Ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc đối với một số truyện cổ tích của người Việt - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN THỊ HOÀI PHƢƠNG
ẢNH HƢỞNG CỦA VĂN HÓA TRUNG QUỐC ĐỐI
VỚI MỘT SỐ TRUYỆN CỔ TÍCH CỦA NGƢỜI VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học dân gian


Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 60 22 36 Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Chí Quế

Hà Nội – 2013
3
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài 6
1.1. Lý do về khoa học 6
1.2. Lý do về sư phạm 7
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 7
2.1. Đối tượng nghiên cứu 7
2.2. Phạm vi nghiên cứu 8
3. Lịch sử vấn đề 8
4. Nhiệm vụ của đề tài 11
5. Đóng góp của đề tài 12
6. Phƣơng pháp nghiên cứu 12

2.2.2. Truyện cổ tích của người Việt tiếp thu một cách sáng tạo những truyện kể
dân gian Trung Quốc 48
2.2.2.1. Trường hợp 1: Một số truyện cổ tích của người Việt đã tiếp thu nội dung
chủ đề và cốt truyện của truyện kể dân gian Trung Quốc nhưng xây dựng một hệ
thống những tình tiết và nhân vật mới. 48
2.2.2.2. Trường hợp 2: Một số truyện cổ tích của người Việt trong đó một phần
nội dung câu chuyện được tiếp thu từ truyện kể dân gian Trung Quốc 58
2.2.2.3. Trường hợp 3: Một số truyện cổ tích của người Việt trong đó có một chi
tiết nghệ thuật tiêu biểu được tiếp thu từ truyện kể dân gian Trung Quốc 68
Tiểu kết chương 2: 76
Chƣơng 3: ẢNH HƢỞNG CỦA NHỮNG YẾU TỐ KHÁC TRONG VĂN HÓA
TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI MỘT SỐ TRUYỆN CỔ TÍCH CỦA NGƢỜI VIỆT 77

5
3.1. Ảnh hƣởng của những phong tục thờ cúng của Trung Quốc đối với một
số truyện cổ tích của ngƣời Việt 77
3.1.1. Ảnh hưởng của tục thờ cúng tổ tiên của Trung Quốc 77
3.1.2. Ảnh hưởng của tục thờ cúng Táo quân của Trung Quốc 81
3.2. Ảnh hƣởng của những quan niệm của ngƣời Trung Quốc đối với một số
truyện cổ tích của ngƣời Việt 84
3.2.1. Ảnh hưởng của quan niệm về con số 3 của người Trung Quốc 84
3.2.2. Ảnh hưởng của quan niệm về con thỏ của người Trung Quốc 92
3.3. Ảnh hƣởng của những điển tích trong văn học Trung Quốc đối với một
số truyện cổ tích của ngƣời Việt 95
Tiểu kết chương 3: 98
PHẦN KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102 6

mặt lịch sử, sau khi An Dương Vương thất bại trước cuộc tiến công xâm lược của
Triệu Đà, Việt Nam đã phải trải qua một nghìn năm đô hộ của phong kiến Trung Quốc.
Trong suốt thời kỳ này, các triều đại Trung Quốc đã thực hiện những chính sách đồng
hóa nhằm biến Việt Nam thành một quận huyện của Trung Quốc. Đây chính là những
nguyên nhân cơ bản khiến cho văn hóa Việt Nam gắn bó với văn hóa Trung Quốc đến
mức “thế hệ sau muốn hiểu di sản tinh thần của cha ông, không thể không có kiến thức
về Trung Quốc học” [15, tr.169 ].
Vấn đề ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc đối với truyện cổ tích của người
Việt mặc dù đã được đề cập đến nhưng mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một tác
phẩm hay phương diện cụ thể nào đó mà ít có tính hệ thống. Đây chính là động lực
mạnh mẽ thôi thúc chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này.
1.2. Lý do về sƣ phạm
Hiện tại học viên là một giáo viên giảng dạy môn Ngữ Văn. Hơn nữa việc tìm
hiểu những văn bản của văn học dân gian trong đó có truyện cổ tích của người Việt là
một phần trong chương trình Ngữ Văn phổ thông. Do đó vấn đề nghiên cứu mà đề tài
đặt ra góp phần xây dựng những cơ sở để nghiên cứu, giảng dạy các tác phẩm văn học
dân gian trong nhà trường xét từ góc độ ảnh hưởng văn hóa.
Với những lý do trên đây chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài này làm đối tượng
nghiên cứu trong luận văn của mình.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Truyện cổ tích của các dân tộc trên đất nước ta là một kho tàng vô cùng phong
phú và đa dạng. Trong luận văn này chúng tôi chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một số
truyện cổ tích của người Việt. Cụ thể chúng tôi lựa chọn những truyện trong Kho tàng

8
truyện cổ tích của Nguyễn Đổng Chi, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2000 làm đối tượng
nghiên cứu.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Văn hóa Trung Quốc có hai bộ phận: cốt lõi của nó là văn hóa của người Hán ở

Trong công trình Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam
và Đông Nam Á, Nguyễn Bích Hà đã cho rằng những môtíp ra đời từ sự giao lưu văn
hóa với các dân tộc xung quanh bao gồm cả hai loại: tiếp nhận và tiếp biến. Tác giả đã
đưa ra những ví dụ tiêu biểu như: hình tượng Nữ Oa, Hằng Nga, Ngưu Lang – Chức
Nữ, Thần Nông trong các truyện cổ của ta có nguồn gốc từ truyện cổ Trung Quốc còn
những nhân vật Phật, Bụt thì được du nhập từ Ấn Độ,…Tiếp đó đến năm 2001, trên tạp
chí Văn hóa dân gian, số 3, tác giả viết bài Truyện Ông Ngâu – Bà Ngâu ở Việt Nam,
Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản để lý giải sự tương đồng và dị biệt giữa truyện của
Việt Nam với những truyện có cùng cốt kể của Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên.
Liên quan đến vấn đề này còn có luận án So sánh kiểu truyện “Cô lọ lem” của
một số dân tộc miền Nam Trung Quốc với kiểu truyện Tấm Cám của Việt Nam của
Đường Tiểu Thi và luận văn của Nguyễn Thị Hảo năm 2009 với đề tài: Truyện “Ông
Ngâu – Bà Ngâu” trong văn hóa và văn học dân gian người Việt. Các tác giả đi vào so
sánh những kiểu truyện và môtíp tiêu biểu cùng xuất hiện trong truyện kể dân gian của
hai nước để lý giải cội nguồn và đặc trưng của những yếu tố đó.
Năm 2006, Nguyễn Bá Thành trong công trình Bản sắc Việt Nam qua giao lưu
văn học đã cho rằng:“Trong nền văn hóa Việt Nam nếu loại bỏ những gì gọi là tương
đồng với Trung Hoa thì sẽ còn lại cái gì? Chúng tôi không khẳng định văn hóa Việt
Nam hoàn toàn giống với văn hóa Trung Hoa nhưng chúng tôi cũng không khẳng định
văn hóa Việt Nam hoàn toàn khác với văn hóa Trung Hoa. Chúng tôi nói rằng, văn hóa
Việt Nam là văn hóa Việt Nam, văn hóa Trung Hoa là văn hóa Trung Hoa. Hai nền

10
văn hóa này vừa có những nét tương đồng lại vừa có những nét dị biệt, có nhiều giai
đoạn tượng đồng nhưng cũng có nhiều giai đoạn dị biệt, có nhiều sự gặp gỡ nhưng
cũng nhiều khoảng cách xa” [56,tr.144]. Ngoài ra tác giả còn nhấn mạnh rằng dù có
chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc thì văn hóa Việt Nam cũng không phải là một
“sản phẩm thứ cấp của nền văn hóa Trung Hoa, thấp hơn Trung Hoa, đi sau Trung
Hoa. Sự giống hay sự khác không nói lên trình độ cao hay thấp, phẩm chất tốt hay tồi
mà chỉ là để nhận dạng” [56, tr. 146].

này đối với văn hóa và văn học thế giới trong đó có Việt Nam. Là tập hợp những bài
viết riêng lẻ của nhiều nhà nghiên cứu nên cuốn sách tạo ra cái nhìn hết sức phong phú
và đa dạng về đối tượng.
Từ việc điểm lại một số công trình liên quan đến vấn đề mà luận văn hướng tới,
chúng tôi xin rút ra những nhận xét như sau:
Bàn về vấn đề ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc với văn hóa Việt Nam từ
trước tới nay có hai nhóm ý kiến chính: nhóm ý kiến thứ nhất nhấn mạnh sự khác nhau
giữa hai nền văn hóa còn nhóm ý kiến thứ hai lại chỉ ra trong văn hóa Việt Nam bên
cạnh những dấu ấn của văn hóa Trung Quốc còn có những yếu tố mang nguồn gốc bản
địa. Cả hai nhóm ý kiến đều đúng trong những trường hợp cụ thể. Vì nhiệm vụ của đề
tài nên chúng tôi lựa chọn nhóm ý kiến thứ hai để nghiên cứu.
Những công trình trong nhóm ý kiến thứ hai hoặc là bàn luận về ảnh hưởng của
văn hóa Trung Quốc đến văn hóa Việt Nam nói chung hoặc là chỉ giới hạn việc nghiên
cứu sự ảnh hưởng giữa những tác phẩm văn học dân gian cụ thể của hai nước chứ chưa
đi vào giải quyết chi tiết vấn đề đặc biệt là sự ảnh hưởng với những truyện cổ tích của
người Việt.
4. Nhiệm vụ của đề tài
- Chỉ ra sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc đối với truyện cổ tích của người
Việt. Cụ thể là nghiên cứu ảnh hưởng của Đạo giáo, của một số truyện kể dân gian,

12
một số quan niệm, phong tục và điển tích văn học của Trung Quốc. Nhận xét cách thức
người Việt tiếp thu những ảnh hưởng này như thế nào.
- Đưa ra sự kiến giải về những nguyên nhân dẫn đến sự ảnh hưởng đó đối với
một số truyện cổ tích của người Việt.
5. Đóng góp của đề tài
Đề tài góp phần lý giải cội nguồn văn hóa của một số truyện cổ tích của người
Việt, trên cơ sở đó một lần nữa khẳng định việc tiếp thu linh hoạt các yếu tố ngoại lai
của văn học dân gian Việt Nam và vai trò của giao lưu văn hóa trong việc làm phong
phú, đa dạng nền văn hóa, văn học dân tộc.

phương Đông, các nhà nghiên cứu nhận ra rằng không có sự phân biệt rạch ròi giữa
triết học và tôn giáo mà chúng có sự hòa quyện, gắn bó với nhau. Do đó muốn hiểu
khía cạnh tôn giáo ta cần phải biết nguồn gốc triết học của nó.
1.1.1. Đạo gia
Như chúng ta đã biết Đạo gia là một trào lưu triết học cổ đại Trung Hoa. Người
sáng lập ra Đạo gia là Lão Tử (chưa rõ năm sinh năm mất, nhưng theo nhiều tư liệu thì
ông sống vào khoảng thế kỷ VI - V trước C.N) nên nó còn được gọi là Đạo Lão. Tư
tưởng của Lão Tử được đúc kết trong tác phẩm nổi tiếng là Đạo đức kinh. Lần đầu tiên
trong lịch sử Trung Quốc, Lão Tử đã đề cập đến nguồn gốc của vũ trụ. Theo ông
“Đạo”chính là trung tâm của vũ trụ khi cho rằng: “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị
sinh tam, tam sinh vạn vật” [15, tr. 162]. Vạn vật dưới gầm trời này đều do Đạo sinh ra
hay nói cách khác Đạo là Mẹ của muôn loài và rồi cuối cùng tất cả lại trở về với Đạo.
Vậy Đạo là gì? Đây là câu hỏi không dễ trả lời cho nên chính bản thân Lão Tử cũng
phải giải thích nhiều lần. Sở dĩ như vậy là vì Đạo được xem là siêu việt, vượt lên trên
mọi khái niệm. Đạo là “vô” (không), không có hình, không có ảnh. Đạo chẳng thể nghe

14
được cũng không nhìn thấy, không ngửi thấy, không cầm lấy được bởi nếu nghe được,
nhìn thấy được, ngửi được, cầm nắm được,…thì không còn phải là Đạo nữa. Đạo
không thể cảm giác, không thể diễn tả dưới bất kỳ hình thức nào. Có thể nói Đạo gia đã
đề cập đến Đạo một cách phi thường, siêu việt và huyền diệu.
Ngoài việc đề cập đến nguồn gốc của vũ trụ, thì điều đáng nói nữa là Lão Tử
còn đưa ra quan điểm của mình về mặt chính trị - xã hội với thuyết “vô vi”, chống lại
chủ trương “hữu vi”. Vô vi theo Đạo gia không có nghĩa là không làm gì, mà là phải
làm một cách thuần phác, thuận theo tự nhiên và không trái với Đạo. Theo triết học
nhân sinh Đạo gia, trở về với tự nhiên là tìm về với giá trị đích thực của cuộc sống.
Cho nên nếu như Nho gia nêu cao tinh thần nhập thế thì Đạo gia cho rằng muốn bảo vệ
được giá trị của mình cần tránh xa những bon chen trong xã hội, trở về với cuộc sống
“siêu công lợi”, “siêu đạo đức” [15, tr. 58]. Nếu không biết vô vi thì đó là những kẻ
ham danh vọng, ham tiền tài,… sẽ chuốc lấy tai họa. Trên cơ sở đó ông đề xướng “vô

tiên. Khi đó không chỉ linh hồn mà cả thể xác của con người cũng sẽ được bất tử. Ở
phương diện này ta nhận thấy sự khác biệt giữa Đạo gia và Đạo giáo. Nếu như Đạo
gia đề cao lí tưởng của một thánh nhân, thực hiện Đạo bằng cách giữ gìn một tâm thức
nhất định thì Đạo giáo tìm con đường đạt Đạo thông qua những phương pháp tu luyện.
Phật giáo cho rằng đời là bể khổ, con người tu hành mục đích là để thoát khổ thì với
Đạo giáo tu là để trường thọ. Vậy tu luyện như thế nào để được đắc Đạo? Các giáo
phái khác nhau của Đạo giáo đã đưa ra những phương pháp tu dưỡng riêng. Đạo giáo
phù thủy tin vào việc dùng những phép thuật để trừ tà trị bệnh, chủ yếu giúp cho dân
thường mạnh khỏe trong khi đó đạo giáo thần tiên lại dạy con người cách tu luyện để
thành thần tiên bằng cách dùng thuốc trường sinh, thực hiện phép tịch cốc (nhịn ăn),
dưỡng sinh, khí công,…Con người sinh ra từ Đạo và cuối cùng lại tu luyện để trở về
với Đạo.

16
Với tư cách là tôn giáo bản địa, Đạo giáo đã có ảnh hưởng sâu sắc tới văn hóa
Trung Quốc. Như đã nói để thực hiện mục đích trường sinh, các giáo đồ của Đạo giáo
đã tìm cách để bào chế “thuốc tiên”. Rất nhiều đạo sĩ thời đó tinh thông về dược học và
y học. Nhiều cuốn sách như Bão phác tử nội thiên. Tiên dược thiên của Cát Hồng,
Thần nông bản thảo kinh tập chú, Dược tổng quyết của ĐàoHoằng Cảnh, Bị cấp thiên
kim phương, Thiên kim dực phương của Tôn Tử Mạc với sự ghi chép tỉ mỉ về các cây
thuốc quý, cách bào chế thuốc, chẩn đoán và điều trị bệnh,…đều là những tài liệu quý
giá cho các nhà nghiên cứu y, dược học ngày nay. Đặc biệt trong quá trình luyện thuốc
tiên, những đạo sĩ Trung Quốc đã phát hiện ra ánh sáng của lưu huỳnh và từ đó họ nghĩ
ra thuốc súng – một trong bốn phát minh lớn của người Trung Quốc. Còn trong lĩnh
vực văn học nghệ thuật, nhiều tiểu thuyết và thơ ca cổ đại Trung Quốc đã thể hiện rõ
nét dấu ấn của Đạo giáo. Các tác phẩm có thể là chịu ảnh hưởng trực tiếp, có thể chỉ
lấy Đạo giáo làm đề tài hay đề cập đến vấn đề có quan hệ gần gũi với nội dung cơ bản
của Đạo giáo. Chính màu sắc Đạo giáo này đã góp phần làm nên sự phong phú và đa
sắc của văn học Trung Quốc. Không chỉ có vậy khi nghiên cứu phong tục tập quán dân
gian của Trung Quốc, người ta nhận thấy có những phong tục tập quán xuất phát từ

thần tiên tại Việt Nam lại chia thành hai phái: phái nội tu và phái ngoại dưỡng. Nội tu
tức là luyện tập, dùng Tinh và Khí làm dược liệu, vận dụng Thần làm cho Tinh – Khí
biến thành nội đan có tác dụng trường sinh bất tử, trở thành thần tiên. Nói đến phái Nội
tu phải kể đến Chử Đồng Tử, người được coi là ông tổ của Đạo giáo Việt Nam. Theo
các sách, truyện kể lại thì Chử Đồng Tử đã lên núi tu luyện thành tiên, sau đó bay lên
trời. Trong khi đó phái Ngoại dưỡng ở Việt Nam ít phổ biến hơn cho rằng con người
có thể bất tử nếu dùng thuốc trường sinh. Vì dược liệu để bào chế kim đan là thần sa có
nhiều tại các đảo Trường Sa (vịnh Bắc Bộ), Cù lao Chàm (Quảng Nam) cho nên nhiều

18
quan lại phương Bắc khi sang nước ta ngoài thực hiện mục đích chính trị còn muốn đi
tìm các mỏ thần sa để luyện thuốc trường sinh cho mình.
Tại Việt Nam giai đoạn cực thịnh của Đạo giáo là thời kỳ Lý – Trần. Khi đó Đạo
giáo thâm nhập vào cả chốn cung đình, các đạo sĩ được mời tham gia việc triều chính.
Từ đời Lê Sơ tới đời Nguyễn, Đạo giáo dần dần bị Nho giáo bài xích, tư tưởng Đạo
giáo phải ẩn vào trong Phật giáo và Nho giáo để tồn tại. Cho đến khi nhà Nguyễn sụp
đổ thì Đạo giáo cùng tàn lụi. Đến nay, những hiện tượng như đồng bóng, đội bát
nhang, bùa chú…tuy vẫn lưu truyền, nhưng chỉ còn lại là những di sản của tín ngưỡng
dân gian truyền thống.
1.2.2. Ảnh hƣởng của Đạo giáo tại Việt Nam
Theo sử cũ ghi lại, năm 1195 đời Lý Cao Tông mở khoa thi Tam giáo lần thứ
nhất, tiếp đó đến đời Trần cũng mở hai khoa thi Tam giáo vào năm 1227 và 1247. Sự
hòa hợp của ba tôn giáo làm nên một đặc trưng của giai đoạn lịch sử này đó là hiện
tượng “tam giáo đồng nguyên”. Mỗi tôn giáo đều có một chỗ đứng riêng. Nếu Nho
giáo là rường cột trong thể chế chính trị quốc gia thì Phật giáo là tư tưởng chủ đạo
trong đời sống tinh thần và Đạo giáo là để phục vụ đời sống tín ngưỡng vô cùng phong
phú của người Việt lúc bấy giờ. Cùng với Nho giáo và Phật giáo, Đạo giáo đã để lại
những ảnh hưởng rõ nét đối với nước ta trên nhiều phương diện.
Trước hết màu sắc Đạo giáo thể hiện ở những di tích đền chùa của Việt Nam mà
tiêu biểu là Bích Câu Đạo quán và Đền Quán Thánh ở Hà Nội. Nhắc đến Bích Câu Đạo

hết sức tự nhiên, không tư tâm, vị kỷ. Bậc trị nước mà dùng đến đạo vô vi, dân không
hay là mình bị trị thì dĩ nhiên sẽ được thiên hạ. Thực hiện đường lối vô vi nghĩa là
dùng sự ngay thẳng, thực thà mà trị nước. Trái lại nếu như dụng binh, dùng trá ngụy
mà trị nước thì nguy. Hơn nữa nếu bậc trị nước mà ban hành nhiều cấm kỵ thì dân
chúng càng nghèo khổ, bậc trị nước mà đặt ra luật lệ quá khắt khe (hữu vi), dân chúng
sẽ tìm nhiều mánh khóe để trốn tránh thì càng khó trị. Tiếp thu tư tưởng này của Lão

20
Tử, Thiền sư Pháp Thuận đã trả lời nhà vua kế sách lâu dài để giữ gìn vận nước không
gì khác là thực hiện Vô vi ngay ở chốn cung điện và trước hết là từ những bậc đế
vương. Nếu làm được điều đó thì mọi nơi sẽ hết cảnh đao binh, loạn lạc, khắp cõi trời
Nam này sẽ mở ra cảnh thái bình, thịnh trị.
Hơn nữa thực tế trong lịch sử các đạo sĩ ngày xưa được các vua hết sức coi trọng.
Thời vua Đinh, Lê, Lý, Trần, các tăng sư và đạo sĩ giỏi đều được chọn làm cố vấn của
triều đình vì thế bên cạnh chức tăng quan còn có cả chức đạo quan. Năm 1010, Lý Thái
Tổ dời đô về Thăng Long và đã cho xây dựng nhiều cung điện, chùa Phật, am Đạo ở
kinh thành và các vùng khác. Năm sau lại cho xây Thái Thanh cung, Vạn Tuế tự, trong
đó Thái Thanh cung chính là nơi tế lễ Đạo giáo quan trọng của văn quan dưới hai triều
Lý – Trần.
Còn trong lĩnh vực văn học, khi nghiên cứu sáng tác thơ văn của các nhà nho
Việt Nam, chúng ta cũng tìm thấy dấu ấn của tư tưởng Đạo giáo. Tên tuổi đầu tiên có
thể kể đến là Nguyễn Trãi. Điểm tích cực nhất mà Nguyễn Trãi tiếp thu được từ tư
tưởng đạo Lão là tinh thần hòa hợp với tự nhiên. Ta bắt gặp trong sáng tác của ông
nhiều câu thơ khắc họa hình ảnh thi sĩ trong tâm thế ung dung, tự tại giữa thiên nhiên:
“Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai
Côn Sơn có đá rêu phơi
Ta ngồi trên đá như ngồi nệm êm”
(Côn Sơn ca)
Hay:

Truyền kỳ mạn lục, Thánh Tông di thảo,….Đạo giáo đã góp phần khơi dậy trí tưởng
tượng và sáng tạo của người viết tiểu thuyết. Sự ảnh hưởng của Đạo giáo mang đến cho
tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam những đặc trưng rất riêng về cấu trúc, nhân vật, không
gian và thời gian nghệ thuật.

22
Về mặt y dược học và các môn khoa học cổ của nước ta cũng có những “sản
phẩm” xuất phát từ Đạo giáo. Chẳng hạn như các phương pháp luyện nội đan khi
truyền ra dân gian thì trở thành những môn khí công, môn châm cứu; nguyên lý con
người và vũ trụ là một được áp dụng để chẩn đoán và điều trị bệnh;…Có thể nhận thấy
những bài tập dưỡng sinh của Hải Thượng Lãn Ông – vị danh y nổi tiếng của nước ta
đã sử dụng những kỹ thuật nội đan như đạo dẫn, tọa vong và thực tế đã chứng minh
tính hiệu quả của nó. Hay ở lĩnh vực phong thủy, tiên tri, tướng số, nước ta có nhiều
người thông hiểu tường tận những bộ môn này như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp hay Lê Quý Đôn.
Ngoài ra Đạo giáo còn thẩm thấu một cách hết sức tự nhiên vào đời sống tâm
linh và tín ngưỡng bản địa của người Việt trong đó có tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần.
Nếu như trong chính sử Trần Hưng Đạo là một vị tướng tài thì trong tâm thức dân gian
ông được tôn vinh là một phúc thần – một vị thần trừ tà ma. Trong dân gian, người
Việt thường lưu truyền câu chuyện về sự hiển linh của Trần Hưng Đạo trừ tà Phạm
Nhan để cứu giúp những người phụ nữ sau khi sinh đẻ. Tín ngưỡng thờ Đức Thánh
Trần vừa thể hiện sự ảnh hưởng của tư tưởng Đạo giáo vừa thể hiện nét đẹp của văn
hóa dân tộc trong việc đề cao đạo lý uống nước nhớ nguồn, tinh thần tôn vinh những
người có công với đất nước.
Rõ ràng khi du nhập vào Việt Nam, những nội dung tư tưởng của Đạo giáo đã
được người Việt tiếp nhận. Không chỉ giới hạn trong tầng lớp học giả, Đạo giáo còn
ảnh hưởng mạnh mẽ đến tầng lớp bình dân. Nói cách khác Đạo giáo đã trở thành một
phần trong đời sống tinh thần của người Việt.
1.3. Ảnh hƣởng của Đạo giáo đối với một số truyện cổ tích của ngƣời Việt
Như đã nói Đạo giáo đã để lại dấu ấn trong nền văn học Việt Nam, trong đó

Có thể nói bất cứ một tác phẩm văn học nào cũng cần xây dựng được một không
gian và thời gian nghệ thuật phù hợp với nội dung chủ đề của nó. Hai yếu tố này không

24
chỉ đơn thuần tạo nên môi trường hoạt động của các nhân vật mà còn cho thấy những
tư tưởng, quan niệm, chiều sâu cảm thụ của nhà văn về những vấn đề của cuộc sống.
Gắn với phương thức, phương tiện thể hiện, mỗi thể loại văn học cũng có kiểu không
gian và thời gian nghệ thuật riêng. Đối với truyện cổ tích của người Việt, ngoài những
đặc trưng chung của thể loại, do chịu ảnh hưởng của Đạo giáo nên không gian và thời
gian nghệ thuật còn có một số đặc trưng riêng.
1.3.1.1. Về không gian nghệ thuật
Truyện cổ tích nói riêng và các thể loại tự sự dân gian là sản phẩm của lối tư duy
của con người thời cổ trong đó nổi bật là tư duy nhị phân. Theo tư duy này, vũ trụ được
phân chia thành hai nửa: trời và đất, trên và dưới. Từ ý niệm này mà mô hình thế giới
ba tầng cũng xuất hiện: thế giới trên cao, thế giới trên mặt đất và thế giới dưới mặt đất.
Cách phân chia thế giới ba tầng như vậy là kết quả của các cặp đối lập trên/dưới đồng
thời do những đặc điểm khác biệt giữa âm giới và thượng giới. Trong cuốn The
Folktale (Truyện cổ tích )xuất bản năm 1946 tại Hoa Kỳ, S.Thompson cũng đề cập đến
ba thế giới đó là trái đất, nơi chúng ta đang sống, thế giới ở trên cao, hay thiên đường
và cuối cùng là thế giới ở dưới thấp. Có thể khẳng định rằng mô hình thế giới ba tầng
thể hiện ý niệm của người xưa về phạm trù không gian vũ trụ và là cơ sở quan trọng để
xây dựng không gian nghệ thuật mang tính chất đặc trưng của truyện cổ. Truyện cổ
tích của người Việt do đó cũng không là một ngoại lệ.
Trở lại với vấn đề Đạo giáo và không gian nghệ thuật trong truyện cổ tích của
người Việt, ta dễ dàng nhận ra rằng Đạo giáo cũng đã kế thừa lối tư duy và cách phân
chia phạm trù không gian của người xưa. Đạo giáo cũng chia không gian hoạt động của
con người làm ba cõi: cõi tiên, cõi trần và cõi âm tương ứng với trên là tiên, giữa là
người, dưới là quỷ. Người tốt được hóa thành tiên, tiên mắc lỗi bị giáng xuống làm
người, kẻ ác bị hóa thành quỷ, quỷ làm điều phúc sẽ được thành người. Như vậy không
phải đến khi Đạo giáo du nhập vào Việt Nam, truyện cổ tích của người Việt mới xây

Trích đoạn Về thời gian nghệ thuật Ảnh hƣởng của truyện kể dân gian Trung Quốc đối với một số truyện cổ Ảnh hƣởng của những điển tích trong văn học Trung Quốc đối với một
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status