PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI LỘC
TRƯỜNG THCS QUANG TRUNG
CHUYÊN ĐỀ HUYỆN
ĐỀ TÀI
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
DỰA TRÊN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
TRONG PHÂN MÔN VĂN
Thực hiện:
-Nhóm Văn
-Tổ Văn-GDCD-Nhạc
Năm học : 2012-2013
Tháng 12/2012
DÀN Ý CHUYÊN ĐỀ:
A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
II. THỰC TRẠNG:
1. Đối với học sinh.
2. Đối với giáo viên.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I. Một số vấn đề lí thuyết về dạy học dựa trên giải quyết vấn đề:
1. Khái niệm.
2. Giá trị của dạy học dựa trên giải quyết vấn đề.
3. Hạn chế và hướng khắc phục.
II. Phương pháp thực hiện:
1. Khâu chuẩn bị bài ở nhà.
2. Qui trình thực hiện trên lớp.
a. Xác định vấn đề được nêu ra trong bài học.
b. Các mức độ của dạy học dựa trên giải quyết vấn đề.
c. Qui trình “Dạy học dựa trên giải quyết vấn đề”.
5. Một số phương pháp và phương tiện kết hợp.
môn học.
Đối với môn Ngữ văn nói chung và phân môn Văn nói riêng thì việc vận dụng
phương pháp mới này càng có ý nghĩa tích cự hơn. Bởi lẽ lâu nay chúng ta vẫn hay có
thói quen sử dụng phương pháp truyền thống trong dạy học văn. Hoặc có chăng việc
vận dụng một số phương pháp mới có được áp dụng song chưa thực sự được chú trọng
và chưa mang lại hiệu quả cao cho tiết học.
II. THỰC TRẠNG:
1. Đối với học sinh:
Việc học tập môn Ngữ văn có vai trò thực sự quan trọng trong chương trình
giáo dục phổ thông. Nó giúp các em có khả năng cảm thụ vẻ đẹp của một tác phẩm
văn học. Và sâu xa hơn, nó còn góp phần giúp các em hoàn thiện nhân cách và phát
triển tâm hồn. Rèn luyện cho các em kĩ năng sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt một cách
hoàn thiện nhất trong quá trình học tập cũng như trong cuộc sống. Nhưng có một thực
tế là trong văn chương cái hay thường đi liền với cái khó. Vì vậy việc học tập bộ môn
Ngữ văn nói chung và phân môn Văn nói riêng đối với các em là một vấn đề khó
khăn. Muốn học tốt phân môn này đòi hỏi các em phải có lòng yêu thích văn học, phải
có tâm thế học văn và phải chuẩn bị bài trước khi đến lớp. Nhưng trên thực tế do điều
kiện khách quan và chủ quan, số lượng học sinh yêu thích học văn không nhiều. Vì thế
một bộ phận không nhỏ học sinh không có thái độ tích cực, hứng thú khi học tập trên
lớp. Các em vẫn ngồi học, mắt vẫn nhìn, tai vẫn nghe, tay vẫn ghi chép nhưng đầu óc
thì chưa thực suy nghĩ để tìm tòi, phát hiện và giải quyết vấn đề có ý nghĩa trong bài
học. Việc soạn bài và chuẩn bị bài ở nhà còn mang tính đối phó. Nhiều em không chịu
khó đọc và soạn bài ở nhà mà chỉ chép sách học Học tốt, sách Nâng cao…điều này
ảnh hưởng đến quá trình tiếp thu bài trên lớp của các em.
2. Đối với giáo viên:
Việc giảng dạy trong phân môn Văn ở giáo viên chưa có nhiều cải tiến. Việc đổi
mới phương pháp giảng dạy vẫn còn hạn chế và chưa đồng bộ ở hầu hết các giáo viên.
Đặc biệt là đối với các văn bản văn học, môn học vốn dĩ “ lời nhiều” nên rất dễ gây
nhàm chán cho học sinh nếu chúng ta không sử dụng phương pháp phù hợp. Sự trở lại
của phương pháp dạy học cũ với điểm cơ bản là giáo viên không tổ chức hoạt động
HS: - Có thể không làm đúng những điều GV muốn (tinh thần, thái độ, phương pháp
làm việc,…) -> Quản lý, giúp đỡ, thuyết phục.
- Không đủ khả năng khám phá hết yêu cầu của bài học/hoạt động giáo dục ngoài
giờ lên lớp hoặc đi sai hướng giải quyết vấn đề -> Không cầu toàn, theo dõi, chấn
chỉnh kịp thời.
GV: - Khó khăn khi chọn vấn đề phù hợp -> Đối chiếu nội dung, yêu cầu bài học với
thực tế; cách xây dựng tình huống có vấn đề.
- Tốn thời gian để lập kế hoạch và thực hiện dạy học dựa trên giải quyết vấn đề->
Chú ý quy trình thực hiện.
II. Phương pháp thực hiện:
1. Khâu chuẩn bị bài ở nhà:
* Đối với học sinh: giáo viên dành ít thời gian trong phần dặn dò ở tiết học
trước để đặt ra những yêu cầu cụ thể đối với học sinh. Ngoài việc bắt buộc phải đọc
bài và chuẩn bị theo câu hỏi trong SGK, giáo viên cần đưa ra những câu hỏi nhỏ hơn,
cụ thể hơn.Định hướng cho các em tìm hiểu các môn học có liên quan, các nguồn
thông tin có liên quan đế bài học. Học sinh phải chuẩn bị bài ở nhà để nắm bắt nội
dung của bài học, các đơn vị kiến thức và các bài tập cần giải quyết. Có chuẩn bị bài ở
nhà thì các em mới có thể nắm được kiến thức nhanh và mới có thể huy động kiến
thức để giải quyết vấn đề mà giáo viên đặt ra trong bài học.
* Đối với giáo viên:
Giáo viên cần lựa chọn và xây dựng câu chuyện, tình huống có vấn đề cho bài
học. Câu chuyên, tình huống ấy phải cụ thể nhưng không kém phần sinh động, thú vị
thì mới gây được hứng thú cho học sinh. Chính vì vậy công việc soạn giáo án ở nhà
của giáo viên là rất quan trọng. Giáo viên tìm tòi, xây dựng tình huống có vấn đề và
quan trọng là phải xác định vấn đề ấy sẽ được đưa vào đầu bài học (phần giới thiệu
bài) hay đầu mỗi hoạt động để thiết kế giáo án cho phù hợp.
Giáo viên phải chuẩn bị chu đáo phần nội dung, nắm vững các tài liệu có liên
quan. Nói tóm lại, để có một tiết dạy vận dụng phương pháp dạy học dựa trên giải
quyết vấn đề hay và thực sự có hiệu quả đòi hỏi người giáo viên thực sự có tâm huyết,
đầu tư và chuẩn bị chu đáo cho bài dạy.
Điều đó đã đặt học sinh vào tình trạng thấy mình cần phải có trách nhiệm làm sáng tỏ
vấn đề bằng cách tìm hiểu nội dung bài học. Các em thấy mình cần và có khả năng
vượt qua thử thách nhưng không phải ngay lập tức mà phải trải qua quá trình tìm tòi,
phát hiện.
Với việc đặt các em vào tình huống có vấn đề ngay từ đầu như vậy làm cho các
em cảm thấy mình có trách nhiệm với bài học, chủ động tìm để chiếm lĩnh tri thức chứ
không còn là người thụ động ngồi nghe thầy cô giáo truyền thụ như trước đây nữa.
Tiết học vì vậy sẽ sinh động và hấp dẫn hơn với các em.
Ví dụ 1: Khi dạy bài Bánh chưng bánh giầy ( SGK Ngữ văn 6 tập 1) giáo viên
có thể giới thiệu bằng một câu chuyện như sau:
Lan học lớp năm, hiện đang sống tại Mỹ. Tết năm nay Lan được bố mẹ đưa về
quê ngoại là Việt Nam để ăn Tết. Chiều ba mươi, không khí trong nhà thật nhộn nhịp.
Bà ngoại và các cô bác đang xúm xít bên chiếc chõng tre bày ra đủ thứ: nào lá dong,
gạo nếp, đậu xanh, thịt mỡ… lại còn gạo nếp đã được bà nhào sẵn nửa chứ. Lan tò mò
quá:
- Bà ơi, những thứ này làm gì mà nhiều thế ạ?
Bà xoa đầu cháu và bảo:
- À, để làm bánh chưng, bánh giầy đấy cháu ạ. Ngày Tết ở Việt nam mà không
có hai thứ bánh này là thiếu hẳn hương vị đấy.
Lan vẫn thắc mắc mãi: ngày Tết có bao nhiêu là thứ bánh tại sao phải làm hai
thứ bánh này cho vất vả. Mà bà còn bảo nếu không có nó thì sẽ mất hương vị ngày Tết
nhĩ?
a2. Vấn đề được nêu ra ở đầu mỗi hoạt động:
Tình huống nêu ra ở đầu mỗi hoạt động thì sẽ được tách nhỏ hơn, cụ thể hơn để
phù hợp với từng nội dung của hoạt động. Trong một tiết Văn tùy thuộc vào tính chất
của từng hoạt động mà chúng ta có thể sử dụng tình huống có vấn đề phù hợp. Tình
huống có thể được sử dụng trong hoạt động này mà không có ở hoạt động kia hoặc có
thể mỗi hoạt động sẽ được giới thiệu bằng một tình huống cụ thể. Tuy nhiên, đối với
một tiết dạy văn thì vấn đề rất ít khi được nêu ra ở đầu mỗi hoạt động. Bỡi lẽ văn bản
vốn dĩ là một thể thống nhất nên vấn đề phải được nêu ra từ đầu và sau đó đi tìm hiểu
lời đề nghị: “Cấm hút thuốc lá”. Thế nhưng hằng ngày vẫn nhan nhản những người
không làm đúng như thế: Ở nhà sau bữa cơm, bố thường ngồi hút thuốc lá xem ti vi;
trong quán cafe, nhiều người tụ tập tán chuyện với điếu thuốc lá phì phèo trên môi;
trên xe buýt đông người chật chội nhưng nhiều người vẫn thản nhiên hút thuốc; thậm
chí vào bệnh viện thăm bệnh nhân vẫn có nhiều người ung dung nhả khói thuốc; rồi
đến trường có những bạn trốn vào nhà vệ sinh để hút thuốc lá; …
- Vì sao phải “Cấm hút thuốc lá”?
- Và làm thế nào để những người quanh em nhận thức đầy đủ hơn về vấn
đề này?
Bước 2. Đặt câu hỏi (=> làm sáng tỏ vấn đề):
2.1. Yếu tố đã biết:
- Nơi nào cũng có bản khuyến cáo hoặc lời đề nghị: “Cấm hút thuốc lá”;
- Nhan nhản những người hút thuốc lá …
2.2. Yếu tố chưa biết:
- Vì sao phải “Cấm hút thuốc lá”?
- Làm thế nào để những người quanh em nhận thức đầy đủ hơn về vấn đề
này?
Bước 3. Đề xuất các ý tưởng, giả thuyết (phân chia lớp học thành các nhóm,
cử nhóm trưởng => HS thảo luận nhóm để đưa ra các ý tưởng và giả thuyết về vấn
đề):
a) Phải “Cấm hút thuốc lá”, bởi vì thuốc lá:
+ Có hại cho sức khỏe bản thân và người chung quanh;
+ Tốn tiền, tốn thời gian, ảnh hưởng đến công việc;
+ Ô nhiễm môi trường (khói thuốc lá, xả tàn thuốc, bao thuốc);
+ Trong thuốc lá có độc tố nicotin;
+ Miệng và hơi thở của người hút thuốc rất hôi, gây khó chịu cho người khác;
+ Xã hội ngày càng văn minh thì càng không nên hút thuốc lá;
+ Nội quy nhà trường không cho phép HS hút thuốc lá;
+ Người lịch sự là người không hút thuốc lá;
+ Xây dựng nếp sống văn minh lành mạnh “không thuốc lá” , v.v …
- SGK Ngữ văn 8, tập 1: bài Ôn dịch, thuốc lá.
- Tài liệu tham khảo: những bài viết về tác hại của thuốc lá; tâm sự của
người nghiện thuốc lá; các tranh ảnh, pano, khẩu hiệu cổ động phong trào phòng
chống thuốc lá, …
Bước 2. Tự nghiên cứu (nội dung nghiên cứu có thể được tách thành từng chủ
đề nhỏ, phân công theo khả năng của các thành viên trong nhóm).
- Chia lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm 8 em. Nhóm trưởng phân công nghiên cứu
từng chủ đề nhỏ cho các thành viên:
+ Bạn A, B, C: đặc điểm của thuốc lá;
+ Bạn D, Đ, E: thuốc lá có hại cho bản thân, cho người chung quanh, cho xã
hội;
+ Bạn G, H, : Khắp nơi nổi lên chiến dịch chống thuốc lá.
*GIAI ĐOẠN III. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Trên cơ sở thông tin mới thu nhận được thông qua giai đoạn 2 học sinh sẽ quay
trở lại với vấn đề thông qua việc kiểm chứng ý tưởng và giả thuyết đã nêu ra ở giai
đoạn 1 . Để đạt được kết quả tốt, giai đoạn này cần được tiến hành qua 2 bước :
Bước 1. Hệ thống hóa kiến thức mới nhận được (thành viên trong nhóm trình
bày, thảo luận, chia sẻ về từng chủ đề nhỏ đã nghiên cứu => tất cả các thành viên
trong nhóm đều hiểu được chủ đề và biết được ý nghĩa của nó trong việc kiểm chứng
các ý tưởng, giả thuyết).
+ Bạn A trình bày “đặc điểm của thuốc lá” , bạn B, C bổ sung (nếu có);
+ Bạn D trình bày “thuốc lá có hại cho bản thân, cho người chung
quanh, cho xã hội”, bạn Đ, E bổ sung (nếu có);
+ Bạn G trình bày về “Khắp nơi nổi lên chiến dịch chống thuốc lá”, bạn
H bổ sung (nếu có).
Bước 2. Đánh giá ý tưởng, giả thuyết (xem xét, kiểm chứng về tính đúng đắn
của từng ý tưởng, giả thuyết => vấn đề được giải quyết trên cơ sở hệ thống kiến thức
mới và sự suy luận có lôgic).
a) Phải “Cấm hút thuốc lá”, bởi vì thuốc lá:
+ Có hại cho sức khỏe bản thân và người chung quanh;
Trong thực tế dạy học chúng tôi đã chọn cách thứ 2
Bước 2. Thể chế hóa kiến thức đã học (xem xét lại các kiến thức liên quan tới
môn học đã lĩnh hội được thông qua giải quyết vấn đề => đáp ứng mục tiêu môn học
đã đề ra).
- GV và HS chốt lại các kiến thức, kỹ năng theo định hướng nêu trong
mục ghi nhớ của SGK.
GIỚI THIỆU HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CỤ THỂ
Tên bài dạy: ÔN DỊCH, THUỐC LÁ
(NGỮ VĂN 8)
Giáo viên soạn: Nhóm Ngữ văn Môn: Ngữ văn
Trường: THCSQuang Trung Dạy cho lớp: 8
Ngày soạn: 18-8 2012 Thời gian: 45 phút
I. VẤN ĐỀ ĐƯỢC SỬ DỤNG
1. Giới thiệu vấn đề:
Tình huống: Hiện nay hầu như ở bất kỳ nơi nào cũng có bản khuyến cáo hoặc lời đề
nghị: “Cấm hút thuốc lá”. Thế nhưng hằng ngày vẫn nhan nhãn những người không
làm đúng như thế: Ở nhà sau bữa cơm, bố thường ngồi hút thuốc lá xem ti vi; trong
quán cafe, nhiều người tụ tập tán chuyện với điếu thuốc lá phì phèo trên môi; trên xe
buýt đông người chật chội nhưng nhiều người vẫn thản nhiên hút thuốc; thậm chí vào
bệnh viện thăm bệnh nhân vẫn có nhiều người ung dung nhả khói thuốc; rồi đến
trường có những bạn trốn vào nhà vệ sinh để hút thuốc lá; …
- Vì sao phải “Cấm hút thuốc lá”?
- Và làm thế nào để những người quanh em nhận thức đầy đủ hơn về vấn
đề này?
2. Thiết kế câu hỏi trung tâm:
- Vì sao phải “Cấm hút thuốc lá”?
- Làm thế nào để những người quanh em nhận thức đầy đủ hơn về vấn đề
này?
3. Các kiến thức, kỹ năng người học đã biết:
- Nơi nào cũng có bản khuyến cáo hoặc lời đề nghị: “Cấm hút thuốc lá”;
- Định hướng nguồn thông tin.
- Đưa ra các kết quả.
7. Những kỹ năng cần có:
- Lắng nghe tích cực.
- Phân tích, tổng hợp, đánh giá, phản hồi, rút ra kết luận.
8. Các môn học có liên quan (nếu có):
Môn Sinh học, Môn Giáo dục Công dân; Giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống.
9. Nguồn tài liệu liên quan:
Sách giáo khoa các bộ môn nói trên và nguồn tư liệu trên mạng, báo chí, truyền thanh,
truyền hình….
10. Đánh giá kết quả giải quyết vấn đề:
Đánh giá qua phản hồi của cá nhân, kết quả làm việc nhóm và trao đổi thảo luận của
các nhóm.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Giai đoạn Nội dung
Hoạt động Địa
điểm
Thời
gian
Giáo viên Học sinh
Xác định
và tìm
hiểu vấn
- Giới thiệu
tình huống
chứa đựng vấn
- Cho học sinh
xem tình huống
- Lắng nghe
tích cực
GQVĐ:
- Đặt câu hỏi về
những vấn đề
của tình huống
- HS làm việc
nhóm để đề
xuất ý tưởng,
giả thuyết.
- Xác định các
KT, KN cần có
để GQVĐ
- tác hại của
thuốc lá.
- Vì sao phải
cấm hút thuốc
lá?
- Cách phòng
chống hút thuốc
lá/
Tìm hiểu
các kiến
thức có
liên quan
- Định hướng
cho HS nguồn
thông tin kiến
thức về vấn đề
hút thuốc lá.
- Định
hướng cho HS
vấn đề
- Hệ thống các
KT mới nhận
được
- Kiểm nghiệm
ý tưởng, giả
thuyết.
- Tổ chức cho HS
hệ thống KT vừa
tìm hiểu.
- Cho HS đối
chiếu KT tìm
hiểu được với
tình huống đặt ra.
- Tổng hợp các
kiến thức.
- Đối chiếu và
lí giải tình
huống
Lớp
học
10
phút
Trình bày
kết quả
- Trình bày sản
phẩm
- Thể chế hóa
KT đã học
Để giải quyết vấn đề đặt ra trong bài học thì phương pháp quan trọng, hiệu quả
không thể thiếu trong tiết học là thảo luận, hoạt động nhóm. Đây là quá trình các em
đưa ra ý kiến, lựa chọn cách giải quyết và đi đến thống nhất vấn đề. Đây cũng là khâu
quan trọng nhất của tiết học.
Song song cùng với quá trình thảo luận của các em thì người giáo viên đóng vai
trò cố vấn. Vì vậy phương pháp đàm thoại, gợi mở nêu vấn đề cần được kết hợp để
giúp các em xác định đúng hướng giải quyết vấn đề mang lại hiệu quả mong muốn.
Ngoài ra còn có sự kết hợp của nhiều phương pháp khác vốn là đặc trưng của bộ
môn như: thuyết giảng, trình bày.
Như trên đã nói, đối với tiết dạy học dựa trên giải quyết vấn đề thì việc sử dụng
phương tiện dạy học hiện đại là rất phù hợp. Phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại như
Giáo án điện tử, máy chiếu sẽ là công cụ hổ trợ đắc lực cho giáo viên và học sinh
trong quá trình thực hiện tiết học.
Bên cạnh các phương pháp, phương tiện dạy học đó để tiết học thành công và
hiệu quả nhất người học cũng cần rèn luyện cho mình một số kỹ năng cơ bản như kỹ
năng xác định vấn đề, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng hợp tác làm việc theo nhóm,
kỹ năng trình bày sản phẩm …
Với đặc trưng của bộ môn Văn, Tiếng Việt lâu nay học sinh vẫn quen học theo
kiểu truyền thụ một chiều: giáo viên giảng, trò nghe, ghi chép thì bây giờ sử dụng
phương pháp mới này với sự kết hợp của nhiều phương pháp khác sẽ đặt học sinh vào
tình huống “ không thể ngồi im”. Vì vậy buộc các em phải hoạt động, tư duy tìm ta lời
giải đáp cho bài học. Thế nên các em từ chổ bị động chuyển sang tâm thế chủ động,
làm chủ tiết học.
III. Tiết dạy minh họa:( Tổ chức tiết dạy riêng và có giáo án kèm theo)
IV. Một số lưu ý:
-Dạy học dựa trên giải quyết vấn đề là một phương pháp hay tuy nhiên do đặc
trưng của bộ môn nên không phải lúc nào ta cũng vận dụng được cho tất cả các bài
học. Không phải bài học nào giáo viên cũng phải tạo cho bằng được tình huống có vấn
đề mà tùy thuộc vào từng bài học, tiết học cụ thể. Do đó giáo viên cần phải linh hoạt
trong mọi tình huống để sử dụng phương pháp này một cách phù hợp.
Trung tìm tòi, nghiên cứu, thực hiện từ đầu năm học 2012 - 2013 đến nay. Vì mới chỉ
là bước đầu thử nghiệm nên chuyên đề không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót,
mang tính chủ quan. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến, chia sẻ kinh nghiệm
của các thầy cô giáo dạy Ngữ văn trên địa bàn huyện để chuyên đề của chúng ta đầy
đủ hơn, hoàn chỉnh hơn. Từ đó, chúng ta rút ra được những điểm chung nhất của
phương pháp dạy học tích cực này để áp dụng vào từng bài dạy cụ thể nhằm nâng cao
chất lượng môn Ngữ văn nói chung và phân môn Văn nói riêng trong các trường
THCS trên địa bàn huyện.
D. ĐỀ XUẤT :
Đối với những phương pháp dạy học mới như thế này giáo viên chúng tôi chỉ
mới được tập huấn lí thuyết thôi chưa đủ.Chuyên môn phòng giáo dục nên có những
tiết dạy thử nghiệm mẫu để giáo viên học hỏi rút kinh nghiệm qua đó áp dụng vào quá
trình giảng dạy của mình cho khỏi lúng túng.
Xin trân trọng cảm ơn!