CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1Tính cấp thiết của vấn đề cần nghiên cứu
Hiện nay trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, thương mại quốc tế
đang ngày càng trở nên quan trọng trong việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Nó tạo điều kiện cho mỗi quốc gia tập trung hơn nữa trong việc chuyên môn hóa
sản xuất những mặt hàng mà mình có lợi thế để tăng cường xuất khẩu và nhập khẩu
những mặt hàng không phải lợi thế cạnh tranh của mình. Trong đó thương mại quốc
tế thông qua hoạt động nhập khẩu đã đem lại cho lợi ích cho nền kinh tế được thể
hiện thông qua việc nó tạo điều kiện cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
góp phần vào việc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát
triển, góp phần cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao sự hiểu biết của người dân.
Nhập khẩu giải quyết được những nhu cầu đặc biệt, hàng hóa hiếm hoặc có hàm
lượng công nghệ cao mà trong nước chưa sản xuất được. Nhập khẩu có vai trò tích
cực thúc đẩy xuất khẩu, góp phần nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu, tạo môi
trường thuận lợi cho hàng Việt Nam ra thị trường nước ngoài.
Tại Việt Nam, hoạt động nhập khẩu chủ yếu là nhập khẩu máy móc thiết bị, dây
chuyền công nghệ phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và một số
mặt hàng phục vụ cho tiêu dùng, sinh hoạt mà ta chưa có khả năng sản xuất hoặc đã
sản xuất nhưng còn hạn chế. Trong đó có các thiết bị cơ khí cụ thể là máy công cụ
phục vụ cho ngành công nghiệp và xây dựng các công trình, lắp máy. Do đó việc
nhập khẩu máy công cụ có vai trò quan trọng đối với ngành công nghiệp. Hơn nữa,
môi trường kinh doanh luôn tồn tại những yếu tố biến động như: Luật pháp của mỗi
quốc gia, các điều ước quốc tế, khoa học công nghệ, các nhu cầu thị hiếu của người
tiêu dùng tại các khu vực, thị trường và các nguyên nhân chủ quan khác trong đó
vấn đề chủ yếu là thiếu kiến thức, kinh nghiệm và chưa chú trọng đúng mức đến
quy trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu. Vậy thì các doanh nghiệp nói chung và
công ty Cổ phần thương mại và dịch vụ quốc tế A.P.E.C nói riêng phải có
những biện pháp gì để đối phó cũng như thích ứng với đặc thù của môi trường kinh
doanh? Một vấn đề nữa mà chúng ta thường gặp ở các doanh nghiệp xuất nhập khẩu
đó là Việt Nam đang có rất nhiều cơ hội để tìm kiếm các đối tác lớn trên thế giới và
khẩu
- Khảo sát tình hình thực tế quy trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu sản phấm
máy công cụ
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy trình thực hiện hợp đồng
nhập khẩu máy công cụ tại thị trường Đức tại công ty Cổ phần A.P.E.C
1.4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề : Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu đến các
hoạt động của quy trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu máy công cụ từ thị trường
Đức của công ty Cổ phần A.P.E.C
1.5 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: tại công ty Cổ phần A.P.E.C, phòng xuất
nhập khẩu
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: nguồn số liệu thứ cấp thu thập từ năm 2007
dến năm 2010
- Giới hạn đối tượng nghiên cứu: gắn với quy trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu
tại công ty Cổ phần A.P.E.C, lĩnh vực kinh doanh là thương mại, nhóm hàng sản
phẩm là máy công cụ, thị trường nhập khẩu là Đức
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài chủ yếu tiếp cận theo phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu
1.7 Kết cấu của khóa luận
Đề tài nghiên cứu gồm 3 phần:
- Phần 1: Cơ sở lý luận về quy trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu
- Phần 2: Phân tích thực trạng quy trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu máy công
cụ từ thị trường Đức của công ty Cổ phần A.P.E.C
- Phần 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình nhập khẩu máy công cụ từ thị
trường Đức của công ty Cổ phần A.P.E.C
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG
NHẬP KHẨU
Công ước Viên 1980 CISG cho phép các thành viên sử dụng tất cả các hình thức
trên. Ở Việt Nam, theo luật Thương mại 2005 mua bán hàng hóa quốc tế phải được
thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý
tương đương.
- Theo cách thức thành lập hợp đồng: Bao gồm hợp đồng một văn bản và hợp
đồng gồm nhiều văn bản.
Hợp đồng một văn bản là hợp đồng trong đó ghi rõ nội dung mua bán, các điều
kiện giao dịch đã thỏa thuận và có chữ ký của hai bên.
Hợp đồng gồm nhiều văn bản như: đơn chào hàng cố định của người bán và chấp
nhận của người mua; đơn đặt hàng của người mua và chấp nhận của người bán; đơn
chào hàng tự do của người bán, chấp nhận của người mua và xác nhận của người
bán; hỏi giá của người mua, chào hàng cố định của người bán và chấp nhận của
người mua.
2.1.3.Đặc điểm của hợp đồng thương mại quốc tế
Hợp đồng thương mại quốc tế trước hết là một hợp đồng mua bán hàng hóa
nhưng khác so với các hợp đồng mua bán hàng hóa nội địa thông thường ở chỗ hợp
đồng thương mại quốc tế mang các yếu tố quốc tế. Bao gồm:
(1): Các bên ký kết có trụ sở kinh doanh tại các nước khác nhau
(2): Tiền thanh toán là ngoại tệ đối với một trong cả hai bên
(3): Hàng hóa được di chuyển ra khỏi biên giới quốc gia
2.1.4.Nội dung của hợp đồng thương mại quốc tế
Một hợp đồng thương mại quốc tế thường gồm có hai phần chính: những điều
trình bày chung và các điều khoản của hợp đồng.
Phần trình bày chung bao gồm:
- Số liệu của hợp đồng (contact no ) Đây không phải là nội dung pháp lý có
tính bắt buộc của hợp đồng. Nhưng nó tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình kiểm
tra giám sát, điều hành và thực hiện hợp đồng của các bên.
- Địa điểm và ngày tháng ký kết hợp đồng: nội dung này có thể để ở đầu của
hợp đồng nhưng cũng có thể để ở cuối của hợp đồng. Nếu như trong hợp đồng
phạt và bồi thường thiệt hại, trọng tài, thời gian, hiệu lực của hợp đồng
+ Các điều khoản khác.
2.2. Quy trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu
2.2.1 Xin giấy phép nhập khẩu
Đối với hàng hóa thông thường thì doanh nghiệp không cần xin giấy phép nhập
khẩu mà chỉ cần mở tờ khai hải quan gửi qua Bộ Công thương để theo dõi
2.2.2.Mua bảo hiểm cho hàng hóa
Bảo hiểm là sự cam kết của người bảo hiểm bồi thường cho người được bảo hiểm
về những mất mát hư hỏng, thiệt hại của đối tượng bảo hiểm do những rủi ro đã
thỏa thuận gây ra, với những điều kiện được bảo hiểm đã mua cho đối tượng đó một
khoản tiền gọi là chi phí bảo hiểm.
Khi mua hàng theo điều kiện CIF, CIP thì người bán chỉ có nghĩa vụ mua bảo
hiểm cho hàng hóa ở điều kiện tối thiểu là điều kiện C. Trong trường hợp này nếu
xét thấy chất lượng hàng dễ biến động trong quá trình vận chuyển hoặc vận chuyển
hàng vào mùa biển động khả năng rủi ro cao thì người nhập khẩu có thể mau bảo
hiểm cho hàng hóa. Người nhập khẩu có thể mua bảo hiểm hoàn toàn cho hàng hóa
khi hợp đồng ký kết theo điều kiện FOB, FCA, FAS, DAF, EXW
2.2.3.Thuê phương tiện vận chuyển
Trong quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu việc thuê phương tiện vận tải phải
căn cứ vào:
Điều kiện cơ sở giao hàng của hàng hóa nhập khẩu. Nếu điều kiện cơ sở giao
hàng là điều kiện C và D thì người xuất khẩu phải thuê phương tiện vận tải. Còn
nếu điều kiện cơ sở giao hàng là điều kiện E và F thì người nhập khẩu phải tiến
hành thuê phương tiện vận tải.
Tùy theo đặc điểm hàng hóa kinh doanh mà doanh nghiệp lựa chọn phương thức
thuê phương tiện vận tải cho phù hợp như: thuê tàu chợ, tàu chuyến hay tàu bao.
Nếu nhập khẩu thường xuyên với khối lượng lớn thì nên thuê tàu bao, nếu nhập
khẩu không thường xuyên nhưng với khối lượng lớn thì nên thuê tàu chuyến, nếu
nhập khẩu với khối lượng nhỏ thì nên thuê tàu chợ.
2.2.6.Kiểm tra hàng hóa
Người nhập khẩu phải đôn đốc người bán giao hàng đúng kì hạn, khi hàng về phải
tổ chức kiểm tra hàng hóa. Việc kiểm tra hàng hóa gồm các bước:
- Tạo điều kiện cho hải quan kiểm hóa
- Mời đại diện bên giám định kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu để làm
cơ sở khiếu nại với bên bán nếu xảy ra tranh chấp giữa hai bên. Tại Việt Nam thì
có thể mời Vinacontrol kiểm tra.
- Nếu hàng hóa nhập khẩu là động thực vật thì phải qua kiểm dịch của cơ quan
chức năng
- Ký kết hợp đồng với ga, cảng để kiểm tra niêm phong trước khi bốc hàng ra
khỏi phương tiện vận tải.
2.2.7.Thanh toán
Hiện nay có nhiều phương thức thanh toán khác nhau như: Tín dụng chứng từ,
thanh toán bằng phương pháp nhờ thu, phương thức chuyển tiền.
Nếu hợp đồng nhập khẩu quy định thanh toán bằng L/C: sau khi phát hành một
L/C người nhập khẩu kiểm tra L/C nếu thấy phù hợp thì thông báo cho bên xuất
khẩu. Sau khi L/C được người xuất khẩu chấp nhận và tiến hành giao hàng đồng
thời gửi bộ chứng từ cho ngân hàng, ngân hàng kiểm tra bộ chứng từ, nếu hợp lệ thì
người nhập khẩu trả tiền cho ngân hàng và mang bộ chứng từ đi nhận hàng.
Nếu hợp đồng nhập khẩu quy định thanh toán bằng phương thức nhờ thu: sau khi
nhận được bộ chứng từ ở ngân hàng, người nhập khẩu kiểm tra chứng từtrong một
thời gian nhất định. Nếu trong thời gian này người nhập khẩu không đưa ra một lý
do nào để từ chối trả tiền thì coi như yêu cầu đòi tiền là hợp lệ. Người nhập khẩu
viết lệnh chuyển tiền gửi đến ngân hàng yêu cầu chuyển tiền để trả cho người xuất
khẩu. Nếu quá thời hạn cho việc kiểm tra chứng từ, mọi tranh chấp sẽ được giải
quyết giữa các bên trọng tài.
Nếu hợp đồng nhập khẩu quy định thanh toán bằng phương thức chuyển tiền thì
người xuất khẩu sau khi giao hàng xong phải nhanh chóng hoàn thành lập bộ chứng
từ sao cho phù hợp với yêu cầu của hợp đồng, đồng thời chuyển đến cho người
- Điều hành quá trình thực hiện hợp đồng
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, thường xuyên xuất hiện các tình huống phát
sinh. Điều hành hợp đồng là giải quyết các tình huống này một cách có lợi nhất trên
cơ sở đánh giá thực tế về tình hình và những khả năng lựa chọn và có thể tìm được
nếu có. Giám sát và điều hành hợp đồng là những hoạt động không thể thiếu trong
quá trình thực hiện hợp đồng.
CHƯƠNG 3 : PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUY TRÌNH THỰC HIỆN HỢP
ĐỒNG NHẬP KHẨU MÁY CÔNG CỤ TỪ THỊ TRƯỜNG ĐỨC CỦA CÔNG
TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ QUỐC TẾ A.P.E.C
3.1.Giới thiệu về đơn vị nghiên cứu
- Tên công ty: Công ty Cổ phần thương mại và dịch vụ quốc tế A.P.E.C
- Địa chỉ trụ sở: Số 6, ngách 91/5, Nguyễn Chí Thanh, Láng Hạ, Đống Đa,
Hà Nội
- Điện thoại: 84-4-37730826
- Fax: 84-4-37730827
- Loại hình doanh nghiệp: Công ty Cổ phần
- Lĩnh vực kinh doanh chính của công ty:
+ Nhập khẩu hàng hóa
• Thị trường: Đức, Pháp, Trung Quốc, Đài Loan
• Mặt hàng nhập khẩu: máy công cụ, các loại máy gia công CNC :
Trung tâm gia công CNC, tiện CNC…, các máy gia công tia lửa
điện EDM CNC, máy đo 3 chiều và các thiết bị, dụng cụ thay thế
máy gia công.
+ Cung cấp máy gia công CNC
+ Cung cấp máy EDM/ Wire EDM
+ Thay thế ,nâng cấp hệ điều khiển cho máy gia công CNC
+ Cung cấp máy gia công CMM ,Laser scanner
+ Cung cấp giải pháp phần mềm CAD/CAM/CAE
Qua bảng 2 ta thấy: thị trường Đức là thị trường nhập khẩu chính của công ty với
kim ngạch nhập khẩu ngày càng tăng qua các năm. Năm 2009 kim ngạch nhập khẩu
là 35.003 USD ( tăng 16,4% so với năm 2008). Năm 2010 kim ngạch nhập khẩu của
công ty là 41.416 USD ( tăng 18,3% so với năm 2009). Đức là một nước phát triển
nên có khả năng cung cấp máy móc thiết bị công nghệ cao. Ngoài ra, công ty còn có
quan hệ bạn hàng với nhiều nước trên thế giới như: Mỹ, Singapore và các nước
khác. Công ty đang có dự định mở rộng nhập khẩu ra các thị trường các nước như:
Hồng Kông, Hàn Quốc
3.3.Phân tích thực trạng hoạt động nhập khẩu máy công cụ từ thị trường
Đức của công ty Cổ phần thương mại và dịch vụ thương mại A.P.E.C
3.3.1.Mở L/C
Trong các hợp đồng nhập khẩu, nếu 2 bên thỏa thuận thanh toán bằng phương
thức thanh toán tín dụng chứng từ thì công ty Cổ phần A.P.E.C có nghĩa vụ mở
L/C. Sau khi ký kết hợp đồng, công ty thường mở L/C tại ngân hàng Vietcombank.
Công ty thường không xin tài trợ từ phía ngân hàng nên bộ hồ sơ công ty phải nộp
cho ngân hàng để mở L/C bao gồm: 1 đơn xin mở L/C (theo mẫu có sẵn của ngân
hàng), 1 bản sao hợp đồng nhập khẩu và 2 ủy nhiệm chi. Các giấy tờ này được
chuyển thẳng đến phòng thanh toán quốc tế để mở L/C.
Sau khi ngân hàng phát hành L/C, ngân hàng sẽ gửi cho công ty cuống L/C trong
đó phản ánh các nội dung ghi trong đơn xin mở L/C. Công ty kiểm tra lại L/C có
phù hợp không. Nếu không chấp nhận thì đề nghị ngân hàng sửa lại. Nếu chấp nhận
thì ngân hàng sẽ gửi L/C cho đối tác xuất khẩu thông qua ngân hàng thông báo tại
Đức.
Sau khi L/C được người xuất khẩu chấp nhận, tiến hành giao hàng và gửi bộ
chứng từ cho ngân hàng Vietcombank. Khi đó ngân hàng sẽ kiểm tra bộ chứng từ
xem có phù hợp với L/C hay không. Nếu bộ chứng từ phù hợp, ngân hàng sẽ gửi
cho công ty hối phiếu để công ty ký chấp nhận cho người trả tiền cho người xuất
khẩu kèm theo bộ chứng từ. Nếu bộ chứng từ không phù hợp ngân hàng sẽ gửi cho
công ty 1 bản liệt kê các sai sót. Nếu công ty chấp nhận các sai sót đó thì chấp nhận
trưởng Tổng cục hải quan quy định. Sau đó người khai hải quan và nộp 1
bộ hồ sơ hải quan bao gồm:
+ tờ khai hàng hóa nhập khẩu (2 bản)
+ phụ lục tờ khai hàng hóa nhập khẩu
+ tờ khai trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu
+ hóa đơn thương mại
+ phiếu đóng gói hàng hóa
+ hợp đồng nhập khẩu
+ giấy phép nhập khẩu
+ vận đơn
+ giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Nhân viên hải quan tiến hành tiếp nhận hồ sơ hải quan. Bộ hồ sơ hải quan
sau khi đã đăng ký, không được bổ sung, sửa chữa và tẩy xóa trừ khi có
lý do chính đáng có công văn gửi đến cơ quan hải quan và được cho
phép. Sau đó chi cục hải quan Gia Lâm sẽ ra quyết định hình thức kiểm
tra đối với chủ đối tượng và đối tượng hải quan ngay sau khi đã đăng ký
tiếp nhận hồ sơ làm thủ tục hải quan.
3.3.4.Nhận hàng
Sau khi nhân viên của Hanoitrans làm xong thủ tục hải quan tại chi cục hải quan
Gia Lâm, Hanotrans sẽ tổ chức vận chuyển hàng hóa về giao cho công ty Cổ phần
A.P.E.C. Hai bên tiến hành giao nhận hàng hóa và chứng từ cũng như các giấy tờ
cần thiết. Công ty tiến hành nhận hàng về số lượng, quy cách bao gói, mã hiệu hàng
hóa Hanotrans cung cấp giấy biên nhận chứng từ trong đó ghi rõ các khoản chi
phí mà công ty phải trả cho các dịch vụ của Hanotrans, tài khoản ngân hàng, và
kèm theo các giấy tờ khác như: tờ khai hàng hóa nhập khẩu, phụ lục tờ khai hàng
hóa nhập khẩu, tờ khai trị giá thuế, biên lai thu lệ phí hải quan, hóa đơn gí trị gia
tăng. Hai bên ký và đóng dấu vào giấy biên nhận chứng từ.công ty tiến hành chuyển
tiền vào tài khoản ngân hàng của Hanotrans tại Vietcombank.
3.3.5.Kiểm tra hàng
Thực hiện hợp đồng nhập khẩu là một quy trình gồm nhiều công việc phức tạp,
khó khăn đòi hỏi các cán bộ ngoại thương phải có kiến thức sâu rộng về hoạt động
ngoại thương, nhạy bén nắm bắt thông tin về thị trường, pháp luật, đối tác, phải có
đủ năng lực và trình độ cũng như tinh thần trách nhiệm cao để hoàn thành có hiệu
quả công tác thực hiện hợp đồng nhập khẩu.
Qua quá trình tìm hiểu nghiên cứu, phân tích, xử lý và đánh giá thông tin về quản
trị quy trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu mặt hàng máy công cụ từ thị trường Đức
của công ty Cổ phần A.P.E.C, em nhận thấy công ty đã thu được nhiều thành tựu
đáng kể như:
- Thực hiện 100% hợp đồng đã ký kết. Khi hợp đồng nhập khẩu đã được ký
kết, công ty luôn lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát thực hiện hợp
đồng nhập khẩu một cách có hiệu quả nhất. Công ty thường thực hiện đúng
các nghĩa vụ của mình đã được quy định trong hợp đồng nhập khẩu.
- Số lượng các hợp đồng nhập khẩu của công ty với các đối tác Đức ngày càng
tăng lên qua các năm với trị giá lô hàng ngày càng lớn.
- Số lượng các hợp đồng có sai sót trong thực hiện hợp đồng nhập khẩu máy
công cụ từ thị trường Đức ngày càng giảm.
- Trình độ nghiệp vụ cũng như kinh nghiệm của cán bộ nhập khẩu trong công
ty ngày càng được nâng cao giúp thực hiện hiệu quả hợp đồng thương mại
quốc tế.
- Doanh thu, lợi nhuận của công ty ngày càng tăng. Điều đó đảm bảo nâng cao
đời sống cán bộ công nhân viên trong công ty, mua sắm trang thiết bị hiện đại
hỗ trợ các cá nhân, bộ phận hoàn thành tốt công việc được giao.
- Công ty đã thành lập cho mình một mạng lưới bạn hàng rộng khắp cả về
nguồn cung cấp đầu vào cũng như đầu ra cho hàng hóa.
- Uy tín của công ty ngày càng được khẳng định. Các sản phẩm, dịch vụ của
công ty ngày càng đem lại sự thỏa mãn, hài lòng của nhiều khách hàng trong
nước.
Bảng 3: Các hợp đồng nhập khẩu có sai sót của công ty Cổ phần A.P.E.C
khẩu từ thị trường Đức của công ty)
Trong quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu máy công cụ từ thị trường Đức
của công ty, bên cạnh 1 số thành tựu đạt được, công ty không tránh khỏi những
tồn tại và thiếu sót. Các nguyên nhân sai sót thường là: thanh toán bằng L/C, thủ
tục hải quan, giao nhận vận chuyển theo dõi bảng 4 ta thấy:
Về thanh toán bằng L/C.
Sai sót trong thanh toán bằng L/C chiếm tới 40% tổng số sai sót ( 2008) và giảm
xuống còn 37,5% (2009) và 25 % (2010). Tuy nhiên do cán bộ ngoại thương còn
thiếu kinh nghiệm, thiếu hiểu biết về phương thức thanh toán bằng L/C và nguồn
luật điều chỉnh L/C, quy trình thanh toán bằng L/C còn nhiều phức tạp trong khi
trình độ tiếng Anh còn hạn chế nên công ty thường mắc lỗi trong khâu này. Cụ thể
trong khâu mở L/C, cán bộ nghiệp vụ thường mắc những sai sót như: viết nhầm tên,
nhầm địa chỉ của đối tác nước ngoài trong đơn xin mở L/C gửi ngân hàng. Khi ngân
hàng mở L/C kiểm tra và phát hiện ra thì công ty phải chịu chi phí sửa đổi tại ngân
hàng Vietcombank là 20USD/lỗi. Những lỗi trên là khá phổ biến phần nhiều do cán
bộ ngoại thương nhầm lẫn và bất cẩn trong tác nghiệp.
Về thủ tục hải quan
Theo dõi bảng 4 ta thấy: lỗi do thủ tục hải quan đã giảm về số lượng nhưng tăng
về tỷ lệ. Cụ thể: các năm 2008, 2009,2010 tương ứng là: 2 (20%), 2 (25%), 1
(25%). Điề này là do lỗi do thủ tục hải quan gây nên giảm chậm hơn các nguyên
nhân khác. Do thủ tục hải quan ở các nước khác nhau là khác nhau, trình độ ngoại
ngữ của cán bộ nhập khẩu còn hạn chế cũng như sự phụ thuộc vào trình độ nghiệp
vụ của công ty Vinatrans trong trường hợp công ty thuê Vinatrans làm thủ tục hải
quan và nhiều lý do khác công ty không thể tránh khỏi các sai sót. Các lỗi hay mắc
phải như: áp mã số sai, tính sai thuế
Ngoài ra công ty thường thuê Vinatrans làm thủ tục hải quan nhưng công ty phải
chuẩn bị các chứng từ và giấy tờ cần thiết để giao cho nhân viên của Vinatrans làm
thủ tục hải quan nên cũng có khi phát sinh sai sót từ công tác chuẩn bị thiếu các
giấy tờ cần thiết đó.
Sau một thời gian thực tập và nghiên cứu tại công ty Cổ phần A.P.E.C về tình
hình kinh doanh nói chung và hoạt động quản trị quy trình thực hiện hợp đồng nhập
khẩu máy công cụ từ thị trường Đức nói riêng, đồng thời trên cơ sở dự báo xu
hướng phát triển của ngành hàng cũng như phương hướng hoạt động của công ty,
em xin đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn quy trình thực hiện hợp đồng
nhập khẩu máy công cụ từ thị trường Đức của công ty.
4.2.1. Về thanh toán
Thanh toán là một khâu rất quan trọng trong quy trình thực hiện hợp đồng. Để
thực hiện tốt việc thanh toán công ty cần lưu ý các giải pháp sau:
- Trong qua trình đàm phán ký kết hợp đồng, công ty cân thỏa thuận chọn ngân
hàng mở L/C là ngân hàng trong nước và có quan hệ tốt với công ty cũng như công
ty có tài khoản tại đó và điều này phải được quy định rõ vào hợp đồng nhập khẩu.
Đối với công ty Cổ phần thương mại và dịch vụ quốc tế A.P.E.C thì nên chọn ngân
hàng Vietcombank vì ngân hàng này có mối quan hệ thân thiết với công ty mà công
ty cũng có tài khoản tại đây vì vậy mức ký quỹ sẽ thấp hơn khi mở L/C tại ngân
hàng khác. Do đó công ty sẽ đỡ bị tồn đọng vốn. Tuy nhiên , công ty cũng cần mở
rông mối quan hệ với các ngân hàng khác có uy tín.
- Trong đàm phán nên cố gắng thương lượng với đối tác chọn mở L/C thay vì trả
ngay là trả chậm. Theo đó, công ty không phải thanh toán ngay khi nhận được bộ
chứng từ để đi nhận hàng hóa. Như vậy sẽ tận dụng được khoản tín dụng do người
xuất khẩu cấp vào các công việc kinh doanh khác.
- Cán bộ nghiệp vụ mở L/C cần là người hiểu biết, cẩn thận, có trình độ tiếng Anh
tốt, chuyên làm về L/C để tránh các lỗi nhỏ như viết sai tên đối tác, địa chỉ Điều
này thực sự cần thiết vì chỉ cần một lỗi nhỏ là công ty phải chịu chi phí sửa đổi 20
USD/lỗi tại ngân hàng Vietcombank.
- Công ty cần chuẩn bị kỹ lưỡng các giấy tờ cần thiết cho 1 bộ hồ sơ xin mở L/C.
Tránh trường hợp bị động trong mở L/C mà có thể gây ra những sai sót.
- Công ty không nên mở L/C quá sớm hoặc quá muộn so với thỏa thuận trong hợp
đồng. Công ty cần kiểm tra rõ độ tin cậy của nhà xuất khẩu trước khi mở L/C. Khi
huy động vốn như:
Huy động nguồn vốn trong nước
-Huy động vốn từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng: đây là nguồn cung cấp vốn
quan trọng cho các doanh nghiệp. Trong những năm gần đây, Nhà nước luôn tạo
điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế được vay vốn từ ngân
hàng. Vì vậy công ty cần giữ uy tín với ngân hàng trong thanh toán các khoản vốn
vay và phải đảm bảo các phương án kinh doanh khả thi.
- Công ty phải có biện pháp huy động vốn của các cán bộ công nhân viên trong
công ty bằng cách phát hành thêm cổ phiếu cho các đối tượng nhân viên trong công
ty, như vậy mỗi thành viên sẽ có trách nhiệm hơn với công ty.
- Tận dụng nguồn vốn của khách hàng trong nước thanh toán trả trước.
Huy động nguồn vốn nước ngoài
-Tận dụng các nguồn vốn của bạn hàng nước ngoài thông qua thanh toán trả chậm.
- Tìm đối tác nước ngoài để thực hiện liên doanh cùng chia sẻ quyền lợi.
4.2.4. Đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, hoạt động nhập khẩu hàng hóa có nhiều
biến động phức tạp, sự không thống nhất giữa luật của các quốc gia trên thế giới,
môi trường kinh doanh luôn thay đổi không ngừng Do đó, đòi hỏi cán bộ thực
hiện các tác nghiệp trong môi trường quốc tế phải có kiến thức, nhạy bén, năng
động Vì vậy, để đảm bảo cho mọi hoạt động của công ty nói chung và hoạt động
nhập khẩu nói riêng được trôi chảy, đạt hiệu quả cao thì công ty cần xây dựng cho
mình một đội ngũ cán bộ có chất lượng cao.
Trước hết phải xây dựng 1 quy trình tuyển dụng và đào tạo cán bộ hợp lý, bố trí
đúng người đúng việc, khai thác tối đa nguồn lực con người. Công ty cần tuyển
dụng những lao động có chất lượng, có kiến thức. Sau đó cần có kế hoạch bồi
dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ. Bên cạnh đó cần có những chính sách về
đãi ngộ nhân sự hợp lý để giữ chân người tài. Ngoài ra công ty cần tạo mọi điều
kiện phát triển cá nhân và môi trường thuận lợi cũng như văn hóa doanh nghiệp tạo
sự đoàn kết trong tập thể công ty.
đến hoạt động của công ty Cổ phần A.P.E.C nói riêng và tất cả các doanh nghiệp
Viêt Nam nói chung.
Nhà nước phải xem xét lại thuế suất giá trị gia tăng (VAT) đối với các mặt
hàng xuất nhập khẩu để tránh tình trạng thuế chồng lên thuế hiện nay. Hơn nữa Nhà
nước không nên lạm dụng thuế nhập khẩu vì thế sẽ kích thích nhập lậu. Áp dụng
mức thuế xuất nhập khẩu hợp lý cho các mặt hàng sẽ giúp tăng khả năng cạnh tranh
của hàng hóa của công ty Cổ phần A.P.E.C và các công ty xuất nhập khẩu khác.
Ngoài ra trong tình hình hội nhập hiện nay, Chúng ta đang tham gia vào một
sân chơi lớn của thế giới. Việc hoàn thiện về mọi mặt cho các chính sách, luật pháp
sao cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam và phù hợp với luật lệ của thế giới là
một điều rất cần thiết. Nó không những giúp cho các công ty Việt Nam tránh được
những thiệt thòi về lợi ích kinh tế khi giao dịch với đối tác nước ngoài. Mà con giúp
các công ty nước ngoài vào Việt Nam yên tâm hơn trong việc ký hợp đồng với các
doanh nghiệp Viêt Nam. Tránh được tình trạng họ không muốn chuyển giao những
công nghệ hiện đại cho các doanh nghiệp Việt Nam.
4.3.2. Đối với thủ tục hải quan
Các văn bản liên quan đến thủ tục hải quan của các cơ quan nhà nước khi ban
hành cần phải được áp dụng ngay, và không cần phải đợi văn bản hướng dẫn thi
hành của cấp trên. Hải quan cần cải tiến tờ khai hàng hoá xuất nhập khẩu cho từng
công ty cho phù hợp với hoạt động của công ty đó, theo hướng tạo điều kiện thuận
tiện cho việc khai báo và kiểm tra tính chính xác của việc khai báo của công ty
nhưng vẫn phải đảm bảo dễ theo dõi cho phía Hải quan.
Nhà nước nên có chính sách, khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia phát
triển công nghệ và phương tiện kỹ thuật tiên tiến để bảo đảm áp dụng phương pháp
quản lý hải quan hiện đại; khuyến khích tổ chức, cá nhân có hoạt động xuất nhập
khẩu tham gia xây dựng, thực hiện giao dịch điện tử và thủ tục hải quan điện tử.
Kiểm tra hải quan được thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, đánh giá việc
chấp hành pháp luật của chủ hàng, mức độ rủi ro về vi phạm pháp luật hải quan để
bảo đảm quản lý nhà nước về hải quan và không gây khó khăn cho hoạt động xuất
khẩu, nhập khẩu.