Giáo dục nhân cách cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn huyện Đông Anh hiện nay - Pdf 25

119

Đại học quốc gia Hà Nội
trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị Nguyễn Đức Bình
Giáo dục nhân cách cho học sinh
trung học phổ thông trên địa bàn huyện Đông Anh
hiện nay

Luận văn thạc sĩ Triết học


Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Đoàn Quang Thọ

Hà Nội - 2006 1

Mục lục
Mở đầu 3
Chương 1. Nhân cách và vai trò của giáo dục nhân cách cho học sinh trung
học phổ thông trong điều kiện hiện nay 7
1.1. Nhân cách và những nhân tố tác động đến sự hình thành và phát
triển nhân cách học sinh trung học phổ thông trong điều kiện hiện
nay 7
1.2. Giáo dục nhân cách học sinh trung học phổ thông - vai trò, nội
dung, phương thức giáo dục nhân cách trong điều kiện hiện nay 33
Chương 2. Thực trạng và những vấn đề đặt ra của việc giáo dục nhân cách
cho học sinh trung học phổ thông Đông Anh hiện nay 46
2.1. Khái lược về tình hình kinh tế, văn hóa xã hội huyện Đông Anh. 46
2.2.Thực trạng giáo dục nhân cách cho học sinh trung học phổ thông ở
Đông Anh hiện nay 51
2.3. Những vấn đề đặt ra. 72
Chương 3. Những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục nhân
cách cho học sinh trung học phổ thông ở Đông Anh hiện nay 80
3.1. Nâng cao vai trò lãnh đạo của đảng và chính quyền các cấp đối với
việc giáo dục nhân cách 80
3.2. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho mọi người về việc giáo dục

IX, Đảng ta đã xác định “Bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê
hương, gia đình và tự tôn dân tộc, lí tưởng XHCN, lòng nhân ái, ý thức tôn
trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu
nghèo hèn” là phẩm chất của thế hệ trẻ ngày nay. Trong thành tựu chung
của công cuộc đổi mới, chúng ta vui mừng thấy có sự đóng góp to lớn của
nền giáo dục nước nhà. Phần lớn thanh niên năng động phấn đấu vươn lên,
vượt qua thử thách, đua tranh, tự chịu trách nhiệm với bản thân, lao vào học
tập rèn luyện lập nghiệp. Tuy nhiên cũng từ khi chúng ta thực hiện nền kinh
tế vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng XHCN thì trật tự giá trị trong phần lớn nhân dân bị thay đổi, đặc biệt
là thế hệ trẻ, như Nghị quyết TƯ2 khoá VIII đã nhận định: Một bộ phận học
sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, có lối
sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp, có lối sống thụ động
trông chờ. Qua thực tế cho thấy lối sống của học sinh hiện nay đang có xu
hướng coi nặng các giá trị vật chất, kinh tế, coi nhẹ các giá trị tinh thần xã
hội, con người sẵn sàng hy sinh chuyển sang con người hướng vào lợi ích cá
nhân.
Thực trạng trên, trách nhiệm một phần thuộc về ngành giáo dục - đào
tạo. Chúng ta phải thừa nhận rằng trong những năm qua nền giáo dục nước
ta có phần thiên về “dạy chữ”, ít chú ý đến “dạy người”, hoặc phương thức
“dạy người” chủ yếu nặng về lí thuyết truyền đạt, bắt học sinh phải theo một
“mẫu” có sẵn, mà chưa chú ý đến các phương thức giáo dục tích cực chủ
động nhằm tạo nên động cơ, mục đích bên trong từ đó phát huy quá trình
4

hình thành nhân cách một cách tự giác trong học sinh. Trong khi đó chúng
ta biết rằng 3 mục tiêu: Dân trí, nhân lực, nhân tài của giáo dục - đào tạo chỉ
có thể đạt được trên một cơ sở chung là nhân cách. Chính vì thế mà giáo dục
nhân cách cho học sinh, đặc biệt là học sinh THPT - đối tượng chuẩn bị trở
thành chủ thể của xã hội - là vấn đề mang tính cấp thiết hơn lúc nào hết.

công nghiệp hoá cao (như Đông Anh) thì chưa có một đề tài nào nghiên
cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích của luận văn
- Làm rõ những yêu cầu cơ bản đối với nhân cách học sinh THPT
hiện nay và vai trò của việc giáo dục nhân cách cho học sinh trong điều kiện
kinh tế thị trường.
- Trên cơ sở làm rõ thực trạng giáo dục nhân cách cho học sinh hiện
nay, từ đó luận văn đề ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả
giáo dục nhân cách cho học sinh trong điều kiện hiện nay.
* Nhiệm vụ của luận văn
- Nghiên cứu làm rõ khái niệm nhân cách và vai trò của việc giáo dục
nhân cách cho học sinh THPT trong điều kiện hiện nay.
- Nghiên cứu thực trạng và nguyên nhân của việc giáo dục nhân cách
cho học sinh THPT ở Đông Anh hiện nay.
- Nghiên cứu đề ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả
giáo dục nhân cách cho học sinh THPT ở Đông Anh hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn này được nghiên cứu trên tình hình thực tế học sinh của các
trường Phổ thông trên địa bàn huyện Đông Anh - Hà Nội.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục.
6

- Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là phương
pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử với phương pháp điều tra xã hội
học, thống kê và phân tích, đánh giá.
6. Đóng góp của luận văn
- Góp phần làm rõ những yêu cầu đối và vai trò của việc giáo dục

nào các mặt nạ đó trùng với "Cái tôi" bên trong thì nhân cách phát triển đến
độ chín muồi. Cho đến nay, khái niệm nhân cách đã được đề cấp đến ở rất
nhiều góc độ khác nhau.
Có quan điểm cho bản chất nhân cách là thuộc tính sinh vật, hay nói
cách khác là sinh vật hoá bản chất nhân cách. Nhân cách được coi là bản
năng tình dục (S.Freud), là đặc điểm của hình thể (Krestchmer), siêu đẳng,
bù trừ (A.Adler) vô thức tập thể (Kaal Jung), là các kiểu hoạt động thần kinh
cao cấp của người (một số nhà tâm lý học quá sùng bái học thuyết Pavlov).
Thực chất của các quan điểm trên dù hình thức biểu hiện ở mỗi người có
8

khác nhau nhưng đều sinh vật hoá bản chất nhân cách, đều mang quan điểm
duy tâm siêu hình.
Có quan điểm cho rằng bản chất nhân cách là nhân tính con người
(trường phái nhân văn và đại diện là: C.Rogers, R.May, A.Maslow, G.
Allport, Ch.Buhlerova, J.Bugental, A.Sutich, C.Moustakas ). Những người
ở trường phái này đều quan tâm đến giá trị tiềm năng bẩm sinh của con
người, đến những đặc tính riêng của mỗi người, những kinh nghiệm của con
người. A.Maslow cho rằng tính xã hội nằm trong bản năng con người.
Những nhu cầu như giao tiếp, tình yêu, lòng kính trọng đều có tính chất bản
năng, đặc trưng cho giống người. Nhân cách là động cơ tự động điều hành
(G. Allport), là nhu cầu (A.Muarray), là tương tác xã hội (G.H.Mead), là lo
lắng (K.Hornej). Những quan điểm này đều đề cao tính chất tự nhiên sinh
vật của con người, phủ nhận bản chất xã hội của nhân cách, do đó cũng rơi
vào chủ nghĩa duy tâm.
Có quan điểm cho rằng nhân cách được hiểu như là toàn bộ mối quan
hệ xã hội của cá nhân (Lucien Seve, Zeigarnite, Ogorodnikov). Trong thực
tế của đời sống, một số người lấy quan hệ xã hội của cá nhân (gia đình, nhà
trường, cơ quan công tác, nghề nghiệp, bạn bè) làm chuẩn để đánh giá nhân
cách. Về thực chất của quan điểm này là xã hội hoá nhân cách một cách đơn

chung có nhược điểm là quy nhân cách về tâm lý học, là biểu hiện của chủ
nghĩa duy vật y học trong quan niệm nhân cách mà Lucien Seve đã phê
phán.
ở Việt Nam, theo từ điển tiếng Việt nhân cách được hiểu là những
phẩm chất con người. Tuy nhiên, trên thực tế cách hiểu của người Việt Nam
về nhân cách có thể theo các mặt sau đây:
- Nhân cách được hiểu là con người có đức và tài hay là tính cách và
năng lực, hoặc là con người có phẩm chất: đức, trí, thể, mỹ, lao (lao động).
- Nhân cách được hiểu như các phẩm chất và năng lực của con người.
10

- Nhân cách được hiểu như các phẩm chất của con người mới: làm
chủ, yêu nước, tinh thần quốc tế vô sản, tinh thần lao động.
- Nhân cách được hiểu như mặt đạo đức, giá trị làm người của con
người.
Như vậy, khái niệm nhân cách thường gắn liền với khái niệm con
người (ít nói đến cá nhân). Những phẩm chất nhân cách đó là những phẩm
chất đòi hỏi ở mỗi người phải có.
Ngày nay, với sự phát triển của khoa học xã hội và nhân văn, vấn đề
nhân cách càng nổi lên với những công trình nghiên cứu đồ sộ. Có thể nói,
không một lĩnh vực khoa học nào có đủ khả năng và điều kiện để nghiên
cứu nhân cách một cách độc lập và biệt lập. Trong số hàng trăm định nghĩa
về nhân cách khó có thể tìm được một định nghĩa có tính phổ quát nói lên
được hoàn toàn đầy đủ các tố chất hợp thành khái niệm nhân cách. Mỗi
ngành khoa học: Tâm lý học, Xã hội học, Đạo đức học, Luật học, Văn hoá
học đều đã chọn một mặt, một phương diện nào đó của nhân cách và lấy
đó làm đối tượng phân tích khoa học của mình. Điều này lý giải tại sao lại
có nhiều định nghĩa nhân cách và vì sao có những sự khác nhau nhất định
giữa các quan niệm ấy.
Tuy nhiên có thể nhận thấy rằng các quan điểm về nhân cách của các

hội hòa quyện vào nhau. Đối với sự phát triển nhân cách, yếu tố di truyền và
tâm sinh lý là cơ sở sinh vật, là điều kiện tự nhiên mà trên cơ sở đó hình
thành những đặc điểm lịch sử - xã hội của con người.
Mặt khác, nhân cách là nhân cách của từng cá nhân cụ thể có quan hệ
mật thiết với điều kiện tự nhiên và xã hội xung quanh. Mỗi cá nhân mang
nhân cách này vừa có khả năng tự đánh giá của bản thân vừa có khả năng
đánh giá hành vi của cá nhân mang nhân cách khác. Quá trình tự đánh giá
và được đánh giá đó là quá trình cá nhân thực hiện những hành vi cho mình
và cho người khác theo yêu cầu chung của nhân cách xã hội. Nói cách khác,
12

nhân cách là phẩm chất bên trong của mỗi cá nhân trước những đòi hỏi của
xã hội và của bản thân cá nhân để cá nhân đó tồn tại và làm tròn trách nhiệm
của mình với bản thân và với xã hội. Do đó nhân cách bị chi phối bởi nhân
cách xã hội, phản ánh nhân cách xã hội, đồng thời nhân cách xã hội tìm thấy
mình qua những hình ảnh, diện mạo riêng rất đa dạng của mỗi nhân cách cá
nhân.
Nghiên cứu khái niệm nhân cách nhằm xây dựng một nhân cách của
con người Việt Nam hài hoà thì không thể không nghiên cứu cấu trúc nhân
cách.
Cấu trúc nhân cách là sự xắp xếp các tính chất, thành phần, thuộc tính
của nhân cách thành một chỉnh thể trọn vẹn tương đối ổn định trong những
mối liên hệ và quan hệ nhất định. Hiện nay đang tồn tại những quan niệm
khác nhau về cấu trúc nhân cách. Học thuyết phân tâm của S. Freud cho
rằng con người được tạo ra bởi ba khối: Vô thức, tiền ý thức và ý thức.
Tương ứng với ba khối này cấu trúc nhân cách có ba phần: Nó (Freud gọi là
Id); Tôi (Freud gọi là Ego) và siêu tôi (Freud gọi là super Ego). Id là nơi
chức năng lượng tâm thần, khát vọng, bản năng, hoạt động theo nguyên tắc
khoái cảm, nghĩa là yêu cầu được thoả mãn ngay tức khắc những khát vọng
bản năng. Ego được hình thành do áp lực của thực tại bên ngoài tới toà bộ

những điều kiện chủ quan để phát triển và sử dụng tốt năng lực. Còn năng
lực là yếu tố quan trọng, yếu tố hữu dụng đối với xã hội, thể hiện tính tích
cực của xã hội của mỗi cá nhân. Tuỳ sở trường mà năng lực được thể hiện ở
mặt này hay mặt khác. Đối với toàn xã hội mà nói, năng lực trí tuệ là quan
trọng nhất. Năng lực trí tuệ được thể hiện ở trình độ học vấn, trình độ tư
duy, khả năng suy nghĩ và hành động hợp lý, khả năng thích nghi với những
biến đổi của hoàn cảnh. Nếu nhìn từ gốc độ kinh tế, năng lực trí tuệ được
coi là nguồn tài nguyên quý giá của mỗi quốc gia. Chủ tịch Hồ Chí Minh
khi nói về nhân cách cũng đã nêu ra cấu trúc nhân cách người cán bộ gồm
14

hai khối: Đức và tài. Người luôn coi trọng yếu tố "đức", thường đặt "đức"
trước "tài", "hồng" trước " chuyên": "Phải có chính trị trước rồi mới có
chuyên môn, chính trị là đạo đức, chuyên môn là tài, có tài mà không có
đức là hỏng" [26, tr.188] coi trọng đạo đức, lấy đạo đức cách mạng làm
gốc, song chưa bao giờ người xem nhẹ tài năng. Một người cách mạng chân
chính phải có cả đức lẫn tài, phẩm chất cách mạng và năng lực công tác, đó
là hai mặt không thể tách rời hoà quyện vào nhau trong nhân cách người cán
bộ. Biện chứng giữa đức và tài, phẩm chất và năng lực được thể hiện rất rõ
trong luận điểm sau của chủ tịch Hồ Chí Minh "Có tài mà không có đức ví
như anh làm kinh tế tài chính rất giỏi lại đi đến thụt két thì chẳng những
không làm được gì ích lợi cho xã hội mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có
đưc mà không có tài ví như ông bụt không làm hại gì nhưng không cũng
không lợi gì cho loài người" [25, tr.74]. Trong những phân tích dưới đây
của luận văn, chúng tôi sử dụng quan niệm coi nhân cách bao gồm phẩm
chất và năng lực, quan niệm cấu trúc nhân cách như vậy gần gũi với những
quan niệm truyền thống của người Việt Nam và cũng phù hợp với định
nghĩa triết học về nhân cách mà chúng tôi sử dụng ở phần trên.
1.1.1.2. Những yêu cầu đối với nhân cách học sinh trung học phổ thông
Với quan niệm như vậy, qua nhiều năm làm công tác giáo dục tôi

mới nhằm xây dựng đất nước giàu mạnh và bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh
thổ. Do đó thanh niên học sinh phải có hoài bão và đạo đức cách mạng.
- Có hoài bão là tính cách điển hình của thanh niên học sinh. Trong
cảnh đất nước bị xâm lăng, các thế hệ thanh niên học sinh đã mang hoài bão
lớn “ Xếp bút nghiên lên đường chiến đấu” sẵn sàng hi sinh tuổi thanh xuân
để góp phần giải phóng đất nước. Thanh niên ngày nay lại ra sức “Rèn đức,
luyện tài - ngày mai lập nghiệp” họ đã biết gắn liền sự phấn đấu vì cuộc
sống tốt đẹp hơn của bản thân và gia đình với ý chí mãnh liệt: xây dựng đất
nước giàu mạnh và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
16

Mặt khác, thế giới ngày nay đang chứng kiến những tiến bộ vĩ đại của
cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật. Vì vậy, để thực hiện được hoài bão trên
các em phải có trí tuệ, có chí nâng cao trí tuệ về mọi mặt thì các em mới có
khả năng đáp ứng yêu cầu của đất nước và của thời đại.
Một đòi hỏi nữa đối với nhân cách của học sinh trung học phổ thông
hiện nay là phải không ngừng rèn luyện đạo đức. Đạo đức phải được thể
hiện sinh động trong cuộc sống hàng ngày phải hiếu thảo đối với cha mẹ,
kính già yêu trẻ tôn trọng thầy cô, bạn bè ở xã hội nào cũng vậy, con
người phải có đạo đức đó là cái gốc của nhân cách con người. Khi đất nước
chuyển sang kinh tế thị trường bên cạnh những mặt tốt, những mặt tích cực
cũng có những biểu hiện suy đồi đạo đức và những mặt tiêu cực. Do đó việc
rèn luyện đạo đức, bảo tồn những giá trị văn hoá và bản sắc dân tộc, chống
những biểu hiện suy đồi trong lối sống, đạo đức là một đòi hỏi bức thiết đặc
biệt là đối với thanh niên học sinh.
Thứ hai: Có ý thức tự lập, chủ động, sáng tạo trong học tập và cuộc sống
Học sinh trung học phổ thông là giai đoạn đầu của tuổi thanh niên. ở
tuổi ấu thơ các em được sống trong sự đùm bọc, che chở của gia đình, sự
chăm sóc của xã hội. Khi trưởng thành bước vào cuộc sống các em dần
thoát li khỏi sự bao cấp của gia đình, phải tự khẳng định mình trong cuộc

Trách nhiệm thường được hiểu là năng lực của con người, ý thức
được và thấy trước được những kết quả hoạt động của mình, xác định đến
lợi ích hoặc tác hại do hoạt động đó có thể đem lại cho xã hội [40, tr.52].
Như vậy trách nhiệm có thể tồn tại ngay khi cá nhân tiên đoán một cách
đúng đắn kết quả hoạt động của mình và có những khi kết quả đó trái với dự
tính. Trách nhiệm là quyền và nghĩa vụ của cá nhân đối với xã hội và ngược
lại xã hội đối với cá nhân. Trách nhiệm đó bao gồm việc từng cá nhân ý
thức được hành động của mình đối với chính mình, đối với mọi người và
đối với xã hội.
18

Trách nhiệm khác với nghĩa vụ, nghĩa vụ của mỗi người biểu hiện ở
việc ý thức được và thể hiện các yêu cầu của xã hội, còn trách nhiệm biểu
hiện ở chỗ các yêu cầu đó được hoàn thành và không hoàn thành tới mức
nào. Trách nhiệm của mỗi người có nội dung khách quan và nội dung này
do tính tất yếu lịch sử quy định. Việc ý thức được tính tất yếu lịch sử cho
phép nhân cách quyết định, lựa chọn các hành vi của mình một cách có
trách nhiệm hơn.
Việc con người ý thức được tính tất yếu phải kết hợp hài hoà giữa lợi
ích và nhu cầu của mình với lợi ích và nhu cầu người khác, của toàn xã hội
cho phép họ biểu hiện ý thức trách nhiệm cao hơn đối với bản thân, đối với
người khác và đối với xã hội.
Khi chúng ta thực hiện nền kinh tế thị trường, con người được giải
phóng mọi năng lực cá nhân, lợi ích của con người được bảo đảm. Do đó
nếu thiếu tinh thần, trách nhiệm hoặc hiểu không đúng về tinh thần trách
nhiệm thì sẽ trở nên nhỏ nhen, ích kỷ, thậm chí đôi khi xung đột mâu thuẫn
vì lợi ích của tập thể hoặc toàn xã hội. Trong xã hội công nghiệp, nền sản
xuất với trình độ chuyên môn hoá cao thì càng đòi hỏi phải có ý thức trách
nhiệm cao, có như vậy mới hoàn thành được nhiệm vụ của mình.
Thực tế thế hệ trẻ nói riêng và học sinh trung học phổ thông hiện nay

chung của tổ chức ấy, tức là cá nhân mỗi con người phải có nghĩa vụ chấp
hành.
Như chúng ta đã biết, trong cuộc sống, để tồn tại và phát triển mỗi
con người đều phải có những nhu cầu và lợi ích riêng và muốn được thoả
mãn những nhu cầu và lợi ích ấy. Muốn vậy con người phải lao động để tạo
ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ nhu cầu cuộc sống của mình. Trong
lao động đòi hỏi phải có sự bình đẳng, sự đoàn kết và tính kỷ luật. Có như
vậy mới đạt hiệu quả cao trong lao động.
Tính chấp hành của nhân cách được biểu hiện ở thái độ phục tùng kỷ
luật của tổ chức, pháp luật của xã hội. Một tổ chức, một xã hội muốn có sức
20

mạnh thì phải có tính kỷ luật và đòi hỏi mọi thành viên của tổ chức, xã hội
ấy phải phục tùng. Có như vậy xã hội mới hoàn thành nhiệm vụ của mình
đem lại quyền lợi cho mỗi cá nhân.
Tính chấp hành của ý thức cần được thể hiện rõ ở ý thức biết đem nhu
cầu và lợi ích của mình phục tùng nhu cầu lợi ích của tập thể, của người
khác, của xã hội. Trong những trường hợp nhất định biết hy sinh nhu cầu và
lợi ích của mình cho nhu cầu lợi ích của toàn xã hội. Như vậy tính chấp
hành của nhân cách thể hiện ở tinh thần tập thể, tinh thần cộng đồng. Mỗi cá
nhân, trong cuộc sống của mình phải tham gia nhiều tập thể do đó ở địa
phương phải chấp hành những qui định ở địa phương, ở nhà trường phải biết
chấp hành nội qui của nhà trường và trong xã hội phải biết chấp hành pháp
luật của nhà nước.
Học sinh trung học phổ thông là nhóm nhân khẩu đặc thù tuổi từ 15-
16 và 17-18 có đặc điểm tâm lí sôi nổi nhưng bồng bột, các em dễ bị các
thói hư tật xấu lôi kéo, thích lối sống tự do, chán ghét sự chấp hành.
Thực tế qua điều tra cho thấy hầu hết các em cảm thấy khi chịu phải
chấp hành một qui định nào đó cho dù qui định đó là chính đáng. Có đến
95% số học sinh ở trường Vân Nội được hỏi trả lời khó chịu khi phải mặc

rõ kiến thức được học, ở các em bắt đầu có tư duy lý luận. Do đó khi tiếp
thu tri thức các em thường đòi hỏi phải chứng minh, luận giải chặt chẽ. Do
sự phát triển của tư duy mà khả năng hiểu biết của các em cũng phát triển
nên các em thường hay tranh luận, tìm tòi thêm những kiến thức ở các
nguồn thông tin để bổ sung cho kiến thức của mình. ở các em quan hệ tình
bạn chiếm vị trí lớn trong quan hệ xã hội nên các em thích giao lưu, thích
sinh hoạt tập thể. Vì vậy các em tự nguyện tham gia các chương trình cộng
đồng, qua đó các em rèn luyện được cho mình năng lực thực tiễn. Do ở lứa
tuổi năng động nên các em không có tính trì trệ, bảo thủ, dễ thích nghị với
những cái mới. Chính vì vậy trong quá trình giáo dục nhân cách nếu không
có tính định hướng thì hậu quả thật khó tưởng tượng nhất là trong cơ chế thị
trường hiện nay.
22

Vấn đề hiện nay mà học sinh trung học phổ thông quan tâm nhiều
nhất là vấn đề tương lai, các em luôn hướng đến tương lai. Cho nên các em
cũng rất quan tâm đến những vấn đề lớn của đất nước, của dân tộc, đến chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Điều đó giúp các em định hướng
cho tương lai của mình. Chính vì vậy, việc giáo dục nhân cách cho các em
không chỗ dừng lại ở vấn đề giáo dục các chuẩn mực đạo đức chung chung
mà các việc định hướng tương lai cho các em, định hướng nghề nghiệp và
định hướng kiến thức. Đó là trách nhiệm của gia đình và nhà trường.
Đối với các em, kinh tế còn phụ thuộc gia đình cho nên các em coi
trọng gia đình, tích cực học tập. Các em phải ý thức được vai trò vị trí của
mình đối với gia đình. Do đó gia đình nói chung và giáo dục gia đình nói
riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự hình thành nhân cách của các
em vì gia đình không chỉ là cái nôi nuôi dưỡng mà còn là cái nôi tinh thần
của các em.
Trong quan hệ xã hội với đặc trưng lứa tuổi các em có khả năng cảm
thụ xúc cảm, đồng cảm phát triển mạnh. Cho nên, hầu hết học sinh trung

chưa đủ kinh nghiệm sống và không phải lúc nào mục tiêu các em đặt ra đều
được ý thực rõ ràng. Cho nên các em cảm thấy không được thoả mãn và
mục tiêu các em đặt ra dễ thay đổi. Trong cuộc sống các em thường quan
tâm đến bản thân và nhân cách của mình nhiều hơn, chính vì thế các em hay
đề cao mình quá mức. Do đó trong mọi hoạt động các em đều muốn thử sức,
muốn bộc lộ khả năng của mình và nhiều khi không phân biệt được hoạt
động nào là tốt là xấu. Những đặc điểm này làm các em dễ thay đổi trước
những bước ngoặt của cuộc đời, trước những vấn đề phức tạp của cuộc
sống. Không ít những trường hợp thanh niên học sinh bị bế tắc trong cuộc
sống đã có những hành động bột phát trái với đạo đức, trái với pháp luật.
Nhận xét về thanh niên trong bức thư gửi thanh niên đã Chủ tịch Hồ Chí
Minh viết: “Nói tóm lại: ưu điểm của thanh niên là hăng hái giàu kinh

Trích đoạn Yêu cầu giáo dục nhân cách hiệnnay với nội dung và phương thức giáo dục Nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho mọi người về việc giáo dục nhân cách cho học sinh trong điều kiện hiện nay Đổi mới nội dung và phương thức giáo dục nhân cách theo hướng phát huy tính chủ động, tích cực và năng lực thực hành của học sinh Tăng cường sự phối kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong quản lý, giáo dục học sinh Tạo môi trường tích cực đối với giáo dục nhân cách cho học sinh trung học phổ thông
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status