ồng dao dân tộc Tày ở Việt Nam - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


NÔNG THỊ HUẾ ĐỒNG DAO DÂN TỘC TÀY
Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Dân gian Hµ néi - 2013
LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng sâu sắc và tình cảm chân thành, tác giả xin trân trọng cám
ơn: Khoa Văn học, Khoa Sau Đại học trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, Hà Nội cùng các thầy, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy và góp ý cho
tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với GS.TS
Lê Chí Quế, ngƣời trực tiếp hƣớng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình tác giả nghiên cứu
để hoàn thành luận văn.
Đồng thời, tác giả cũng xin gửi lời cám ơn chân thành nhất đến nhà văn
Hoàng Triều Ân; tác giả cuốn sƣu tầm, nghiên cứu Trò chơi dân gian đồng
bào miền núi Dƣơng Sách – Dƣơng Thị Đào; tác giả cuốn Đồng dao Tày
Hoàng Thị Cành; Thƣ viện Tỉnh Cao Bằng… đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp
tài liệu cùng bạn bè, ngƣời thân…đã thƣờng xuyên động viên, khích lệ tác giả
yên tâm học tập và nghiên cứu…

Hà Nội, ngày…tháng…năm 2013
Tác giả luận văn

Nông Thị Huế

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1

43
CHƢƠNG 2 - NỘI DUNG CỦA ĐỒNG DAO TÀY 49
2.1. Những bài đồng dao phản ánh về thế giới tự nhiên 49
2.1.1.Đồng dao phản ánh về thế giới động vật 49
2.1.2. Đồng dao phản ánh về các hiện tƣợng tự nhiên 55
2.2. Những bài đồng dao phản ánh về đời sống văn hóa xã hội ngƣời Tày 59
2.2.1. Phản ánh đời sống tinh thần, tình cảm và sinh hoạt văn hóa ngƣời
Tày 59
2.2.1.1.Những bài đồng dao phản ánh tinh thần chủ nghĩa tập thể, tinh
đoàn kết, lòng nhân ái, vị tha 60
2.2.1.2.Những bài đồng dao phản ánh kinh nghiệm dân gian ngƣời Tày 67
2.2.1.3.Những bài đồng dao gắn với đạo đức, văn hóa ứng xử ngƣời Tày . 70
2.2.1.4.Những bài đồng dao giới thiệu ẩm thực, địa danh từng vùng của
ngƣời Tày 72
2.2.2. Đồng dao gắn với các hoạt động lao động, ngành nghề 76
2.2.3 Đồng dao phản ánh những nghi lễ, phong tục tập quán của ngƣời Tày 81
2.2.4 Những bài đồng dao trêu đùa, chế giễu 89
2.3. Đồng dao Tày – trong mối quan hệ đối sánh với đồng dao các dân tộc
anh em 91
2.3.1.So sánh nội dung đồng dao Tày với đồng dao một số dân tộc anh
em qua sự phản ánh thế giới tự nhiên và lao động sản xuất 91
2.3.2. So sánh nội dung đồng dao Tày với đồng dao một số dân tộc anh
em qua sự phản ánh về quan hệ trong đời sống xã hội 100

2.3.2.1.Về hình ảnh con ngƣời đƣợc phản ánh trong các bài đồng dao
ngƣời Tày và đồng dao một số dân tộc 100
2.3.2.2. So sánh nội dung đồng dao Tày với các đồng dao các dân tộc
anh em trong quan hệ gia đình và quan hệ xã hội 106
2.3.3 So sánh mối quan hệ giữa trò chơi dân gian kèm đồng dao dân tộc
Tày với một số dân tộc 113

KẾT LUẬN 159
TÀI LIỆU THAM KHẢO 162 MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Đồng dao là một trong những di sản tinh thần qúi báu của dân tộc Việt
Nam. Do đó, tìm hiểu đồng dao giúp chúng ta có điều kiện tiếp cận và hiểu
sâu sắc hơn về truyền thống văn hóa Việt Nam, xuôi về với cội nguồn dân tộc.
Chính vì thế mà việc tìm hiểu đồng dao có một ý nghĩa thiết thực hết sức to lớn
Tìm hiểu đồng dao chính là để góp phần bổ sung, làm giàu nguồn sức
mạnh tinh thần cho tuổi thơ và góp phần làm sống dậy những tinh hoa văn
hóa dân tộc và kêu gọi ý thức giữ gìn truyền thống văn hóa tốt đẹp của nhân
dân ta.
Qua những bài đồng dao theo cách nói vần, đồng dao đã làm tốt chức
năng biểu đạt ý, giáo dục nhận thức, bồi dƣỡng tình cảm cho trẻ. Sinh hoạt
đồng dao thƣờng xuyên có tác dụng luyện trí nhớ cho trẻ em. Trẻ không thuộc
bài hát thụ động mà thuộc với tất cả sự hứng thú của nó. Tham gia sinh hoạt
đồng dao là đứa trẻ đã bắt đầu bƣớc vào sinh hoạt văn hóa tập thể một cách tự
nguyện. Tùy theo lứa tuổi, trẻ có thể chơi các trò chơi khác nhau. Ngoài ra,
đồng dao cũng là một cuốn từ điển sống, chứa đựng một kho từ vựng phong
phú. Thông qua kho tàng từ ngữ giàu có, đồng dao giáo dục các em nhận thức
đƣợc môi trƣờng tự nhiên và xã hội
Bên cạnh dân ca sinh hoạt của các dân tộc khác thì dân ca sinh hoạt
của ngƣời Tày có mặt trong mọi khía cạnh cuộc sống của ngƣời Tày. Từ lúc
bƣớc chân ra khỏi nhà đến mảnh nƣơng, thửa ruộng để nhặt rêu bắt ốc, tìm
măng hái củ,… lúc nào, nơi nào cũng phải có câu hò, tiếng hát. Tiếng hát, lời
ca đã trở thành linh hồn của bản làng, là nơi thể hiện chân thành tình cảm của
ngƣời Tày theo cách riêng của mình. Dân ca sinh hoạt của ngƣời Tày không chỉ
phong phú về nội dung, chan chứa sắc thái biểu cảm mà còn đa dạng về các


tìm hiểu đồng dao Tày góp thêm một tiếng chuông để khơi dậy, để giáo dục cho
các con em ngƣời dân tộc Tày chung tay gìn giữ ngôn ngữ, bản sắc dân tộc
mình
Nhƣ chúng ta đã biết, ngƣời Tày phân bố rải rác nhiều nơi ở nƣớc ta, tuy
nhiên tập trung đông nhất và cũng là địa bàn cƣ trú chủ yếu của ngƣời Tày là ở
khu vực miền núi phía Đông Bắc thuộc các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng
Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang…hơn nữa ở khu vực này các đặc
điểm về văn hóa, văn học…đƣợc tập trung thể hiện một cách đầy đủ, rõ nét và
tiêu biểu nhất.
Đứng trƣớc thực trạng đáng báo động nhƣ vậy, bản thân tôi là ngƣời
con dân tộc Tày nên có mong muốn thông qua luận văn này góp một phần nhỏ
để gìn giữ, bảo tồn những giá trị văn hóa đặc sắc của quê hƣơng đang dần bị
mai một trong cuộc sống hiện đại đồng thời bản thân tôi cũng có mong muốn,
đề xuất về việc đồng dao các dân tộc nói chung và đồng dao Tày nói riêng
phải đƣợc phục hồi và tiếp nối. Hơn nữa, đây chính là cơ sở để lớn tìm đến
với các bài đồng dao, nghiên cứu, viết lời mới, sƣu tầm và sáng tạo trò chơi
mới để vừa đƣa đồng dao đến với trẻ, vừa thực hiện đƣợc mục tiêu giáo dục.
Việc làm đó có ý nghĩa sâu sắc trong việc giáo dục, phát triển ngôn
ngữ, tâm lý, tính cách của trẻ, tác động sâu sắc đến tâm hồn trẻ nhỏ đồng thời
sẽ góp phần cho sự tiếp nối sức sống của đồng dao trong đời sống sinh hoạt,
tinh thần của cộng đồng. Đó cũng chính là sự góp phần vào việc gìn giữ, phát
huy…các giá trị văn hóa dân gian ngày càng có nguy cơ bị đánh mất.
Trên cơ sở đó, chúng tôi muốn đề cập đến một thể loại văn học dân
gian dành cho trẻ em đó là Đồng dao dân tộc Tày ở Việt Nam làm đối tƣợng
nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp. Việc tìm hiểu, nghiên cứu đề tài này do hoàn
cảnh cũng nhƣ điều kiện về địa lý chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu về đồng dao
Tày ở khu vực các tỉnh miền núi phía Bắc vì đây cũng là nơi mà đồng dao Tày

mang những nét đặc trƣng, tiểu biểu nhất, đại diện, khái quát cho cả đồng dao dân

Bắc, Tạp chí Văn học.
+Mông Kí Slay (1994), Ngôn ngữ trẻ thơ qua đồng dao Nùng, Tạp chí
Văn hóa dân gian.
+ Lèng Thị Lan,

Nhân cách hóa trong đồng dao Tày, Nùng, Tạp chí
Khoa học và Công nghệ, Tập 71, số 09, Trƣờng Đại học Nông Lâm - Đại học
Thái Nguyên, tr. 57 -61
+ Lèng Thị Lan (2012), Diễn xướng đồng dao trong các hoạt động lao
động của trẻ em dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, Tạp chí Khoa học Công
nghệ, Tập 91, số 03, tr. 33 - 37
+ Tuấn Giang với công trình nghiên cứu âm nhạc: Đặc điểm dân ca
Mông Tày Nùng Thái
Bên cạnh đó là một số cuốn sách đƣợc sƣu tầm và biên soạn nhƣ:
Hoàng Thị Cành (1994), Đồng dao Tày. Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội.
+Tô Ngọc Thanh (1994), Đồng dao Thái, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà
Nội.
+Nông Hồng Thăng (1995), Đồng dao Nùng, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà
Nội.
+ Bùi Thiện (2004), Đồng dao Mường, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội.
+ Dƣơng Sách – Dƣơng Thị Đào (2006), Trò chơi dân gian đồng bào
miền núi, Chi hội Văn nghệ dân gian Cao Bằng
+ Một số bài đồng dao trong cuốn Địa chí Cao Bằng của NXB Chính trị
quốc gia (năm 2000) – Tỉnh ủy, UBND Tỉnh Cao Bằng.
+ Một số bài đồng dao trong Tổng tập Văn học các dân tộc thiểu số Việt

Nam, Tập I, Quyển 1, Nxb Đà Nẵng 2002
Vì vậy, những bài viết và công trình nghiên cứu ở trên chính là những
tiền đề khoa học gợi mở giúp chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài này.
4.Phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu

6. Đóng góp luận văn
Đến với vấn đề nghiên cứu còn khá mới mẻ, bằng năng lực và trình độ
hạn hẹp của bản thân, chúng tôi nhận thức đƣợc rằng những gì trình bày trong
luận văn này chỉ là kết quả của bƣớc khởi đầu. Tuy vậy, bằng niềm yêu thích,
đam mê cũng nhƣ sự mong muốn góp một tiếng nói để gìn giữ, phát huy
những giá trị của dân tộc chúng tôi luôn cố gắng và có ý thức để hoàn thành
luận văn này tốt nhất để có những đóng góp thiết thực nhƣ:
Thứ nhất: Mở ra một hƣớng nghiên cứu để tiếp cận thế giới đồng dao
Tày Việt Nam trên phƣơng diện nội dung và nghệ thuật và tiếp tục làm sáng tỏ
những đặc sắc nội dung, nghệ thuật đồng dao. Từ đó, tạo tiền đề cần thiết cho
những công trình nghiên cứu ở cấp độ cao hơn. Hơn nữa, từ việc thấy đƣợc giá
trị về nội dung, nghệ thuật đồng dao Tày cùng với ý nghĩa giáo dục to lớn đối
với trẻ em, chúng tôi mong muốn các cơ quan chức năng, cơ quan có thẩm
quyền và các cơ sở, các tổ chức giáo dục sẽ quan tâm, chú trọng hơn đến thể loại
đồng dao và có những biện pháp, hình thức để đƣa đồng dao vào học tập, vui
chơi nhiều hơn nữa không chỉ trong môi trƣờng sƣ phạm.
Ngoài ra, luận văn còn có ý nghĩa sƣ phạm thiết thực. Thông qua việc
tìm hiểu những nét đặc sắc nội dung, nghệ thuật đồng dao sẽ góp phần giúp
cho học sinh hiểu biết sâu sắc hơn về những nét văn hóa truyền thống của

ngƣời Tày. Từ đó, sẽ giúp học sinh có điều kiện để khám phá ra cái hay, cái đẹp
của đồng dao cũng chính là khám phá ra truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân
tộc mình.Trên cơ sở đó mà giáo dục cho các em lòng tự hào về bản sắc văn
hóa tốt đẹp của dân tộc.
Bên cạnh đó, luận văn đƣợc hoàn thành sẽ cung cấp cho những sinh
viên, giảng viên Ngữ Văn và những ngƣời yêu thích, nghiên cứu văn học dân
gian có thêm một nguồn tƣ liệu để tham khảo.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung của
luận văn đƣợc thể hiện trong ba chƣơng:

Thái và ngƣời Việt còn có tổ tiên của các nhóm dân tộc khác trong nhóm
cộng đồng Tây Âu và Lạc Việt. Hơn nữa, đặc điểm lịch sử của miền Nam
Trung Quốc và miền núi Bắc Bộ Việt Nam là lịch sử của những đợt di cƣ của
các tộc ngƣời thuộc các ngôn ngữ khác nhau. Kết quả của các đợt di cƣ rộng
lớn từ thế kỉ III trƣớc Công nguyên đến đời Tần Hán về sau đã làm cho các
tộc ngƣời bản địa vùng này bị biến động, phải thiên di xuống phía nam hoặc
phải dạt vào các miền rừng núi. Sự hỗn nhập nhân chủng và văn hoá qua các
lần di cƣ đã làm thay đổi cục diện và đã thúc đẩy khối Tày - Thái cổ tách làm
hai vào khoảng những thế kỉ trƣớc, sau Công nguyên. Sự phân bố của khối

Tày - Thái phía đông về cơ bản đƣợc ổn định vào đầu Công nguyên với ranh
giới khu vực là miền núi rừng Đông Bắc (Việt Bắc) ngày nay.
Đây cũng chính là thời kì diễn ra quá trình hình thành nhà nƣớc Văn
Lang ở miền đất cổ Phong Châu. Theo sử cũ và truyền thuyết thì lúc bấy giờ
có khoảng 15 bộ lạc đã liên kết lại để dựng nên nhà nƣớc Văn Lang, mở đầu
thời đại đầu tiên của lịch sử Việt Nam - thời đại các vua Hùng. Các bộ lạc
Tày - Thái cổ đƣợc coi nhƣ là một thành phần quan trọng trong sự liên minh
bộ lạc lần thứ nhất. Sau thời Chiến Quốc (481 - 221 trƣớc Công nguyên), nhà
Tần thống nhất Trung Quốc và bành trƣớng xuống phƣơng Nam. Nhà nƣớc
Văn Lang không thể đủ sức để chống lại sức mạnh của tƣ tƣởng "bình thiên
hạ" của nhà Tần. Một tình hình thực tế lúc bấy giờ là các bộ phận khác của
Bách Việt đã bị Tần thôn tính đều ra nhập cộng đồng Hán tộc. Nhu cầu cấp
bách chống ngoại xâm đã thúc đẩy sự liên minh lần thứ hai giữa các bộ tộc
Tày - Thái cổ với các bộ tộc Lạc Việt để dựng lên nhà nƣớc Âu Lạc trên cơ sở
kế thừa và phát triển nhà nƣớc Văn Lang. Cơ sở hình thành nhà nƣớc Âu Lạc
đã đƣợc GS. Đinh Gia Khánh phân tích khá cụ thể với ba luận điểm:
- Đó là sự mở rộng liên minh bộ lạc vốn có từ thời các vua Hùng.
- Nâng cao chất lƣợng của liên minh bộ lạc nhằm làm chủ con đƣờng
giao thƣơng quốc tế trên lục địa và ven biển.
- Củng cố liên minh giữa bộ lạc Âu Việt và Lạc Việt để chuẩn bị đối

Việt lại trở thành một trong những nhân tố quan trọng góp phần tạo nên diện
mạo tộc ngƣời Tày hiện đại. Trong nhiều thời điểm khác nhau của lịch sử, có
một bộ phận ngƣời Tày đƣợc Việt hoá thì cũng không ít ngƣời Việt đƣợc Tày
hoá. Trong suốt gần mƣời thế kỉ của quốc gia phong kiến tự chủ đã có khoảng
nửa triệu ngƣời Kinh lên Việt Bắc, đã bị Tày - Nùng hoá. Nếu nghiên cứu một

số gia phả của dòng họ ngƣời Tày ở Việt Bắc, chúng ta nhận thấy, có vùng
ngƣời Kinh bị Tày hoá khá đậm. ở xã Thạch Đam, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng
Sơn có 89 gia đình thì trong đó có tới 63 gia đình Việt đƣợc Tày hoá; ở huyện
Hoà An, tỉnh Cao Bằng nhân dân nhiều xã là con cháu của quan quân nhà
Mạc hay nhà Lê ở lại, nhƣ ở thôn Phƣơng Tiên, xã Dân Chủ có 40 gia đình
trong số 149 gia đình đã Tày hoá đến 8 - 9 đời . Vào những năm 80, ở Lạng
Sơn - nơi có nhiều ngƣời Tày sinh sống - ngƣời ta đã tìm thấy tài liệu "Thất
tộc Thổ ti" tức bảy dòng họ Thổ ti của ngƣời Tày ở đây có nguồn gốc từ
ngƣời Việt ở Bắc Bộ và Trung Bộ. Những cứ liệu đó từ các nghiên cứu liên
ngành đã giúp chúng ta khẳng định: từ hàng ngàn năm trƣớc, cùng với các bộ
lạc Việt - Mƣờng cổ, các nhóm Tày - Thái cổ đã thật sự tham gia vào quá
trình tạo dựng nên lịch sử dân tộc cũng nhƣ văn hoá dân tộc. Đặc biệt là dƣới
góc độ quan hệ văn hoá tộc ngƣời thì giữa ngƣời Tày và ngƣời Việt đã hình
thành mối quan hệ khăng khít trên cơ sở khách quan của lịch sử và do nhu cầu
nội tại của hai tộc ngƣời Tày và Việt.
Tộc ngƣời Tày không chỉ đóng góp trong việc xây dựng nền văn
minh, văn hoá Việt Nam mà còn có công lao bảo vệ nền văn minh, văn hoá
Việt trƣớc âm mƣu thôn tính, đồng hoá của các thế lực ngoại bang.
Các tác giả cuốn Văn hoá dân gian Tày, sau khi dẫn chứng các cứ liệu
một cách khá tổng quát, đã đi đến nhận định: các cứ liệu khảo cổ học (văn hoá
Phùng Nguyên), các tài liệu dân tộc học (ngọc phả đền Hùng, thần tích địa
phƣơng, địa danh ), các yếu tố văn hoá Tày - Thái trong nền văn hoá Đông
Sơn, các truyền thuyết lịch sử của ngƣời Tày ở Cao Bằng (Cẩu chúa Cheng
vua) và các cứ liệu dân tộc học khác trong cấu trúc thành Cổ Loa đều góp

mùa. Nơi đây do có vùng đổi cỏ rộng nên tạo điều kiện thuận lợi cho việc

nuôi đàn gia súc: trâu, bò…để có sức khỏe tốt phục vụ cho cày, bừa. Ngƣời
Tày cũng thành thạo trong việc xây dựng hệ thống phai mƣơng, làm những
gọn quay đƣa nƣớc lên tƣới ruộng và lợi dụng sức nƣớc để giã gạo. Đồng bào
nơi đây làm ruộng theo thời tiết âm lịch, đã biết sử dụng phâ bón cho cây
trồng. Trong việc làm ruộng ngƣời Tày có tạp quán đập, tuốt lúa ngay trên
ruộng gặt, sau đó mới chuyển thóc về nhà phơi.
Sản phẩm nông nghiệp của họ có đủ hầu hết các loại: lúa nếp, lúa tẻ,
ngô, khoai lang, các loại đậu… Cùng với những sản phẩm trên đồng bào còn
trồng cây ăn quả quanh vƣờn nhà, trên sƣờn đồi: hạt dẻ, lê, táo, mận, hồng…
Từ nền nông nghiệp phát triển đa dạng, đất rừng, đồi cỏ rộng ngƣời
Tày còn phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm: dê, ngựa, trâu, bò, lợn, gà, vịt,
ngan, ngỗng…
Ngƣời Tày hiện nay ở vùng sâu, xa vẫn đi săn bắn, tuy ở vùng thƣợng
du nhƣng cũng khá giỏi về đánh bắt cá bằng chài, lƣới…Nghề thủ công đồng
bào nơi đây khá phong phú, nam nữ biết cách đan các đồ dùng bằng cót, bồ,
dậu…họ tự túc đƣợc các loại vải may quần áo, làm màn, làm chăn
đắp…Nhiều nơi còn nổi tiếng về dệt thổ cẩm, ngoài ra họ cũng đã mở chợ
phiên để phục vụ mua bán, trao đổi hàng hóa của ngƣời dân Tày.
* Văn hóa tổ chức đời sống
Gia đình ngƣời Tày là gia đình nhỏ phụ quyền, xã hội trƣớc đây của
họ từng là xã hội phong kiến, lại chịu ảnh hƣởng sâu sắc của Nho giáo nên
ngƣời Tày thể hiện tính gia trƣởng phụ quyền, trọng nam khinh nữ. Ngƣời vợ
có vai trò quan trọng trong sản xuất, nội trợ, nuôi dạy con…nhƣng quyền
quyết định mọi công việc quan trọng về đối nội, đối ngoại là do ngƣời chồng.
Bàn thờ ngƣời Tày rất trang nghiêm hầu nhƣ phụ nữ, con gái không đƣợc bén
mảng đến.

Ngƣời Tày quan hệ với nhau về mặt huyết tộc rất sâu sắc, ngƣời

sử dụng những loại gỗ quý để dựng thành nhà sàn, ngôi nhà với các hàng cột
ngang, dọc vững chãi, chân cột kê trên đá tảng chống đỡ sàn nhà và trên
mái…Mặt bằng trên cùng là gác xép nơi chứa thóc, lƣơng thực…Mặt bằng
giữa sàn là nơi sinh hoạt của con ngƣời, mặt bằng dƣới sàn, mặt đất là nơi để
nông cụ, củi, chuồng gia súc, gia cầm.
Đi vào nhà ngƣời Tày sẽ thấy có bàn thờ tổ tiên để trên cao, trên
tƣờng thƣờng có đại tự hoặc chữ Phụng, chữ Kính, chữ Tổ…Khi có khách
đến nhà, bƣớc lên sàn phải đến bến rửa (sích má) để rửa chân, ở đó có sẵn
máng nƣớc chảy theo ống khe suối về, rồi mới vào cửa. Giữa nhà, bên bàn thờ
(có vách ngăn) là bếp lửa, quanh đó là chạn bát, dụng cụ nấu nƣớng. Trên bếp
cao hơn đầu ngƣời có treo lủng lẳng nột cái giàn nhỏ (rộng khoảng 100cm x
150cm) gọi là ăn xá (gác bếp) có tác dụng sấy thịt phơi khô, tích trữ thức ăn.
Quanh nhà, trồng cây ăn quả, trƣớc nhà là ao cá.
* Văn hóa tinh thần
- Về hôn nhân
Thanh niên nam nữ ngƣời Tày đƣợc tự do tìm hiểu thổ lộ tình cảm với
nhau nhƣng hôn nhân vẫn do cha mẹ sắp đặt, ngƣời Tày có câu: “ tặt tầƣ nẳng
tỉ” (đặt đâu ngồi đó) hay “ nhình khai chài dự” (gái bán trai mua). Nhƣng hiện
nay quan niệm hôn nhân ngƣời Tày đã có nhiều tiến bộ. Hôn nhân thƣờng trải
qua các giai đoạn
Lễ ăn hỏi: Bƣớc đầu tiên là dạm hỏi, việc dạm hỏi không thành lễ mà
chỉ nhờ ngƣời có uy tín, đứng tuổi và có hiểu biết khá rõ về hoàn cảnh nhà
trai, thay mặt nhà trai sang nhà gái bàn chuyện hôn nhân. Lễ ăn hỏi đƣợc diễn
rất trang trọng, lễ vật ăn hỏi: thƣờng có mâm xôi, gà thiến luộc, hai chai

rƣợu…Trong buổi lễ hai bên bàn bạc và quyết định nhiều vấn đề quan trọng:
quyết định số lƣợng lễ vật cƣới, đi sâu vào từng khoản cụ thể: tiền mặt, lợn, lễ
hồi môn, ngày giờ đón dâu…hôm ăn hỏi thƣờng cô dâu, chú rể tránh mặt.
Đồng thời, nhà trai lấy ngày sinh tháng đẻ của cô gái về để nhờ những ngƣời
biết xem tƣớng số xem có hợp nhà trai không.

Văn học dân gian ngƣời Tày rất phong phú bao gồm nhiều thể loại
khác nhau: tự sự dân gian, thơ ca dân gian, lời ăn tiếng nói của nhân dân…
*Kho tàng truyện kể
Trong kho tàng tự sự dân gian thì kho tàng truyện cổ là phong phú
nhất. Về mảng truyền thuyết, dã sử phải kể đến một truyền thuyết đã lƣu
truyền trong dân gian ngƣời Tày từ bao đời nay kể về hai con ngƣời đầu tiên
xuất hiện trên mặt đất này, giải thích tại sao con ngƣời sinh ra lại biết lao
động, trông cấy, chăn nuôi…đó là truyền thuyết Báo Luông – Sao Cải (Trai
Khổng Lồ - Gái Vĩ Đại), hay trong kho tàng Văn học dân gian của ngƣời Tày
Cao Bằng từ lâu đời đã có truyền thuyết về Thục Phán – An Dương Vương
(Cẩu Chủa Cheng Vùa – Chín Chúa Tranh Ngôi Vua), đến những câu chuyện
lịch sử có giá trị nhƣ truyện Trần Qúy (thế kỷ X), Truyện Khâu Sầm, Bà
Hoàng…
Về truyện cổ của ngƣời Tày rất đa dạng: thần thoại, cổ tích, truyện
cƣời, truyện ngụ ngôn…Tất cả đều nhằm giải thích sự ra đời của các hiện
tƣợng tự nhiên, của con ngƣời cùng với sự đấu tranh tinh thần trong xã hội.
Truyện đƣợc kể rất hấp dẫn, lôi cuốn làm toát lên tinh thần hƣớng thiện, lạc
quan, có những truyện còn đƣa thêm những câu tục ngữ, ca dao…cho thêm
phần hấp dẫn, mới mẻ.

Trích đoạn So sánh nội dung đồng dao Tày với các đồng dao các dân tộc Kết cấu vòng tròn lặp đầu cuối Kết cấu liên kết theo vần Kết cấu móc xích Ngôn ngữ đồng dao cô đúc, gợi hình, gợi cảm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status