng góp của luận văn
Đây là công trình khảo sát về Từ Đạo Hạnh từ góc nhìn văn học, văn
hóa. Kết quả nghiên cứu của luận văn hy vọng sẽ đem lại một cái nhìn khái
1.1.1. Những điều kiện địa lý, lịch sử, xã hội của Hà Nội
Hà Nội có vị trí địa lý thuận lợi về mọi mặt, nằm chếch về phía tây bắc của
trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Hà Nội có vị trí từ 20°53' đến
21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông, nằm trên trục của đồng
bằng hình tam giác do sông Hồng và các phụ lưu của nó tạo nên, với chóp đỉnh
Việt Trì và cạnh đáy là đường ven bờ Vịnh Bắc Bộ, ngay ở phần chia ba đầu tiên
của trục này. Tam giác châu thổ của sông Hồng ấy, phía bắc là dải Tam Đảo - nơi
hội tụ của các dãy núi và thung lũng; ở phía nam là dải Ba Vì, núi Sơn Tinh. Sau
đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, thành phố có diện tích
3.324,92 km
2
nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng, nhưng tập trung chủ yếu bên hữu
ngạn. Ở vị trí này, Hà Nội là nơi non sông hội tụ, cũng là nơi các đầu mối giao
thông thủy bộ hội tụ và lan tỏa xuống biển, lên ngàn, thuận lợi cho việc giao lưu
kinh tế, văn hóa với các vùng trong khu vực đồng bằng châu thổ Bắc Bộ.
Hà Nội được biết đến với đặc trưng “thành phố trong sông”. Sông Hồng là
con sông chính của thành phố. Đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội dài 163 km,
chiếm khoảng một phần ba chiều dài của con sông này trên đất Việt Nam.
Trên địa phận Hà Nội còn nhiều sông khác như sông Đáy, sông Đuống, sông
Cầu, sông Cà Lồ Các sông nhỏ chảy trong khu vực nội thành như sông Tô
Lịch, sông Kim Ngưu Hà Nội cũng là một thành phố đặc biệt nhiều đầm hồ,
dấu vết của những con sông cổ: Hồ Tây, Hồ Gươm, hồ Trúc Bạch, hồ Thiền
16
Quang, hồ Thủ Lệ… Sông, hồ không những là nguồn nước dùng trong sinh
hoạt mà còn là hệ thống thủy lợi và giao thông truyền thống phát triển cho
ngành nông nghiệp trồng lúa nước. Sông, hồ cũng là những điều kiện thuận
lợi cho việc quy tụ xóm làng, phường phố. Có thể nói các yếu tố sông - hồ -
núi đã tạo nên bức tranh đặc sắc cho thiên nhiên Hà Nội.
Về mặt khí hậu, khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm
sách còn gọi Thăng Long là đất Long Đỗ. Thế kỷ thứ X, sau chiến thắng của Ngô
Quyền trước quân Nam Hán, Cổ Loa một lần nữa trở thành kinh đô của nước Việt.
Sau khi lên ngôi năm 1009 tại Hoa Lư, năm 1010 Lý Công Uẩn quyết định
dời đô về Đại La. Ông đã nhìn thấy những điều kiện thuận lợi nhất về địa lý,
kinh tế, chính trị của đất Đại La, điều này đã được ghi lại trong Chiếu dời đô:
“Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương ở vào nơi trung tâm trời đất:
được cái thế rồng cuộn, hổ ngồi. Đã đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây, lại tiện
hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng phẳng, đất đai cao mà thoáng.
Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú, tốt
tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn hội tụ trọng
yếu của bốn phương đất trời; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn
đời…” [34]. Ngay trong thế kỷ X, nhiều công trình tôn giáo nhanh chóng được
xây dựng: Trường Quốc Tử Giám xây dựng từ năm 1070, là nơi mở các kỳ thi
tuyển chọn nhân tài, đào tạo đội ngũ trí thức cho cả nước. Đồng thời đây cũng là
một trung tâm Phật giáo với nhiều tên tuổi cao tăng nổi tiếng như Vạn Hạnh,
Minh Không, Thông Biện… Thăng Long không những tập trung những cung
điện của triều đình mà còn có nhiều chùa tháp nổi tiếng, tiêu biểu như chùa Diên
Hựu, chùa Sùng Khánh Báo Thiên. Trong bốn công trình nghệ thuật được coi là
“An Nam tứ đại khí” mang niên đại Lý - Trần thì có hai công trình thời Lý trên
18
đất Thăng Long là chuông Quy Điền (năm 1080 tại chùa Diên Hựu) và tháp Báo
Thiên (1057 tại tháp Báo Thiên). Chỉ sau một thế kỷ, Thăng Long trở thành
trung tâm văn hóa, chính trị và kinh tế của cả nước.
Tới thời Trần, trong cuộc chiến chống quân Nguyên, Thăng Long ba lần bị
chiếm giữ nhưng đều kết thúc trong chiến thắng của Đại Việt. Cuối thế kỷ XIV,
nhà Trần suy vi, Hồ Quý Ly lên ngôi, chuyển kinh đô về Thanh Hóa, Thăng Long
được đổi thành Đông Đô. Năm 1406, nhà Minh xâm lược Đại Ngu, Đông Đô bị
chiếm đóng, đổi tên thành Đông Quan. Sau chiến thắng của khởi nghĩa Lam Sơn,
Lê Lợi thành lập nhà Lê và Đông Quan cũng lấy lại vị trí kinh thành. Năm 1430
tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của cả nước. Trên nền tảng của văn hóa
Đông Sơn với nghề trồng lúa nước phát triển cao, kỹ nghệ đúc đồng siêu việt,
nghề làm gốm cùng các nghề thủ công tinh xảo kết hợp với các thành tựu văn
hóa ngoại lai, Thăng Long - Hà Nội đã là trung tâm của nền văn hóa Đại Việt
rực rỡ. Trong các triều đại Lý, Trần, Lê văn hóa Thăng Long - Hà Nội đã đạt
đến đỉnh cao với nhiều thành tựu đặc sắc và sau ngày Cách mạng tháng Tám
năm 1945 thành công, nó vẫn liên tục phát triển rực rỡ. Ở vị trí kinh đô hàng
ngàn năm, khiến Hà Nội trở thành nơi quy tụ của những nhân vật ưu tú,
những thương nhân, những nghệ nhân, những thợ thủ công tài giỏi. Họ tới đây
lập nghiệp và mang theo những phong tục, tập quán địa phương và Hà Nội trở
thành mảnh đất tiêu biểu cho nền văn hóa của cả Việt Nam.
Thăng Long - Hà Nội còn là nơi giao thoa của những nền văn hóa lớn.
Hơn một nghìn năm Bắc thuộc đã để lại ít nhiều trên mảnh đất này dấu ấn của
văn hóa Trung Hoa. Khi Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo bằng những con đường
khác nhau đã được bản địa hóa và tham gia vào sự phát triển của văn hóa Thăng
Long - Hà Nội. Một cách gián tiếp, những giá trị của hai nền văn hóa lớn Ấn Độ
và Trung Hoa đã được văn hóa Thăng Long - Hà Nội tiếp nhận. Tiếp đến là ảnh
20
hưởng của những giá trị văn hóa phương Tây. Quá trình tiếp biến với văn hóa
phương Tây đã diễn ra đậm nét ở Hà Nội. Chính ở đây, các yếu tố của một nền
văn hóa hiện đại: văn hóa, nghệ thuật, âm nhạc, báo chí, in ấn, bảo tàng… đã
hình thành và phát triển dưới ảnh hưởng của văn hóa Pháp. Những thập niên gần
đây, một lần nữa Hà Nội và cả nước lại tiếp nhận những làn sóng văn hóa từ
châu Âu và Mỹ. Nhờ có một truyền thống văn hóa lâu đời và kết tụ của nhiều
dòng chảy lịch sử - văn hóa đất nước nên khi tiếp nhận những giá trị văn hóa
ngoại lai, văn hóa Thăng Long - Hà Nội không hề bị biến dạng, ngược lại nó
càng trở nên phong phú, đa dạng mà vẫn đậm đà bản sắc dân tộc.
Thăng Long - Hà Nội từ xưa đã nổi tiếng với những làng nghề phong
phú với câu thành ngữ quen thuộc “Hà Nội 36 phố phường”. Những phố
học nổi tiếng như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát; những nhà
chính trị, nhà quân sự, nhà hoạt động văn hóa, nghệ thuật lớn của Thăng Long -
Hà Nội… Kiều Thu Hoạch trong công trình Kỷ yếu Hội thảo khoa học kỷ
niệm 995 năm Thăng Long - Hà Nội, khi đánh giá về phẩm chất người Hà Nội
đã cho rằng: “… cái công nuôi dưỡng, nhào nặn của chiếc nôi văn hóa Thăng
Long đối với các nhân tài văn hóa của dân tộc là đặc điểm nổi bật, đặc sắc mà
không một vùng văn hóa địa phương nào có được”.
Như vậy, trải qua trường kỳ lịch sử với bao biến cố, Thăng Long - Hà
Nội luôn là “nơi trung tâm bờ cõi”, “nơi đô thành bậc nhất”, nơi hội tụ tinh
hoa sinh khí muôn nhà, là mảnh đất tiêu biểu về văn hóa, chính trị, kinh tế, xã
hội của cả nước. Thăng Long - Hà Nội giữ vai trò kinh đô lâu dài nhất trong
lịch sử dân tộc và cũng xếp hạng vào những kinh đô có bề dày lịch sử nhất
trên thế giới. Thật xứng đáng với sự lựa chọn và tiên liệu của vua Lý Thái Tổ
“thượng đô của kinh sư muôn đời”.22
1.1.2. Những điều kiện địa lý, lịch sử, xã hội của Hà Tây (cũ)
Hà Tây là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng. Hà Tây hợp nhất của
hai tỉnh Sơn Tây và Hà Đông với diện tích là 2.193km
2
. Sơn Tây vốn thuộc xứ
Đoài, Hà Đông thuộc trấn Sơn Nam Thượng. Xứ Đoài ngược lên phía Tây là
vùng núi, Hà Đông xuôi xuống phía Nam là vùng trũng. Hai vùng đất đều kề sát
kinh thành Thăng Long - Hà Nội. Hà Tây có vùng núi cao Ba Vì, phía Nam có
dãy núi đá vôi thuộc huyện Mỹ Đức, nơi có động Hương Tích nổi tiếng. Các
huyện Phúc Thọ, Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ phần lớn là vùng đồi núi
thấp. Còn lại là đồng bằng tương đối bằng phẳng, chiếm phần lớn diện tích toàn
tỉnh rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp trồng lúa nước.
Hà Tây có sáu con sông cổ (sông Đà, sông Hồng, sông Đáy, sông Tích,
quận Giao Chỉ, thời Bắc thuộc là quận Tân Hưng, quận Tân Xương, Châu
Hưng, Châu Phong. Trong buổi đầu đất nước độc lập tự chủ, dưới các triều
Đinh, Tiền Lê, Lý, đây là châu (Phong Châu và Quốc Oai), thời Trần đây là
Lộ. Tới thời Lê đây là Tây Đạo. Năm Quang Thuận thứ 7 đây gọi là Quốc Oai
thừa tuyên và năm thứ 10 gọi là Sơn Tây thừa tuyên. Đến năm Hồng Đức thứ 21
đổi thành xứ Sơn Tây rồi trấn Sơn Tây bao gồm tỉnh Sơn Tây, tỉnh Vĩnh Phúc
và cả huyện Từ Liêm, một phần Hà Đông, Hòa Bình. Năm Minh Mệnh thứ 12,
tỉnh Sơn Tây chính thức được thành lập [35, tr. 62].
Hà Tây từ lâu đã nổi tiếng là mảnh đất trăm nghề. Hiện nay, tỉnh có
1.450 làng, trong đó 900 làng có nghề và 106 làng được gọi là làng nghề. Ở
đây, các nghề thủ công ra đời và phát triển rất sớm. Nghề trồng dâu nuôi tằm
dệt lụa có từ đời Hùng Vương (làng Cổ Đô, La Phẩm ở Ba Vì, làng Vạn Phúc,
La Khê…); nghề khảm trai (làng Nhân Hiền ở Thường Tín), nghề sơn mài
24
(Duyên Thái), tiện gỗ (Nhị Khê), thêu (Quất Động), hàng mây tre (Phú
Vinh)… Đặc biệt các làng nghề nổi tiếng ở Hà Tây thường có ngày giỗ các vị
tổ nghề, hay các nhà thờ tổ. Hàng năm đến ngày người dân trong làng lại mở
hội tưởng nhớ tới công lao của các vị tổ nghề.
Vùng đất Hà Tây từ xưa đến nay vẫn tự hào là vùng “địa linh nhân kiệt”.
Đầu công nguyên, Hà Tây có bà Man Thiện. Tương truyền bà có hai con là
Trưng Trắc, Trưng Nhị là hai bậc anh thư nữ kiệt. Hai Bà Trưng - anh hùng
dân tộc khởi đầu cho tinh thần “anh hùng bất khuất, trung hậu đảm đang” của
phụ nữ Việt Nam. Sau Hai Bà Trưng, ở làng Đường Lâm nổi tiếng có hai
nhân vật Phùng Hưng, Ngô Quyền - những vị vua, những người anh hùng dân
tộc đem nền độc lập, tự chủ cho đất nước. Từ khi nhà Lý mở kỳ thi đầu tiên
tại Quốc Tử Giám (1076) đến khoa cuối cùng (1919), cả nước có 2.898 vị tiến
sĩ thì Hà Tây có 315 vị đứng hàng đầu cả nước. Trong đó có những dòng họ,
những làng khoa bảng nổi tiếng. Đó là những anh hùng, những nhà văn hóa:
Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi, Phùng Khắc Khoan, Ngô Thì Nhậm, Ngô
mạnh mẽ trên cơ sở một học lý mới nhờ vai trò của chúa Nguyễn Phúc Chu,
thì Phật giáo Đàng ngoài ảnh hưởng mạnh mẽ từ dòng thiền Trúc Lâm Yên
Tử. Ở thời kỳ Pháp thuộc và sau 1954: trong thời Pháp thuộc Phật giáo bị đàn
áp và khủng bố gắt gao nên Phật giáo thời kỳ này có tinh thần nhập thế và chấn
hưng mạnh mẽ. Sau 1954, Phật giáo phát triển trở lại và dần lấy lại vị thế.
Có thể thấy, trong suốt hơn hai mươi thế kỷ qua, Phật giáo đã có một vai
trò, vị trí nhất định đối với lịch sử dân tộc. Đặc biệt là trong triều Lý (1010 -
1225), khi Phật giáo phát triển cực thịnh và trở thành quốc giáo của dân tộc,
đây cũng là thời đại đất nước hùng mạnh nhất trong trang sử nước nhà. Từ thế
kỷ XI cho đến khoảng hết thời nhà Lý, Phật giáo ảnh hưởng sâu sắc trong đời
sống xã hội nước ta trên mọi phương diện: văn hóa, chính trị, xã hội.