Vấn đề công bằng xã hội và trách nhiệm xã hội theo quan niệm của Ki-tô giáo - Pdf 25


VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN TRIẾT HỌC

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM QUỲNH TRANG
VẤN ĐỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
THEO QUAN NIỆM CỦA KI-TÔ GIÁO

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC


TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI THEO QUAN NIỆM
CỦA KI-TÔ GIÁO

Chuyờn ngành : Triết học
Mó số : 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐỖ LAN HIỀN HÀ NỘI - 2009 1
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

Chương 1. CÔNG BẰNG XÃ HỘI THEO KITÔ GIÁO 12
1.1. Tìm hiểu chung về đạo Kitô 12
1.2 Khái niệm chung về công bằng xã hội 18
1.3 Quan niệm của Kitô giáo về vấn đề công bằng xã hội 23

Chương 2. TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI THEO KITÔ GIÁO 49
2.1 Quan niệm về trách nhiệm xã hội 49

2 Pr
2 Phêrô
Đnl
Đệ nhị luật
Rm
Rôma
Ep
Êphêxô
1 Sm
Sách Samuen quyển 1
Ga
Gioan
2 Sm
Sách Samuen quyển 2
Gl
Gala
St
Sáng thế
Hc
Huấn ca
Tb
Tôbia
Kh
Khải huyền
1 Tx
Thêxalônica 1
Kn
Khôn ngoan
Xh
Xuất hành

năng, uy thế, và sự sáng tạo vô biên của chính mình, có lối sống duy vật, đam
mê hưởng thụ vật chất hơn. Song, khi cuộc sống bị lệ thuộc quá nhiều vào kỹ
thuật, con người vì đã quá quen với những tiện nghi hiện đại, thích dùng
những phương tiện máy móc hơn cơ bắp… sẽ dẫn đến chỗ con người mất đi
sự nhạy cảm, sức “đề kháng” với môi trường bên ngoài, với sự biến đổi của tự
nhiên, của khí hậu. Cách mạng khoa học kỹ thuật cũng đã phá hỏng sự hài
hoà của thiên nhiên, dẫn đến con người hiện đại đang trong nguy cơ phải “đối
đầu” và chịu sự thách thức của thiên nhiên.
Thêm nữa, tham vọng của con người là vô hạn mà thiên nhiên là hữu
hạn, lấy cái hữu hạn để thoả mãn cái vô hạn tức là đã chặn ngay con đường
sống của chính mình, nguy cơ của sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và sự
huỷ diệt toàn cầu về môi sinh là điều hoàn toàn có thể xảy ra.
Thời đại toàn cầu hóa mà C.Mác đã nhìn thấy từ những năm cuối của
thế kỉ thứ XIX, khi Mác nhận định: "Ðại công nghiệp đã tạo ra thị trường thế
giới, thay cho tình trạng cô lập trước kia của các địa phương, dân tộc vẫn tự
cung tự cấp, ta thấy phát triển những mối quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ
biến của các dân tộc" [39; tr. 602] dẫn tới nguy cơ của sự bất bình đẳng, sự
bất công và áp bức trong một dân tộc và giữa các dân tộc.
Quá trình toàn cầu hóa một mặt đã mang lại cho các Quốc gia dân tộc
những cơ hội chưa từng có, để phát triển kinh tế và nâng cao đời sống cho con
người, mặt khác đã hàm chứa trong nó những nguy cơ loại trừ và nẩy sinh
nhiều vấn đề xã hội, đặt các quốc gia dân tộc trước những thách thức mới: sự
phân tầng xã hội ngày càng sâu sắc, vấn đề bất bình đẳng, bất công xã hội, 4
vấn đề cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và nạn ô nhiễm môi trường, vấn đề
khủng bố và tội phạm quốc tế…Đặc biệt, trong bối cảnh khủng hoảng ấy thì
vấn đề Công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội trở thành vấn đề nổi cộm hơn
bao giờ hết.

tín đồ đông nhất là Phật giáo và Công giáo) có ảnh hưởng sâu đậm nhất đến
đời sống, tinh thần xã hội. Trong đó Công giáo với hơn bốn thế kỷ hiện diện,
đã ít nhiều có ảnh hưởng, tác động đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.
Hiện nay, trên tinh thần đổi mới nhận thức về tôn giáo, Đảng và Nhà
nước ta đã nhận định tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân, trong tôn
giáo có những giá trị tốt đẹp về cả đạo đức và văn hóa. Các giáo lý tôn giáo
đều chứa đựng một số giá trị góp phần xây dựng nền đạo đức mới và văn hóa
mới cho con người việt Nam hiện nay.
Với những lí do nêu trên, tôi chọn đề tài “Vấn đề công bằng xã hội và
trách nhiệm xã hội theo quan niệm của Kitô giáo” làm đề tài nghiên cứu cho
Luận văn Thạc sĩ triết học của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong bối cảnh hiện nay, khi nền kinh tế thế giới đang trên đà phát triển
như vũ bão, và đang bước vào thời kì phát triển cực thịnh thì một số quốc gia
đã bắt đầu quan tâm đến vấn đề phát triển bền vững. Một xã hội phát triển thật
sự phải là một xã hội “công bằng, dân chủ, và văn minh” trong đó con người
ý thức được trách nhiệm xã hội của mình, chính vì thế mà đã có nhiều công
trình nghiên cứu về vấn đề công bằng xã hội và vấn đề trách nhiệm xã hội,
đây cũng là chủ đề chính được đưa ra tại các hội thảo, các diễn đàn trong
những năm gần đây.
Từ thập niên 70 của thế kỉ XX, Đại hội Giám mục thế giới, họp tại
Roma từ 30.09 đến 06.11.1972 cũng đã đề cập đến 2 vấn đề lớn, trong đó vấn
đề công bình trên thế giới được đặc biệt quan tâm và được đánh giá là một đề 6
tài quan trọng, quan trọng hơn cả đề tài chức vụ linh mục. Ngay phần giới
thiệu cuốn “Công bình trên thế giới”, Đại hội Giám mục đã khẳng định “chức
vụ linh mục tuy là một vấn đề đang làm sôi nổi dư luận nhưng là vấn đề nội
bộ của giáo hội Công giáo, công bình trên thế giới mới là vấn đề chung của

ra một bản văn đầy đủ về các vấn đề xã hội để công bố đến toàn thể mọi
người trong và ngoài đạo, tác phẩm bao quát toàn bộ những vấn đề xã hội cả
kinh tế, chính trị, và văn hóa dưới nhãn quan của Giáo hội, ẩn sau đó là những
giá trị đạo đức, và tình yêu thương, nhằm khơi dậy tinh thần trách nhiệm và
lương tâm của con người, để hướng đến một xã hội công bằng và một nền văn
minh đúng nghĩa, càng ngày càng chú ý tới sự phát triển toàn diện của con
người. “Học thuyết xã hội của Hội thánh đề ra những nguyên tắc suy tư,
những tiêu chuẩn phán đoán, những đường hướng hành động” (CA 24)
Nhưng cũng vì là một tập sách chứa đựng nhiều nội dung, nhiều khía cạnh,
khá phong phú và đa dạng lại muốn chuyển tải nhiều thông điệp cho nên các
vấn đề trong tập sách chủ yếu được trình bày dưới hình thức là những luận
điểm, vấn đề công bằng xã hội và trách nhiệm xã hội chưa được nêu ra một
cách rõ ràng và chưa được đi sâu phân tích.
Tạp chí Công giáo và Dân tộc- một diễn đàn khoa học của giới trí thức
Công giáo cũng đã đăng tải một số bài tiêu biểu về vấn đề công bằng và trách
nhiệm xã hội như: bài “Công bằng xã hội,trách nhiệm xã hội, đoàn kết xã hội
và liên đới xã hội” của Vương Đình Chữ; “Công bằng xã hội, trách nhiệm xã
hội và đoàn kết xã hội trong việc dấn thân xã hội của giáo hội” của Hồng y
Keith Patrich Oobrien; “Xây dựng xã hội công bằng theo học thuyết xã hội
Công giáo” của ĐGM. PhaoLo Bùi Văn Đọc, bài viết “Công bằng xã hội con
đường đi tới đó” của Mai Thanh Hải…
Trong các bài viết trên, các tác giả cũng đã làm sáng tỏ khái niệm Công
bằng xã hội, trên cơ sở thực trạng xã hội Việt Nam hiện nay, các tác giả đã 8
đưa ra những lời giải đáp cho việc xây dựng một xã hội công bằng. Tuy
nhiên, phạm trù trách nhiệm xã hội và công bằng xã hội mặc dù được đề cập
đến dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng theo quan niệm của Kitô giáo thì vấn
đề này mới chỉ được nghiên cứu một cách sơ lược và chủ yếu dưới nhãn quan

xã hội cần có sự bình quyền giữa người nam và người nữ… Linh mục
Nguyễn Hồng Giáo đi vào nghiên cứu công bằng và bình đẳng ở khía cạnh
“Nhân phẩm và Nhân quyền trong học thuyết xã hội của Giáo hội”…
Tóm lại, vấn đề Công bằng và Trách nhiện xã hội nói chung và theo
Kitô giáo nói riêng càng ngày càng được đăng tải nhiều hơn trên các sách báo
dưới dạng các bài viết, các bài tham luận tại các hội thảo và một số luận án đã
được in thành sách…
Tuy nhiên tất cả các bài viết, các công trình nghiên cứu, các hội thảo
khoa học đó mới chỉ dừng lại ở những vấn đề chung, chưa đi vào nghiên cứu
cụ thể và toàn diện về vấn đề công bằng xã hội và trách nhiệm xã hội theo
quan niệm của Kitô giáo từ góc nhìn triết học. Chính vì vậy, tôi đã chọn
nghiên cứu vấn đề này làm đề tài cho luận văn thạc sĩ triết học của mình.
Khi đi vào nghiên cứu vấn đề công bằng xã hội và trách nhiệm xã hội
theo quan niệm của Kitô giáo, tôi cũng gặp phải một số khó khăn:
Thứ nhất: Công bằng xã hội và trách nhiệm xã hội là vấn đề được
nhiều người quan tâm, nhưng vì là một đề tài mới, do đó nguồn tài liệu còn
vô cùng hạn hẹp.
Đặc biệt, tôi lại chọn nghiên cứu vấn đề công bằng và trách nhiệm xã
hội trong Thánh Kinh Kitô giáo - một bản văn có từ lâu đời, ngôn ngữ và tâm
thức có nhiều điểm khác biệt với chúng ta ngày nay. Và điều có thể khẳng
định ngay, chúng ta không hy vọng có thể tìm thấy tư tưởng về sự công bằng
và trách nhiệm xã hội rõ ràng như một định nghĩa, hay một khái niệm. Muốn
hiểu được Thánh kinh, phải vượt lên nghĩa đen, tìm nghĩa bóng, vượt lên cá 10
biệt tính và não trạng Do Thái, tìm trong Kinh thánh những tư tưởng về sự
công bằng và trách nhiệm xã hội qua những ẩn dụ, những lời tiên tri, dụ
ngôn, những lời răn của Chúa…
Thứ hai, Công giáo là một tôn giáo, có thể nói không mấy tương thích

diện triết học.
- Luận văn cũng nêu lên một số những kiến giải riêng của tôi đối với
vấn đề công bằng và trách nhiệm xã hội.
- Kết quả của luận văn cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo, nghiên
cứu và giảng dạy tôn giáo học và lịch sử triết học.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lí luận: kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nhỏ bé vào
những thành tựu khoa học nghiên cứu về lịch sử triết học nói chung và tôn
giáo học nói riêng, nhằm giải quyết tốt những vấn đề của thực tiễn.
- Ý nghĩa thực tiễn: Việc làm rõ vấn đề công bằng xã hội và trách
nhiệm xã hội theo quan niệm của Kitô giáo góp phần hình thành ý thức về
công bằng và trách nhiệm để con người tự giác thực hiện nó trong quá trình
xây dựng một xã hội tiến bộ, văn minh.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo luận văn
có nội dung gồm 2 chương và 5 tiết.
12
Chương 1
CÔNG BẰNG XÃ HỘI THEO KITÔ GIÁO
1.1. Tìm hiểu chung về đạo Kitô
Kitô giáo xuất hiện vào thế kỉ thứ I sau công nguyên ở vùng Palextin,
(thuộc về vùng Trung cận Đông ngày nay). Đạo Kitô ra đời trên cơ sở của đạo
Do Thái “và như một sự khai hoa đối với truyền thống đó” [28; tr. 9]… Người
Do Thái là một dân tộc ở phương Đông, có những đặc điểm tâm lí và văn hóa
của người phương Đông, cho nên khi đạo Kitô mới ra đời cũng mang mầu sắc
phương Đông rõ rệt.
Cho đến đầu công nguyên, người La Mã vẫn sùng bái đa thần, từ năm

về giáo lý và lễ nghi, còn tiềm ẩn những quan hệ trần tục sâu sắc, dẫn đến
hình thành hai đế quốc là phương Tây và phương Đông. Cùng với nó, Kitô
giáo đã tách ra thành hai giáo hội Tây - Đông. Ban đầu, hai Giáo hội này có
chung một tín điều, lấy Rô-ma làm trung tâm, nhưng do mâu thuẫn nảy sinh
trong nội bộ hai Giáo hội ngày càng gay gắt, nên từ năm 974- 1054 thì phân
chia hẳn.
Từ sau thế kỷ thứ XI, Kitô giáo phân li thành hai giáo phái chính:
Catholic (Công giáo -nghĩa là “chung cho tất cả”) ở phía Tây, lấy Rô-Ma làm
trung tâm- gọi là Công giáo La Mã; Orthodoxe (Chính thống giáo) ở phía
Đông lấy Constantinople làm trung tâm nên còn gọi là Đông Chính giáo.
Đến năm 1520, cùng với sự phát triển của giai cấp tư sản, phong trào
cải cách tôn giáo do mục sư M. Luther người Đức cầm đầu, đã dẫn đến việc
tách từ khối Công giáo La Mã ra một dòng mới là Tin lành giáo. Có ba danh
từ dùng để chỉ đạo Tin lành: Protestantism (nghĩa là Thệ phản), Evangelism
(Phúc âm), Reformism (Cải cách). Đạo Tin Lành chịu ảnh hưởng đậm nét của
tư tưởng dân chủ tư sản và khuynh hướng tự do cá nhân, vì không thừa nhận 14
quyền lực của tòa thánh và cộng đồng chung mà đạo tin lành bị những người
Công giáo gọi là Protestantism - muốn ám chỉ những tín đồ có tư tưởng phản
lại Phúc Âm, phản lại Giáo lý của đạo Công giáo. Còn những người Tin Lành
thích gọi mình là Reformism, tức là, Đạo cải cách, nguyên từ Evangelism-
nghĩa là Tin Lành, Tin mừng, ngụ ý là tín đồ đọc và tìm hiểu Tin mừng trực
tiếp, không phải qua lời giảng giải của giáo quyền La-mã.
Ba giáo phái mới ra đời mặc dù hoạt động riêng rẽ, nhưng đều thờ đức
chúa trời và lấy Giê-su Kitô làm vị thánh tối cao, thừa nhận Cựu ước và Tân
ước là kinh điển chính thức của tôn giáo mình, còn các bản văn khác như
Giáo lí, Giáo luật thì có khác nhau. Như vậy, nói đến Kitô giáo cũng có nghĩa
là nói đến đạo Công giáo, có giáo hội trung tâm là Rô- ma ngày nay.

mọi giáo điều cần cho nhận thức của con người không trừ điều nào, và thêm
nữa vì Giáo hội đem lại sự phụng thờ chân chính cho toàn nhân loại, từ bậc
vương giả đến hàng thứ dân, từ người thông thái đến kẻ dốt nát. Thứ nữa,
Catholic dùng để chỉ những người Cơ Đốc giáo thừa nhận quyền uy của Giáo
hội do giám mục Rô-ma tức Giáo hoàng đứng đầu, để phân biệt họ với tất cả
các người Cơ đốc giáo không thừa nhận quyền uy của Giáo hội này. Chính là
căn cứ vào nghĩa sau mà người ta đối lập đạo Thiên Chúa với đạo Tin lành.
Do nhu cầu mở rộng nước Chúa của đạo Công giáo sang khu vực
phương Đông, Giáo hội toàn cầu đã phát động phong trào truyền giáo và gửi
các thừa sai đi khắp nơi. Các giáo sĩ đầu tiên đặt chân đến Việt Nam vào thế
kỉ XVI đầu XVII, theo các tàu buôn của người Bồ Đào Nha tìm kiếm thị
trường mới. Như vậy, ngay từ buổi đầu, các giáo sĩ và các thương gia nước
ngoài đã câu kết chặt chẽ với nhau trên cơ sở hợp tác cùng có lợi. Lúc đầu các
thương gia và giáo sĩ khi đặt chân đến Việt Nam đêu tuân thủ rất nghiêm 16
chỉnh các quy định của triều đình phong kiến Việt Nam, và về phía mình, cả
triều đình phong kiến và người dân Việt Nam đều rất niềm nở đón tiếp họ.
Tuy nhiên, thế kỷ XVII - XVIII, chủ nghĩa thực dân trên thế giới ngày
càng phát triển và muốn mở mang thế lực của mình, nên dần dần, từ ngoại
thương đã mở rộng sang lĩnh vực chính trị, sự câu kết giữa giáo hội và các
cường quốc tư bản phương Tây là một tất yếu của quá trình phát triển của chủ
nghĩa tư bản và văn minh phương Tây lúc bấy giờ.
Vào thời điểm đó, tình hình chính trị ở Việt Nam ngày càng phức tạp,
cuộc nội chiến Trịnh - Nguyễn kéo dài mấy thế kỷ, cả hai chúa Trịnh -
Nguyễn đều muốn lợi dụng tầu buôn của nước ngoài để mua vũ khí chống lại
nhau, nên các tàu buôn nước ngoài dễ dàng cập bến vào Việt Nam, và trên các
tàu buôn ấy bao giờ cũng có các giáo sĩ đi theo để truyền đạo.
Sau này, dưới thời Nguyễn Ánh, đạo Kitô có nhiều thuận lợi để phát

gồm 27 quyển, với 3 mảng đề tài: Lịch sử - kể về cuộc đời và những việc làm
cũng như những lời răn dạy, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giê-su; Phần
Thánh thư do các thánh Tông Đồ viết giảng giải về tín lí và luân lý, về hoạt động
truyền bá giáo lý; sách khải huyền bao gồm những lá thư viết cho bẩy hội thánh
và những bài tiên tri về sự ngự trị của Đức Giê-su trên thế giới.
Nghiên cứu và chú giải Kinh Thánh không còn là một đề tài mới mẻ,
nhưng nó luôn là một “miếng đất bỏ ngỏ” với nhiều cách giải thích khác
nhau. Đây là một lĩnh vực khó không chỉ đối với học giả ngoài Kitô giáo, mà
đối với cả chính các giáo sĩ và giới trí thức Công giáo, vì Kinh thánh là một
bản văn viết từ nhiều thế kỷ trước, việc giải thích nó như thế nào, Kinh Thánh
muốn nói gì ở chính thời điểm mà nó được biên soạn là rất khó khăn. Hơn
nữa, đọc Kinh Thánh, chúng ta cảm nhận thấy ngôn từ và tâm thức trong kinh
thánh có phần xa lạ đối với chúng ta. Mặc dù các nhà thần học luôn tìm cách
giải thích rằng, Thánh Kinh khi truyền giảng không dùng ngôn ngữ của triết 18
học, khoa học, mà dùng ngôn ngữ thánh linh, và thánh Phao- lô cũng đã tững
lưu ý rằng: giải thích điều thuộc linh phải bằng ngôn ngữ thuộc linh.
Đến nay Kinh Thánh đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới,
và được xem là di sản tinh thần chung của nhân loại, ở đó có những triết lí
đạo đức, nhân sinh, có nhiều vấn đề mà ngày nay chúng ta cần quan tâm
nghiên cứu.
1.2 Khái niệm chung về công bằng xã hội
Lẽ công bằng, bình đẳng đã được đề cập đến và đặt ra từ lâu trong lịch
sử xã hội loài người, ngay từ khi con người nhận thấy những bất công tồn tại
và ngày càng diễn ra sâu sắc trong lòng xã hội mà họ đang sống.
Trước hết, công bằng và bình đẳng giống và khác nhau như thế nào?
Và trong lịch sử xã hội loài người đã từng quan niệm như thế nào về vấn đề
“công bằng”, “bình đẳng”.

quan của đời sống xã hội, mà chỉ dựa trên những thỏa thuận mang tính chủ
quan của con người.
Triết gia Immanuel Kant (1724-1804) quan niệm rằng, sự xuất hiện xã
hội kéo theo sự hình thành con người xã hội, đó chính là một bước ngoặt lớn
trong lịch sử nhân loại. Nhưng cũng từ đó làm phát sinh nhiều mâu thuẫn xã
hội mà hạt nhân là tính đối kháng. Để loại bỏ được tính đối kháng sinh ra từ
những mâu thuẫn bất công trong xã hội, con người cần phải thiết lập một xã
hội công dân pháp quyền phổ biến, trong đó các thành viên có thể dành được
tự do trên cơ sở phải tôn trọng quyền tự do của người khác. Chỉ trong một xã
hội như vây mới có thể đạt tới mục đích tối cao của tự nhiên là phát triển mọi
tư chất bẩm sinh vốn có ở con người. Đây chính là bản chất đạo đức thể hiện
tinh thần công lý mà Kant đã đề cập đến. Mặc dù vậy, Kant đã biến tất cả
thành những quy định thuần túy của “ý chí tự do”, của ý chí tự nó và vì nó, và 20
do đó biến ý chí ấy thành những quy định khái niệm thuần túy về mặt tư
tưởng và những định đề về mặt đạo đức.
Như vậy, từ Platon, Arixtot, qua các nhà khai sáng thế kỷ XVII- XVIII
cho đến Kant đã đưa ra không ít những lí giải khác nhau về công bằng xã hội,
nhưng vẫn chưa đưa ra được một kết luận cuối cùng và hợp lí về công bằng
xã hội. Nhìn chung, tất cả đều thừa nhận sự khác biệt, bất bình đẳng về giai
cấp và chưa lí giải được nguồn gốc sâu xa của những bất công xã hội.
Các nhà kinh điển Mác – Lênin đã đặt nền móng cho quan niệm duy vật
lịch sử về công bằng xã hội. Để đạt được công bằng trong xã hội, chúng ta phải
xóa bỏ được quan hệ người bóc lột người, đồng thời từng bước tiến tới xóa bỏ
sự khác biệt giữa thành thị với nông thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân
tay… mục đích cuối cùng là đạt được tính đồng nhất xã hội, tiến tới đạt được
sự công bằng toàn diện, đặc biệt trong việc phân phối của cải xã hội.
Chủ nghĩa Mác đã nhận định rằng, nội dung các khái niệm công bằng

có sự tương xứng trong những quan hệ ấy là bất công.
Trong một nghiên cứu khác, người ta đã khái quát: “Công bằng xã hội
là một phạm trù xã hội dùng để chỉ trình độ phát triển về phương diện xã hội
của con người (cá nhân và cộng đồng), được thực hiện và thể hiện trên tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội như: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tinh
thần, mà trước hết là lĩnh vực xã hội. Nó phản ánh mối quan hệ về nghĩa vụ
và quyền lợi giữa xã hội và cá nhân, nhằm đảm bảo sự phát triển hài hòa của
con người, của xã hội phù hợp với xu thế và tiến bộ xã hội. Công bằng xã hội
vừa là khát vọng của con người, vừa là động lực, là mục tiêu của sự phát triển
xã hội, của cách mạng xã hội chủ nghĩa, của sự nghiệp đổi mới theo định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta” [45; tr. 37] 22
Công bằng xã hội chính là sự ngang bằng nhau trong mối quan hệ giữa
người với người, dựa trên nguyên tắc thống nhất giữa nghĩa vụ và quyền lợi,
giữa cống hiến và hưởng thụ. Việc thực hiện công bằng xã hội còn là sự ứng
xử một cách hợp lí nhằm điều tiết mối quan hệ xã hội giữa các cá nhân, và
cộng đồng, trong quá trình tìm kiếm lợi ích. Để đạt được sự công bằng con
người phải có nghĩa vụ, trách nhiệm thực hiện những việc làm mang lại lợi
ích cho xã hội và mang lại lợi ích cho chính cá nhân mình. Công bằng xã hội
có mối quan hệ mật thiết với tăng trưởng kinh tế, mặc dù công bằng được
thực hiện trên mọi phương diện của xã hội, nhưng quan trọng nhất vẫn là
trong lĩnh vực kinh tế bởi vì không thể có một xã hội công bằng nếu không có
một nền kinh tế phát triển đảm bảo cho lợi ích của mọi người, cơ sở để xóa bỏ
bất công xã hội.
Công bằng xã hội cũng là một khái niệm, một tiêu chuẩn mang tính đạo
đức vì đó là lý tưởng, mục đích mà nhân loại đang cố gắng để đạt được, là
điều kiện tiên quyết để xây dựng một xã hội văn minh và giàu có.
Công bằng là khái niệm mang tính lịch sử, tính giai cấp và được quy

cho phép. Của cải xã hội làm ra ngày càng nhiều, nhưng con người vẫn bất
lực trong việc đảm bảo phân phối công bằng cho mọi người. Các chính sách
xã hội, cách mạng cho đến nay vẫn chưa giải quyết được vấn đề bạo lực và sự
biến động của xã hội. Dường như các giải pháp ấy lại đẩy con người từ trạng
thái bất công này sang trạng thái bất công khác.
Vậy, chúng ta có thể tham khảo các “lối thoát” về luân lý, đạo đức
trong việc giải quyết vấn đề “Công bằng xã hội” ở một tôn giáo đã từng có
ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống văn hoá của châu Âu nhiều thế kỷ qua -
đó là Kitô giáo.

Trích đoạn Trách nhiệm của con người đối với những vấn đề về môi trường Trách nhiệm của con người đối với gia đình và với chính mình
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status