MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
PHẦN MỘT - ĐẶT VẤN ĐỀ 2
1. C S L LU NƠ Ở Í Ậ 2
2. C S TH C TƠ Ở Ự Ế 2
2.1. i v i giáo viênĐố ớ 2
2.2. i v i h c sinhĐố ớ ọ 3
PHẦN HAI - GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 5
1. C I M TÌNH HÌNHĐẶ Đ Ể 5
2. NH NG V N C N GI I QUY TỮ Ấ ĐỀ Ầ Ả Ế 5
3. BI N PHÁP GI I QUY TỆ Ả Ế 6
3.1. V n th nh t: công tác ch n b c n thi t cho b i gi ngấ đề ứ ấ ẩ ị ầ ế à ả 6
3.2. S chu n b i v i giáo viênự ẩ ị đố ớ 6
3.3. S chu n b i v i h c sinhự ẩ ị đố ớ ọ 9
3.4. V n th hai: h ng d n h c sinh quan sát, nh n xét m uấ đề ứ ướ ẫ ọ ậ ẫ 10
3.5. V n th ba: h ng d n h c sinh cách vấ đề ứ ướ ẫ ọ ẽ 14
3.6. V n th t : h ng d n h c sinh th c h nhấ đề ư ư ướ ẫ ọ ự à 21
3.7. V n th n m: nh n xét ánh giá b i c a h c sinhấ đề ứ ă ậ đ à ủ ọ 22
3.8. V n th sáu: c ng c gi h c b ng trò ch i phù h pấ đề ứ ủ ố ờ ọ ằ ơ ợ 24
4. K T QU . Ế Ả 26
PHẦN BA - KẾT LUẬN 27
1. B i h c kinh nghi m. à ọ ệ 27
2. i u ki n áp d ng:Đ ề ệ ụ 27
3. Nh ng v n còn h n ch :ữ ấ đề ạ ế 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
1
PHẦN MỘT - ĐẶT VẤN ĐỀ
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Vẽ theo mẫu là một phân môn quan trọng, còn có thể nói là xương sống,
trọng tâm và là nòng cốt của bộ môn mĩ thuật. Hơn nữa, với môn mĩ thuật ở tiểu
học chúng ta đang hướng dẫn học sinh cảm thụ mĩ thuật ở mức cảm tính thì
sau; vẽ đơn giản trước, chi tiết sau; vẽ nét thẳng trước, nét cong sau và vẽ mảng
chính trước, mảng phụ sau.
Nói tóm lại vẽ theo mẫu có thể là “kim chỉ nam” cho các phân môn còn
lại của bộ môn mĩ thuật. Và đây sẽ là kiến thức cơ bản tạo đà để học sinh tiếp
tục khám phá và làm chủ cái đẹp trong chương trình mĩ thuật đồng tâm ở các
cấp cao hơn , đặc biệt là biết vận dụng cái đẹp vào cuộc sống hằng ngày.
2. CƠ SỞ THỰC TẾ
2.1. Đối với giáo viên
Trong thực tế của ngành giáo dục, giáo viên của bộ môn mĩ thuật trong
những năm gần đây đã được chuyên biệt hoá cao. Tức là đã tương đối đủ chỉ
2
tiêu giáo viên chuyên bộ môn mĩ thuật cho các trường tiểu học. Như vậy, ở các
trường tiểu học, học sinh đã được học môn mĩ thuật do giáo viên chuyên phụ
trách. Nhưng trong chương trình giáo dục mĩ thuật tiểu học lại có tới 5 phân
môn nhỏ, đòi hỏi người giáo viên phải vận dụng linh họat nhiều phương pháp
giảng dạy thì mới có hiệu quả. Riêng đối với phân môn vẽ theo mẫu phần nào đó
bị tác động bởi điều kiện dạy học mà giáo viên chưa chú ý tới phương pháp hiệu
quả của phân môn này. Giáo viên dạy còn phụ thuộc vào nói “suông” hay còn
gọi là dạy “chay”, mà dạy “chay” kiểu này rất không hiệu quả, mà còn ảnh
hưởng lớn tới ý thức ban đầu về bộ môn. Yêu cầu của phân môn vẽ theo mẫu là
cho học sinh vẽ mẫu thực, quan sát mẫu thực. Nhưng cũng có nhiều lí do mà
giáo viên vẫn chưa chuẩn bị mẫu thực cho học sinh vẽ được. Chính điều đó,
khiến mỗi học sinh không nhận thức được đầy đủ kiến thức, cũng như kết quả
của bài vẽ kém hiệu quả. Ngoài thực trạng trên vẫn còn nhiều giáo viên sử dụng
phương pháp cũ mà giờ đây đã trở thành lạc hậu, đã tạo nên sự áp đặt kiến thức
một cách cứng nhắc và chưa phù hợp với đại trà đối tượng học, khiến cho học
sinh tiếp thu một cách thụ động, qua loa chiếu lệ, có thái độ không cần thiết.
Một số giáo viên vẫn coi bộ môn mĩ thuật là môn phụ, môn có cũng được,
không có cũng không sao, dạy thế nào cũng xong, học sinh tiếp thu được bao
nhiêu cũng mặc kệ, khiến cho việc khích lệ các em khá, giỏi có năng khiếu và
nhưng khi thực hành thì lại không tuân thủ (làm theo) các bước cơ bản đã được
giáo viên hướng dẫn. Đặc biệt là phân môn vẽ theo mẫu nếu giáo viên chuẩn bị
được mẫu thì học sinh cũng dường như không cần chú ý đến vật mẫu được bầy
ở trên bảng, cũng không cần vẽ theo góc nhìn của mình đối với mẫu. Tôi đã
nhận thấy một số tiết vẽ theo mẫu (có mẫu) nhưng học sinh lại vẽ theo hình
minh họa bảng của giáo viên chứ không vẽ theo những gì mình nhìn thấy.
Do ý thức vẽ như vậy nên kết quả bài vẽ thường không vẽ theo hướng tại vị
trí mình ngồi (bên trái, bên phải và ở giữa đề vẽ cùng một góc vẽ giống nhau). Điều
này cho ta thây học sinh không hề chú ý tới hình dáng của mẫu một chút nào.
Một điều nữa, chứng tỏ học sinh tiểu học chưa vượt ra khỏi vở ô ly, đó là
vẽ ở vở mĩ thuật (không có ô ly) học sinh thường thấy trống trếnh bởi trang giấy
trắng lại rộng, do đó thường vẽ hình rất nhỏ so với trang giấy. Có khi vẽ ở mãi
trên đỉnh trang, có khi vẽ lệch sang trái, sang phải, thậm chí có khi lại vẽ tụt
xuống tận dưới đáy của trang vẽ khiến bài vẽ bị lệch lạc về bố cục, không cân
đối với trang giấy. Qua thực tế giảng dạy rôi nhận thấy yếu điểm này của học
sinh chiếm tỷ lệ tương đối lớn (khoảng 20 đến 30 %).
Từ cơ sở lí luận và một số vấn đề thực tế còn hạn chế, vướng mắc đối với
cả giáo viên và học sinh, đã ảnh hưởng ít nhiều tới kết quả dạy học phân môn vẽ
theo mẫu của bộ môn mĩ thuật. Tôi xin mạnh dạn đưa ra biện pháp nhằm khắc
phục để nâng cao chất lượng cho phân môn này bằng đề tài kinh nghiệm:
“Phương pháp Dạy - Học hiệu quả phân môn vẽ theo mẫu ở tiểu học”.
4
PHẦN HAI - GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH
Vẽ theo mẫu rèn luyện cho học sinh khả năng quan sát, nhận xét và kĩ
năng vẽ nét, vẽ bố cục và vẽ hình. Vẽ theo mẫu còn giúp học sinh hiểu được vẻ
đẹp của mẫu, tạo điều kiện để học sinh học các bài vẽ trang trí, vẽ theo đề tài, vẽ
tự do, thường thức mĩ thuật thuận lợi và hiệu quả hơn
Phân môn vẽ theo mẫu xuyên suốt chương trình mĩ thuật tiểu học được
thiết kế theo qui trình đồng tâm, các đơn vị kiến thức được lặp lại nhưng có
môn vẽ theo mẫu thực sự trở thành “xương sống” của bộ môn, để học sinh học
mĩ thuật ngoài hứng thú ra còn có khả năng biểu hiện cái đẹp và cảm thụ cái
đẹp. Để học sinh hoàn thành xuất sắc các bài tập theo chương trình chúng ta cần
tậo trung vào giải quyết một số vấn đề cụ thể sau.
+ Công tác chuẩn bị cần thiết cho bài giảng.
+ Hướng dẫn học sinh quan sát nhận xét.
+ Hướng dẫn học sinh cách vẽ.
5
+ Hướng dẫn học sinh thực hành.
+ Nhận xét đánh giá bài của học sinh.
+ Củng cố bài giảng bằng trò chơi phù hợp.
Sáu vấn đề này được giải quyết tốt thì hiệu quả sẽ đem lại một bài giảng
thành công cho một phân môn quan trọng của bộ môn mĩ thuật. Cụ thể từng vấn
đề một sẽ được giải quyết ở phần III dưới đây.
3. BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT
3.1. Vấn đề thứ nhất: công tác chẩn bị cần thiết cho bài giảng
Chuẩn bị cho một bài giảng có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Cả giáo viên
(người dạy) và học sinh (người học) đều phải có sự chuẩn bị chu đáo cho một
bài học. Mọi yếu tố của bài được chuẩn bị tốt thì tiết dạy sẽ hiệu quả, thành
công, ngược lại nếu không chuẩn bị tốt sẽ lúng túng mất thời gian và không hiệu
quả.
3.2. Sự chuẩn bị đối với giáo viên
Giáo viên cần chủ động chuẩn bị hai nội dung cụ thể đó là: Đồ dùng dạy
học (mẫu vẽ, trực quan các bước vẽ theo mẫu) và chuẩn bị phương pháp giảng
dạy (theo từng bài, từng lớp).
* Đối với việc chuẩn bị đồ dùng dạy học của giáo viên:
Đối với môn mĩ thuật nói chung và phân môn vẽ theo mẫu nói riêng, việc
sử dụng đồ dùng dạy học (ĐDDH) là đặc biệt cần thiết. Bởi vì, dạy mĩ thuật là
dạy trên những gì cụ thể, hiện diện một cách rõ ràng trước học sinh. Học sinh
phải được quan sát một cách cụ thể về hình dáng, đậm nhạt, mầu sắc, đường nét,
thuật cụ thể như giá vẽ cho học sinh. Thì với sỹ số trên (trên 30 em/lớp), cùng với
phòng học chưa đủ tiêu chuẩn về diện tích và ánh sáng thì học sinh vẫn chưa thể
quan sát hiệu quả và vẽ hiệu quả được. Vì điều đó, cho nên giáo viên chuẩn bị mẫu
chu đáo theo nhóm là cần thiết và thực tế nhất. Nhưng bên cạnh cũng có những bài
chỉ cần một mẫu mà học sinh đông và ngồi học tại lớp học “thông thường” nhưng
cũng vẫn vẽ được bài tốt như bài: Vẽ lá cờ tổ quốc (Bài 9 MT lớp 2 trang 20).
- Giáo viên phải có khả năng thị phạm tốt bởi vì, học sinh rất thích và rất
“tâm phục”, “khẩu phục” khi giáo viên minh họa bảng đẹp và nhanh. Giáo viên
chuẩn bị tốt khả năng này, bài giảng của giáo viên sẽ rất hấp dẫn và hiệu quả
cao. Đặc biệt sẽ định hướng cho học sinh vẽ bài của mình. Khi giáo viên giảng
tới cách vẽ phần nào thì minh họa ngay bước đó đồng thời bám sát hình với mẫu
thực. Việc đó, sẽ dẫn tới học sinh dần hình thành ý thức một cách có hệ thống.
- Giáo viên cần chuẩn bị mẫu để so sánh với mẫu chính thức. Với một bài
vẽ theo mẫu ngoài việc giáo viên chuẩn bị một mẫu vẽ chính thức thì giáo viên
cần chuẩn bị thêm một số mẫu tương tự, hoặc mẫu đối lập để học sinh so sánh,
nhận xét nhanh chóng và dễ dàng hơn.
Ví dụ: ở bài vẽ quả có dạng hình tròn: Ngoài vệc chuẩn bị một mẫu chính
thức là quả táo lê chẳng hạn thì giáo viên cần chuẩn bị thêm một số quả cũng có
dạng hình tròn khác như quả cam, quả quýt, dưa lê, ổi, …
- Giáo viên cần chuẩn bị cho bài giảng của mình những tranh vẽ các bước
dựng hình, cách vẽ cụ thể, hoặc để quan sát nhận xét… Tất cả đều thể hiện trên
giấy khổ lớn để học sinh dễ quan sát (trực quan đủ rõ, đủ to). Việc chuẩn bị này
có tác dụng trực tiếp tới giáo viên rất lớn. Có nó, giáo viên thao tác các bước
trên bảng rất linh họat, làm cho giờ giảng lí thuyết không mất nhiều thời gian,
không bị lúng túng… Việc chuẩn bị trực quan tốt còn giúp học sinh hình thành
khái niệm mẫu vẽ một cách nhanh nhất, đơn giản nhất, hiệu quả nhất. Phần
chuẩn bị này giáo viên có thể chỉ việc phóng hình lớn từ các hình minh họa
trong sách giáo khoa được in cùng với phần lí thuyết (sách học sinh).
* Đối với việc chuẩn bị phương pháp giảng dạy của giáo viên.
Để soạn bài và giảng bài tốt, giáo viên tập trung vào những phương pháp
phẩm sẽ rất khác nhau về nét, về hình, về mầu, về cách bố cục, cách nhìn, cách
hiểu, cách cảm nhận của mỗi học sinh khác nhau sẽ tạo ra những sản phẩm có
nhiều vẻ khác nhau. Vì thế, có thể nói, kết quả học tập của học sinh phụ thuộc
vào sự “giàu có” kiến thức, vào “nghệ thuật truyền đạt” của giáo viên. Nhưng
quan trọng hơn cả là khả năng cảm nhận của học sinh. Bởi lẽ học sinh có thích
thú thì mới chịu khó suy nghĩ, tìm tòi và thể hiện bằng cảm xúc của mình. Vẽ có
cảm xúc bao giờ cũng có hiệu quả cao. Vì thế dạy học mĩ thuật nói chung và dạy
vẽ theo mẫu nói riêng không đơn giản là dạy và học kĩ thuật vẽ mà còn phải kết
hợp với dạy và học cảm thụ thế giới quan xung quanh. Bắt buộc, gò ép học sinh
trong học mĩ thuật sẽ dẫn đến khuôn mẫu, đồng điệu.
Phương pháp giảng dạy của giáo viên cần phát huy được tính tích cực, sự
độc lập suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo của học sinh và đây cũng là tư tưởng chủ đạo
của phương pháp dạy học mĩ thuật nói chung và daỵ vẽ theo mẫu nói riêng. Kết
quả cuối cùng của việc “dạy” là kiến thức phải “đến” phải “vào” người học. Hơn
nữa, học sinh phải là người chủ động tiếp nhận kiến thức từ giáo viên. Vì thế khi
giảng dạy, giáo viên không chỉ quan tâm đến phương pháp dạy của giáo viên mà
còn phải chú ý tới phương pháp học của học sinh. Do đó, khi Dạy-Học vẽ theo
mẫu ở tiểu học giáo viên còn cần phải chú ý những đặc điểm sau:
+ Tạo được không khí học tập tốt để học sinh háo hức chờ đón bài học.
+ Tạo điều kiện cho học sinh suy nghĩ, tìm tòi những vấn đề mà giáo viên
giảng giải.
+ Tổ chức bài học sao cho học sinh tham gia vào quá trình nhận thức một
cách tự giác.
+ Động viên khích lệ nhằm giúp học sinh làm bài bằng khả năng và cảm
xúc riêng.
8
Việc chuẩn bị phương pháp tốt cho giáo viên cũng không thể thiếu việc
sắp xếp, tổ chức giờ dạy thông qua giáo án, qua kế họach giảng dạy tiết vẽ theo
mẫu đó một cách rõ ràng, cụ thể. Phương pháp chủ đạo là lấy học sinh làm trung
tâm và thầy giáo là người hướng dẫn cũng được thể hiện rõ trên giáo án. Mọi
bài, hoặc làm lấy lệ và chắc chắn phần chuẩn bị ở nhà là học sinh không hề chú ý,
không muốn nói là không cần chuẩn bị, và nếu học thiếu mầu, hoặc bút chì các
em sẽ thực hành một là bằng bút mực, hai là chờ để mượn của bạn khác. Như vậy
chúng ta thấy rất rõ học sinh không chuẩn bị đồ dùng học tập dẫn tới hai hiện
trạng đó là ở nhà thì không chuẩn bị, ở lớp thì lười làm bài. Do mượn đồ dùng
học tập lớp học sẽ rất mất trật tự và ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng tiết dạy.
* Như vậy việc chuẩn bị tốt của T và của H cho bài học vẽ theo mẫu sẽ
đem lại hiệu quả cao cho tiết học và khắc phục được cách Dạy-Học cũ và lạc
hậu.
9
3.4. Vấn đề thứ hai: hướng dẫn học sinh quan sát, nhận xét mẫu
Dạy mĩ thuật nói chung và vẽ theo mẫu nói riêng, phải thực hiện theo
hướng để học sinh làm bài thực hành là chính (thời gian khoảng 20 - 25 /40 phút
của tiết học).Thế nhưng thời gian đầu giờ (10 -15 phút) là thời gian giảng lý
thuyết. Phần này tuy chiếm ít thời gian nhưng lại là một việc vô cùng quan trọng
trong quá trình hình thành kiến thức mĩ thuật, kiến thức vẽ theo mẫu đối với học
sinh.
a. Thực tế:
Lâu nay dạy vẽ theo mẫu thường là qua loa nhất trong tất cả năm phân môn của
bộ môn mĩ thuật. Bởi một lẽ đồ dùng dạy học thiếu rất nhiều, mẫu vẽ hầu như
không có trong suốt chương trình tiểu học. Mà giáo viên thì việc chuẩn bị mẫu
cho học sinh quá nhiều là điều không thể.
Mặt khác học sinh ngồi học 30 40 học sinh 1lớp, bàn thẳng kê xếp cố định
theo hướng lên bảng. Với điều kiện như thế thì việc học sinh quan sát mẫu là
một điều tương đối phức tạp và hiệu quả là cả một vấn đề cần bàn tới. Song song
với hai thực trạng trên thì việc học sinh có cần quan sát mẫu hay không lại là
một vấn đề khác bức xúc không kém. Bởi vì, kết quả của các bài vẽ như vậy
thường đơn điệu, cứng nhắc…Từ những thực tế ấy trong lúc ta chuẩn bị điều
kiện cơ sở vật chất cho môn học còn chưa đồng nhất thì mỗi người giáo viên
chúng ta cần đưa ra những phương pháp cụ thể, một mặt để khắc phục, một mặt
- Giáo viên chủ động đối với phương pháp dạy quan sát mẫu: Việc hướng
dẫn của giáo viên dạy vẽ theo mẫu là rất khéo léo, học sinh tiểu học do tâm lý
lứa tuổi các em chỉ nhận thức vấn đề từ cảm tính, nhìn thấy thực tế. Vì lý do
này, giáo viên cần hình tượng, cụ thể hoá mẫu vẽ thành những hình phải đơn
giản, cụ thể và dễ mô phỏng. Ví dụ: Vẽ cái cốc trước hết phải hướng dẫn học
sinh vẽ một hình học giống cái cốc đã, như hình chữ nhật chẳng hạn. Vậy để vẽ
được hình cái cốc cần phải vẽ hình chữ nhật trước, như vậy chúng ta thấy cụ thể
hoá hình vẽ rất quan trọng, đó chính là quá trình qui đổi mẫu vẽ thành một hình
học có tên, dễ vẽ, từ đó việc biểu hiện mẫu trên bài vẽ là rất dễ dàng, đơn giản.
- Khi đặt câu hỏi quan sát cần sử dụng những cụm từ ít. Trước đây giáo
viên hay cho học sinh nhận xét hay so sánh mẫu bằng lời không (phương pháp
này chưa hợp với học sinh tiểu học chỉ phù hợp với học sinh trình độ cao hơn). Vì
các em còn rất nhỏ, khái niệm về mĩ thuật còn hạn chế nhiều, nên giáo viên cần
hướng dẫn học sinh so sánh mẫu ngoài bằng lời ra còn bằng cả hành động (động
tác). VD: Khi hướng dẫn các em quan sát để tìm ra hình chung của mẫu giống
hình gì ? . Nếu giáo viên chỉ sử dụng câu hỏi không, buộc học sinh phải hình
dung khó hơn, lâu hơn, nhưng nếu giáo viên hỏi xong rồi dùng thước kẻ chặn hai
chiều, theo chiều ngang và chiều dọc. Lúc đó học sinh sẽ được cụ thể hoá hình
chung của mẫu là hình học gì? Bằng phương pháp này học sinh sẽ nhận xét nhanh
hơn và hiệu quả hơn, tỷ lệ hình dễ chuẩn xác hơn.
- Khi đặt câu hỏi quan sát cần sử dụng những cụm từ ít chuyên môn (từ
khó) mà sử dụng những cụm từ đơn giản nhưng dễ hiểu như: Đối với từ khó:
Các em cho biết tỷ lệ của vật mẫu như thế nào ? ; Thay bằng cụm từ dễ hơn: Em
hãy so sánh xem chiều cao của mẫu với chiều ngang của mẫu như thế nào ? Khi
giáo viên đặt câu hỏi như vậy thì học sinh sẽ tập trung vào so sánh, nhận xét và
đưa ra kết quả ngay, đã giản đơn được một bước phải suy nghĩ tỷ lệ là gì đối với
học sinh.
Căn cứ vào thực tế cùng phương pháp giảng dạy cải tiến đối với phân
môn vẽ theo mẫu, tôi đưa ra một số ví dụ áp dụng nội dung đổi mới cho vấn đề
hướng dẫn quan sát nhận xét.
cảnh có vấn đề (tức là cho học sinh nhận xét và nêu lên nhận xét riêng của mình).
Như vậy đối với tiết học vẽ theo mẫu này mặc dù học sinh đông (35 học
sinh/ 1 lớp vẫn ngồi học ở lớp học thông thường, nhưng do mẫu vẽ là hình tam
giác cho nên việc hướng dẫn học sinh không mấy khó khăn gì, chỉ đòi hỏi giáo
viên cần đưa học sinh vào hoàn cảnh có vấn đề, để các em chủ động tích cực
quan sát nhận xét mẫu, so sánh và nhận biết nhanh, có như vậy kiến thức đến
với học sinh không bị áp đặt, không bị gò ép.
+ Bài 24: Vẽ cái ám tích và cái bát MT 5 trang 50.
Đối với bài này mục tiêu đặt ra đó là học sinh tập quan sát, so sánh, ước
lượng tỷ lệ mẫu ghép (hai mẫu) để tìm ra vị trí, kích thước các bộ phận của mẫu
và biết cách vẽ mẫu ghép. Riêng về kĩ năng yêu cầu học sinh vẽ được gần đúng
mẫu (diễn tả được đặc điểm, tỷ lệ chính của mẫu).
Bài vẽ theo mẫu này có thể nói là kiến thức cuối của chương trình mĩ
thuật tiểu học về phân môn vẽ theo mẫu. Bởi vì, vẽ mẫu ghép (hai mẫu) chỉ
được áp dụng khi học sinh đã có vốn kiến thức tương đối hay nói cách khác chỉ
dành cho học sinh cuối cấp. Như vậy, cũng là bài vẽ theo mẫu ở tiểu học nhưng
ở mỗi bài, mỗi lớp giáo viên lại chọn phương pháp riêng sao cho phù hợp, ở đây
ta thấy bài 4 (vẽ hình tam giác) của mĩ thuật lớp 1, chỉ cần chuẩn bị, áp dụng
phương pháp linh họat là bài dạy đã đạt được hiệu quả cao, nhưng bài này đòi
hỏi giáo viên phải sử dụng nhiều phương pháp, đặc biệt là vấn đề quan sát nhận
sét mẫu. Đối tượng học sinh là lớp 5, kiến thức mĩ thuật đang dần hoàn thiện ở
trình độ sơ đẳng (cấp tiểu học). Mẫu vẽ đòi hỏi phải so sánh nhiều, điều kiện
Dạy-Học lại là một vấn đề khó. Vậy, giáo viên (người làm nhiệm vụ dẫn đường,
gợi mở) cần đặc biệt chú trọng, tìm tòi cách chuyển tải bài giảng theo hướng tích
cực:
- Trước hết là chuẩn bị: Theo phương pháp mà tôi đã đề cập ở phần trước
(Vấn đề thứ nhất) giáo viên - học sinh - cơ sở vật chất phải được chuẩn bị tốt.
12
Vẽ mẫu này đòi hỏi học sinh phải được ngồi (đứng) vẽ theo hình chữ u. Tức là
mẫu được bầy ở giữa phòng, học sinh ngồi (đứng) vẽ ở ba hướng khác nhau:
(chủ động chọn theo ý đồ) để có ba hình vẽ tương ứng: Thấy vòi ở bên trái tích,
thấy vòi ở bên phải tích và thấy vòi ở chính giữa tích. Tương tự như vậy giáo
viên cần đặt câu hỏi để học sinh nhận xét cái bát với cái tích cũng có vị trí thay
đổi khi học sinh ngồi ở vị trí khác nhau. Giáo viên cho học sinh nhận xét theo vị
trí nhìn thấy: tích che mất một phần của bát, và vị trí thấy bát che mất một phần
của tích. Ở những phương pháp này mục đích cho học sinh nhận ra mẫu vẽ sẽ
thay đổi khi nhìn ở những vị trí khác nhau, nhưng lại đòi hỏi giáo viên quan sát vị
trí học sinh ngồi để học sinh nhận xét hình nhìn thấy đúng như ý đồ chuẩn bị của
giáo viên, việc này không khó nếu khi giáo viên bầy mẫu đã đi quan sát trước một
lần.
- Đối với việc quan sát, nhận xét mầu sắc (đậm nhạt) của vật mẫu. Hệ
thống bài vẽ theo mẫu ở tiểu học, về vấn đề quan sát để nhận biết đậm nhạt cũng
rất quan trọng. Khi nhận xét học sinh hiểu được đậm nhạt thì sẽ hiểu và mô
13
phỏng được khối. Tuy nhiên đối với những lớp nhỏ như lớp 1,2,3 việc vẽ đậm
nhạt thực sự chưa cần thiết, nhưng học sinh cũng phải hình thành được khái
niệm đậm và nhạt. Vì thế, ở bài này giáo viên cần hướng dẫn học sinh quan sát
mẫu và nêu nhận xét của mình về đậm nhạt. Bởi vì đối tượng của bài này đã
được học và vẽ mĩ thuật trong 4 năm, đặc biệt đây lại là những bài vẽ theo mẫu
cuối cùng của chương trình tiểu học. Để học sinh nhận biết được đậm nhạt,
chúng ta cần chọn một hướng ánh sáng chiếu vào mẫu, giáo viên sẽ đóng một vế
cửa lại chỉ mở một bên để tạo ánh sáng chiếu một chiều vào vật mẫu. Lúc đó
học sinh quan sát mẫu sẽ nhận dạng được tối thiểu 3 sắc độ. Một số giáo viên
hướng dẫn quan sát đậm nhạt lại đặt câu hỏi: Em cho biết nhìn mẫu vẽ thấy mấy
độ đậm nhạt ? Như vậy khái niệm của thầy chưa cụ thể khiến nhiều học sinh
chưa thể hình dung được sắc độ là gì ?. Ngược lại, nếu giáo viên thay bằng: Em
nhìn lên mẫu thấy phần bên nào là đậm nhất ? Tương tự như vậy đặt câu hỏi với
phần sáng nhất. Còn ở giữa em thấy độ đậm nhạt như thế nào ? (* ở giữa là độ
sáng trung gian). Nếu mẫu được chuẩn bị là hai vật có mầu đậm nhạt khác nhau
thì giáo viên cũng cần gợi ý sự quan sát của học sinh theo cách tương tự.
tự chọn và nhận xét bài đẹp nhất (các bài được đánh số từ 1 4 theo thứ tụ như
trên). Khi học sinh được quan sát, nhận xét thì việc tìm ra bài vẽ thứ 4 đẹp là điều
rất dễ dàng. Qua đó giáo viên đặt câu hỏi ngược lại: Tại sao hình 1,2,3 lại là hình
chưa đẹp ?. Và tất cả những lý do ấy được học sinh nêu ra một cách rõ ràng, nếu
trả lời chưa đầy đủ giáo viên có thể bổ sung (vẫn theo hướng gợi ý) nhằm phát
huy tính tích cực ở học sinh.
Như vậy cái hình ảnh gọi là, không đẹp, chưa đẹp ấy (hình 1,2,3) sẽ được
học sinh ghi đậm trong trí nhớ của mình, thường thì tâm lý trẻ hình tượng bao
giờ cũng dễ nhớ hơn và nhớ lâu hơn. Điều đó sẽ dẫn đến kết quả học sinh khi vẽ
phải nghĩ ngay tới bài đẹp nhất để bắt trước hay làm theo. Như vậy, tránh được
hiện tượng học sinh vẽ theo sự sắp xếp tự do không có chuẩn mực nào cả.
b. Hướng dẫn học sinh vẽ hình chung của mẫu.
Vẽ theo mẫu, tức là nhìn mẫu rồi mô phỏng lại mẫu, mà muốn mô phỏng
được mẫu học sinh cần có khái niệm vẽ, hình thành được các bước vẽ trong đó
bước vẽ hình chung cho mẫu được ví như thợ xây dựng muốn xây được cái nhà
thì phải cần xây cái móng, cũng như vậy muốn vẽ được theo mẫu thì dựng hình
chung cũng là nền tảng cho bài vẽ. Khung hình chung có nghĩa là hình của mẫu
vẽ được chứa chọn vẹn bên trong khung hình ấy. Khi xác định bố cục của bài vẽ
chiếm bao nhiêu giấy tức là khung hình chung sẽ chiếm từng ấy. Khi vẽ khung
hình chung học sinh chủ động được tỷ lệ với trang giấy là điều mà mỗi giáo viên
chúng ta ai cũng rất cần.
Việc hướng dẫn vẽ khung hình chung này được đơn giản và hiệu quả thì
phần quan sát nhận xét sẽ đóng một vai trò tương đối quan trọng. VD như trong
phần vẽ khung hình chung này đã được giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát
bằng cách đục lỗ trên tấm bìa. Do đó, khái niệm hình chung đến với học sinh sẽ
dễ dàng hơn. Nếu ở phần hướng dẫn quan sát nhận sét giáo viên không sử dụng
phưng pháp đó. Khi giáo viên hướng dẫn học sinh vẽ khung hình chung cần đặc
biệt chú ý tới tỷ lệ (tức là chiều rộng so với chiều cao). Nếu khung hình có tỷ lệ
chuẩn thì việc mô phỏng mẫu sẽ khó giống thực.
Ngay từ đầu, khi giáo viên hướng dẫn học sinh vẽ hình chung cần phải
nhận xét tìm ra và cho một học sinh lên bảng đánh dấu vị trí các bộ phận riêng lẻ
của mẫu. Lúc này cái mới ở đây là đã đưa học sinh thực sự vào hoàn cảnh có
vấn đề. Với khung hình chung và trục đối xứng (nếu có) giáo viên đã minh họa
xong qua từng bước hướng dẫn, thì việc học sinh đánh dấu vị trí của các bộ phận
theo nhận xét của chính mình và của các bạn khác là điều hoàn toàn có thể. Làm
như vậy vừa tạo được không khí học tập sôi nổi, vừa tập trung được nhiều ý kiến
của học sinh, và giáo viên quan sát lớp học dễ hơn, kịp thời nhắc nhở những em
dưới lớp.
d. Hướng dẫn học sinh vẽ phác bằng nét thẳng:
Tới phần này thì bài vẽ đã đang dần hiện bộ khung của bài. Để vẽ được
bài giáo viên không nên cho học sinh vẽ nét cong giống thực luôn mà phải vẽ
phác bằng nét thẳng trước. Ở bước này giáo viên cũng yêu cầu học sinh luôn:
khi phác hình phải dùng bút chì, nhưng vẽ nhẹ tay để tạo thành nét mờ. Một lần
nữa giáo viên nhắc lại vẽ phác bằng nét thẳng chứ không phải kẻ nét thẳng bằng
thước kẻ.
Phần này việc quan trọng là làm thế nào để cho học sinh hiểu có bước vẽ
nét thẳng thì hình vẽ sẽ chuẩn và dễ đẹp hơn là chúng ta vẽ nét cong ngay. Lúc
đó giáo viên sẽ sử dụng phương pháp trực quan bằng thị phạm, giáo viên vẽ
minh họa hai kiểu vẽ cùng thể hiện một hình tròn: kiểu thứ nhất lấy tay ngoáy
luôn hình tròn tất nhiên giáo viên phải ngoáy hơi méo, hơi vẹo (bởi lẽ học sinh
khó có thể vẽ được tròn bằng cách này, còn giáo viên minh họa nhiều thì có thể
vẽ đơn giản); kiểu thứ hai, cũng vẽ hình tròn nhưng giáo viên vẽ một hình vuông
trước sau đó vát cạnh, góc vuông dần dần cuối cùng tạo được hình tròn đúng với
khung hình và hình tròn sẽ chuẩn và đẹp. Mục đích của cách minh họa này là
học sinh so sánh được 2 cách vẽ: một cách có khung hình chung và một cách
không có khung hình chung và để học sinh thấy cách thứ hai là cách nên làm
theo. Lúc này giáo viên cho học sinh trả lời câu hỏi: Nếu ta vẽ theo mãu nếu cứ
vẽ hình luôn vào vở không cần xác định khung hình gì thì kết quả theo em sẽ
như thế nào ?. Giáo viên sẽ để cho học sinh thoả mái trả lời theo suy nghĩ của
mình, sau nhiều ý kiến giáo viên sẽ giải thích thêm và hướng dẫn các em vẽ
miệng cốc và đáy cốc là những nét thẳng ? (nét vẽ chưa giống thực). Giáo viên
sẽ giảng giải thêm nét thẳng chỉ là nét mà chúng ta làm cơ sở để vẽ nét cong,
hay nói khác đi là vẽ nét cong phải dựa, bám sát vào những nét thẳng, có như
vậy hình vẽ sẽ không bị méo hay lệch lạc.
Trong lúc vấn đáp học sinh thì giáo viên vừa giảng vừa nhận xét và vừa
minh họa bảng. Vì nét vẽ bằng phấn của giáo viên ở bước vẽ phác nét thẳng vẫn
còn mờ, khiến hình vẽ minh họa bảng sẽ bị nét chồng. Giáo viên sẽ hướng dẫn
học sinh vẽ nét chi tiết xong cần phải tẩy bỏ các nét chờm ra ngoài (nét phác) để
hình vẽ gọn gàng hơn.
Phần cuối của bước này giáo viên cần cho học sinh xem minh họa trên
giấy khổ lớn, giáo viên sẽ vẽ hai hình trên 1/2 tờ giấy A
0
(khổ 60 x 80 cm). Một
hình vẽ phác nét thẳng, một hình vẽ chi tiết tất nhiên là phải theo mẫu bài vẽ cụ
thể của bài dạy. Khi học sinh xem tranh các em sẽ có khái niệm hình vẽ trên
giấy một cách rõ ràng hơn.
17
g. Hướng dẫn học sinh vẽ đậm nhạt:
Riêng phần này chỉ cần áp dụng cho đối tượng là học sinh thuộc lớp cuối
cấp như lớp 4,5. Tuy nhiên đối với lớp nhỏ (1,2,3) cũng cần phải nói qua để các
em dần hiểu. Bởi vì, vẽ đậm nhạt đòi hỏi học sinh phải có kiến thức vững về
hình rồi thì mới vẽ được đậm nhạt, nó còn thể hiện cả tình cảm cảm thụ mẫu,
cảm thụ cái đẹp. Khi tới phần hướng dẫn này giáo viên cần chú ý ngay từ đầu
tiết học để bầy mẫu sao cho hợp với hướng ánh sáng, đảm bảo được một bên
mẫu sẽ tối, một bên sẽ sáng để học sinh quan sát sẽ thấy độ đậm độ nhạt trên
mẫu ngay.
Đậm nhạt là một khái niệm tương đối trừu tượng đối với học sinh mới học
mĩ thuật. Vả lại, vẽ theo mẫu về sau này (các cấp học cao hơn) thì không thể
thiếu được vẽ đậm nhạt. Do đặc diểm đó, giáo viên cũng không nên đòi hỏi quá
cao ở học sinh và cũng không nên quá coi nhẹ vấn đề này. Ở tiểu học yêu cầu
phút mà thôi. Trong thực tế giảng dạy giáo viên vận dụng linh họat các bước: Có
thể gộp 2 bước làm một hoặc cũng có thể lược bỏ bớt bước VD: bước 5 đối với
18
học sinh lớp 1 nếu giáo viên hướng dẫn học sinh bước này thì bất khả dụng, bởi
vì các em chưa đủ kiến thức về hình thì làm sao vẽ được đậm nhạt. Do vậy, đối
với đối tượng này giáo viên có thể bỏ qua bước này. Để áp dụng phương pháp
tôi đề ra, dưới đây là một ví dụ về cách hướng dẫn học sinh vẽ theo mẫu.
Bài vẽ cái xô: (Bài 9 MT lớp 5 trang 20).
* Cách dạy cũ: Thường giáo viên không chuẩn bị được mẫu mà vẽ hình
cái xô lên bảng rồi hướng dẫn các em cách vẽ, theo các bước:
+ Ước lượng chiều cao (cả miệng xô) và chiều ngang, em vẽ khung hình chữ
nhật trước (nhớ để giấy để vẽ quai xô).
+ Tìm phần miệng xô và xác định các điểm chính của miệng.
+ Ước lượng chiều ngang đáy xô.
+ Phác các nét thẳng trước, vẽ nét cong sau.
+ Nhìn mẫu, sửa lại hình và vẽ đậm nhạt (như vẽ ở khối trụ bài 8).
Thường thì do không có mẫu, giáo viên lại áp đặt lời giảng đối với học
sinh, khiến học sinh vẽ không theo mẫu, vẽ tự do và không chú ý tới bố cục làm
cho hiệu quả thấp.
* Áp dụng phương pháp tôi đề ra đối với phần cách vẽ:
- Khi học sinh được ngồi và được quan sát như yêu cầu của phương pháp
đề ra (có mẫu thực, ngồi học theo hình chữ u), thì việc vẽ của học sinh theo sự
hướng dẫn chắc chắn sẽ có hiệu quả.
- Trước khi hướng dẫn vẽ giáo viên phải hướng dẫn học sinh tìm khung
hình chung cho bài vẽ (mẫu vẽ). Giáo viên sẽ áp (đặt miếng bìa đã chuẩn bị,
trước mẫu sao cho lỗ thủng chứa chọn vẹn mẫu vẽ) thao tác xong giáo viên vấn
đáp: Khung hình giống hình gì? (*giống hình chữ nhật đứng).
- Khi hình chung là hình chữ nhật đứng các em vẽ theo chiều nào của trang
giấy vẽ? (giáo viên giơ vở vẽ cho học sinh xem), ( vẽ dọc trang giấy thì hình vẽ
cân đối hơn). Phần này sẽ định hướng cho học sinh cách sắp xếp hình vẽ (bố cục).
sai lệch ta tẩy đi ngay và vẽ lại, càng vẽ lại thì khả năng vẽ của các em càng
được nâng cao. Như vậy thao tác của học sinh ít nhiều giáo viên cũng đưa ra
được nhận định để giảng giải và hợp với đối tượng hơn đồng thời học sinh được
quan sát tốt trên mẫu thì nhận xét cho bạn đang thực hành trên bảng càng hiệu
quả.
Cuối cùng của cách vẽ hình giáo viên cần yêu cầu học sinh nhận xét hình
vẽ theo ba hướng khác nhau, để nêu được quai xô sẽ lệch về bên trái, bên phải
và chính giữa; sau đó giáo viên treo trực quan có ba hình vẽ theo ba góc độ khác
nhau đó và nhắc nếu chúng ta ngồi ở bên trái lớp học thì sẽ thấy quai xô lệch về
bên phải; nếu chúng ta ngồi ở bên phải lớp học thì sẽ thấy quai xô lệch về bên
trái; còn nếu ngồi ở chính giữa thì sẽ thấy quai xô ở chính giữa. (giáo viên phải
bầy mẫu theo hướng vuông góc với dãy bàn ngồi ở cuối lớp và vừa giảng vừa
chỉ vào hình vẽ tương ứng được treo ở trên bảng).
Khi giáo viên minh họa bảng các bước dựng hình xong, giáo viên sẽ
hướng dẫn bước cuối, sửa lại nét hình vẽ (tẩy các nét phác đi) và vẽ đậm nhạt;
Giáo viên vẫn tiếp tục sử dụng phương pháp vấn đáp, trực quan để đặt câu hỏi
cho học sinh . Theo như phương pháp tôi đề ra thì giáo viên sẽ hỏi học sinh bằng
cách cụ thể trước rồi mới đưa tới khái niệm đậm nhạt.
+ Hỏi phần tối nhất của mẫu kết luận đây là tối (học sinh nhận xét và trả lời).
+ Hỏi phần sáng nhất của mẫu Kết luận đây là sáng (học sinh nhận xét, và trả
lời).
+ Hỏi ở giữa thì sao? kết luận đây là vùng trung gian (học sinh nhận xét và trả
lời).
Cuối cùng giáo viên nhấn mạnh muốn vẽ đậm nhạt tốt (hình khối) thì phải đảm
bảo vẽ được ba sắc độ: Sáng nhất; tối nhất; và trung gian.
Ví dụ trên tôi đưa ra nhằm một mục đích thay đổi cách tiến hành một bài vẽ
của học sinh tiểu học trong phần hướng dẫn cách vẽ (đây là phần quan trọng) ở ví
dụ này đòi hỏi giáo viên, học sinh và cơ sở vật chất đều phải được chuẩn bị tốt
đúng với yêu cầu của phương pháp này được đề ra ở phần trước (phần chuẩn bị).
Để học sinh làm việc có hiệu quả và cũng là phần mà giáo viên phải dành nhiều
nhiều khi chúng ta xem nhẹ vấn đề này, nhưng nó lại có ảnh hưởng rất lớn. Bởi
sau này (học cao hơn) các em sẽ có thói quen dùng thước để kẻ khiến bài vẽ quá
cứng nhắc, những nét thẳng đó không phải là vẽ theo mẫu mà gọi là kẻ theo
mẫu. Và quan trọng hơn cả là học sinh không luyện được cách vẽ của tay mà chỉ
phụ thuộc vào thước kẻ. Nếu như vậy các các em sẽ không phát huy được khả
năng của mình cũng như sẽ gặp khó khăn khi gặp phải bài có mẫu khó.
- Học sinh độc lập làm bài còn thể hiện ở chỗ không vẽ chép bài của các
bạn bên cạnh, hoặc cố vẽ giống hình minh họa của thầy ở trên bảng, việc học
sinh vẽ như vậy sẽ làm cho các em tiếp thu bài không đầy đủ.
+ Giáo viên hướng dẫn cá nhân: Việc hướng dẫn cá nhân rất quan trọng
trong thời gian thực hành của học sinh. Phần hướng dẫn học sinh đã nắm được
bài một cách tương đối đầy đủ, tuy nhiên tới giờ thực hành các em sẽ không
tránh khỏi những sai sót, cũng như gặp phải một số vướng mắc, chính vì vậy
việc hướng dẫn cá nhân là rất cần thiết.
Vả lại, trong lúc học sinh thực hành giáo viên hạn chế gây mất tập trung
vẽ của học sinh càng ít càng tốt. Bởi vì, nếu các em đang làm bài thực hành mà
giáo viên lại lấy một bài vẽ của học sinh sai sót không phổ biến của học sinh để
nhận xét chung trước lớp, lúc đó các em phải dừng bài và nghe giảng không cần
21
thiết đối với một bộ phận học sinh khiến các em mất tập trung. Thay vào đó,
giáo viên cần đi quan sát học sinh cả lớp để phát hiện các em làm chưa đúng hay
có ý định tốt nhưng đang vướng mắc chưa biết cách giải quyết như thế nào.
Khi bắt tay vào vẽ qua thực tế tôi thấy học sinh rất hay mắc phải vẽ bố
cục không cân đối, tỷ lệ sai nhiều. Giáo viên phải chú ý tới vấn đề này để uốn
nắn học sinh một cách kịp thời. Khi đi hướng dẫn cho cá nhân học sinh giáo
viên tuyệt đối không được cầm bút sửa bài cho học sinh mà chỉ hướng dẫn , nêu
ra những yếu điểm của học sinh để các em tự hoàn thiện và sửa các lỗi của
mình.
Tuy là giáo viên cần phải hướng dẫn cá nhân học sinh trong giờ thực hành
nhưng cũng có nhiều khi giáo viên phải hướng dẫn tập thể do một điều đó là: có
thể quan sát được những bài vẽ tiêu biểu cho bài đẹp và chưa đẹp để chuẩn bị
cho việc chọn bài và treo lên bảng, (Phần này giáo viên cần chuẩn bị băng dính
để dán bài). Khi thời gian làm bài thực hành hết giáo viên chuyển những bài đã
22
được chọn đó và dán lẫn lộn trên bảng, không dán phân loại riêng đẹp và chưa
đẹp. Mục đích để học sinh tư duy khách quan theo cảm nhận của mình.
+ Cho ít nhất từ 5 đến 10 em học sinh nhận xét cảm nhận của mình khi xem
các bài vẽ đó, yêu cầu học sinh chọn ra được các bài vẽ đẹp, Giáo viên còn tiếp
tục vấn đáp để học sinh tự nhận xét được vì sao bài đó đẹp, vì sao bài đó chưa đẹp
VD: Giáo viên đặt câu hỏi như em hãy chọn các bài theo em coi đó là
đẹp?, Tại sao em thấy bài đó đẹp hơn các bài kia ?, Em hãy nhận xét về hình vẽ
của các bài em coi là đẹp ?, Những bài vẽ chưa đẹp em thấy hình vẽ của các bạn
đó như thế nào? Đối với lớp cao (4,5) thì cần hỏi thêm về đậm nhạt như em thấy
bạn vẽ các độ đậm nhạt như thế nào, trông khối hình đã rõ hay chưa? Theo em
với những bài vẽ chưa đẹp này thì cần vẽ sửa những điểm nào? Theo em thì
những bài đẹp này được bao nhiêu điểm, những bài chưa đẹp này được bao
nhiêu điểm?
Bằng hệ thống câu hỏi trực tiếp đối với học sinh nhận xét đã làm cho học
sinh chủ động nêu cảm nhận của mình trước những bài mĩ thuật, như vậy đã rèn
được thói quen phê bình và tự phê bình bài vẽ của bạn cũng như của mình.
Mục đích của phương pháp nhận xét và đánh giá bài của học sinh là phải
có thầy, có trò cùng nói nên điểm mạnh để học sinh phát huy, và điểm yếu để
các em khắc phục. Nên tiếng nói của thầy cũng đóng một vai trò quan trọng khi
nhận xét bài của học sinh.
+ Qua một loạt ý kiến của nhiều học sinh, giáo viên đã tập hợp được mặt
mạnh và yếu của học sinh để đưa ra nhận xét quyết định của mình, giáo viên cần
nhấn mạnh những lời nhận xét của học sinh mang tích chất tích cực để khích lệ
nhiều em khác tham gia vào phần này trong các làn sau. Đồng thời nhận xét bài
của học sinh theo hướng khích lệ là chính. Nếu học sinh đã tìm ra những yếu
điểm bài của bạn thì giáo viên cần khéo léo nhận xét một cách tích cực tuy là
** Trò chơi: “Liên kết”. Trò chơi này được sử dụng trong nhiều bài vẽ theo
mẫu có đồ vật, có tác dụng tạo được động tác nhanh khi tham gia chơi và hiểu
sâu hơn mẫu vẽ của bài đó.
Trò chơi có bao nhiêu người tham gia còn phụ thuộc vào các bộ phận của
đồ vật (mẫu vẽ) nhiều hay ít VD: Đối với bài vẽ cái phích: Giáo viên chọn học
sinh đóng vai các bộ phận của cái phích như nắp phích, vai phích, thân phích,
quai phích, đáy phích. Như vậy cần tất cả là 5 học sinh chơi theo các vai trên.
+ Yêu cầu của trò chơi: Học sinh đóng vai các bộ phận của đồ vật phải
thực hiện đúng theo thứ tự của các phần trên cái phích cụ thể em đóng vai “nắp
phích” phải đứng trước em đóng vai “vai phích” và em đóng “vai phích” phải
đứng trước “thân phích” riêng em “quai phích” phải đứng ở giữa “thân phích”,
còn em đóng vai bộ phận “đáy phích” phải đứng sau cùng.
+ Luật chơi: Giáo viên phổ biến luật chơi. Tất cả “các bộ phận” phải chú
ý theo dõi khẩu lệnh của giáo viên để thực hiện theo yêu cầu, khi dứt điểm khẩu
lệnh những học sinh đóng vai đó phải thực hiện ngay yêu cầu nếu chậm, sai thì
sẽ bị phạt một vòng lò cò quanh mẫu vẽ. Khẩu lệnh đó có thể là một số tư thế
đặt của cái phích.
+ Chơi: Giáo viên phân vai theo thứ tự các bộ phận của phích và hỏi lại
học sinh đã nhớ vai của mình chưa, để cho chắc chắn học sinh nhớ giáo viên yêu
cầu từng em nêu tên bộ phận mà mình đóng vai. Khi chuẩn bị chơi giáo viên cho
học sinh đứng lẫn lộn không theo thứ tự nào và lần 1 giáo viên hô khẩu lệnh
“Phích đứng” các “bộ phận của phích” khẩn trương xếp vào theo thứ tự mà đã
được phân “vai” để đảm bảo mỗi lần ít nhất một em phải lò cò, nên ở phần luật
chơi có yêu cầu em nào chậm và sai thì phải lò cò riêng em chậm thì phải là em
sau cùng xếp vào hàng của “cái phích” còn em sai thì dĩ nhiên là bị phạt rồi (sai
ở đây là sai vị trí đứng, làm “các bộ phận của phích” bị đảo lộn).
Giáo viên cứ như vậy chơi ở một số tư thế khác như “Phích đổ ngang
phải” khi có thêm hướng kèm theo khẩu lệnh học sinh phải được hiểu là nắp
phích được bắt đầu từ hướng đó, hoặc “phích lộn ngược”…
Trò chơi này giáo viên sẽ sáng tạo để áp dụng cho nhiều bài vẽ theo mẫu
+ Chuẩn bị: Nội dung trò chơi.
+ Yêu cầu trò chơi: Giáo viên sẽ qui ước hai vật mẫu của mẫu vẽ bằng hai khẩu
lệnh “thụt” và “thò”. VD: ở bài vẽ cái ấm tích và cái bát Giáo viên sẽ quy ước
cái ấm tích là “thò”, cái bát là “thụt”. Trò chơi này được áp dụng cho cả lớp
cùng chơi.
+ Luật chơi: khi giáo viên hô “tích thò” nếu học sinh thấy đúng với qui ước thì
giơ tay thò lên theo thầy giáo, giáo viên hô “bát thò” nếu học sinh thấy khẩu
lệnh sai với qui ước thì các em phải thụt tay xuống. Tương tự như vậy giáo viên
sẽ hô vừa đúng qui ước vừa không đúng qui ước đối với cả hai mẫu. Và nếu ai
thò thụt tay nhanh nhưng sai theo qui ước thì phải lên bảng hát một bài hát tự
chọn, trong trò chơi này giáo viên phải chú ý tay của học sinh nhanh để phát
hiện những em giơ tay hay thụt tay sai.
Qua một số trò chơi điển hình do tôi tự nghĩ ra hy vọng phần nào khắc sâu
kiến thức hơn khi các em học vẽ theo mẫu, và các trò chơi này hoàn toàn có thể
biến tấu theo các bài học vẽ theo mẫu tương ứng chỉ việc thay đổi một chút là lại
được một chò chơi khác phù hợp với mẫu của bài vẽ đó.
Đổi mới cách dạy, cách học tạo không khí vui tươi hồn nhiên, nhẹ nhàng và sinh
động trong mỗi giờ vẽ theo mẫu là điều mà mỗi giáo viên chúng ta đều quan tâm
đến và việc tạo ra không khí ấy thì việc tổ chức những trò chơi này sẽ góp phần
25