Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua dạy học môn giáo dục công dân ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện đức thọ, tỉnh hà tĩnh - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM THỊ HỒNG VÂN
GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỨC THỌ, TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2014
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM THỊ HỒNG VÂN
GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỨC THỌ, TỈNH HÀ TĨNH
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
MÃ SỐ: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM THỊ BÌNH
NGHỆ AN - 2014
1
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thiện luận văn tốt nghiệp tôi xin được
bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới Hội đồng khoa học, Khoa Giáo dục
Chính trị, phòng Đào tạo sau đại học Trường Đại học Vinh cùng các thầy cô đã
trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khóa học của mình. Qua đây
cũng xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu trường THPT Trần
Phú, Ban giám hiệu trường THPT Minh Khai, Ban giám hiệu trường THPT

Trang
A. MỞ ĐẦU
4
1. Lý do chọn đề tài
Thành tựu của công cuộc đổi mới đã giúp cho nước ta có điều kiện để
nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài phục vụ cho sự nghiệp
phát triển đất nước. Xu thế đó đã mở ra những điều kiện thuận lợi mới và ngày
càng tạo ra nhiều cơ hội hơn cho thế hệ trẻ nước ta. Chính vì vậy, phần lớn thế
hệ trẻ ngày nay đã xác định được ước mơ, hoài bão, sống có lý tưởng, tích cực
học tập, rèn luyện, từng bước khẳng định giá trị để thăng tiến về vị thế, vai trò
của mình trong xã hội. Nhiều người trong số đó trở thành những tấm gương
thanh niên - học sinh vượt khó học giỏi, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, hòa nhã
với bạn bè, những tấm gương thanh niên - học sinh “sống đẹp, sống có ích”
Song bên cạnh đó, vẫn còn một bộ phận không nhỏ thanh niên, học sinh sống
thiếu lý tưởng, thiếu niềm tin vào cuộc sống. Trong thực tế đã xuất hiện những
vụ án giết người, cố ý gây thương tích mà đối tượng gây án là học sinh và nạn
nhân không ai khác lại chính là bạn học, thầy cô, người thân của họ. Nhiều em
học giỏi, điểm số cao nhưng khả năng giao tiếp và tự chủ kém, khi gặp phải
vướng mắc trong cuộc sống các em không biết cách chia sẻ với người khác dẫn
đến bi quan, chán nản, thậm chí tự sát để giải thoát cho mình… Có nhiều
nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, nhưng theo các chuyên gia giáo dục,
nguyên nhân sâu xa là do các em còn thiếu kỹ năng sống (KNS) cần thiết để có
thể tự bảo vệ mình trước những cám dỗ và thử thách của cuộc sống.
Từ thực trạng trên, cùng với các cuộc vận động “Nói không với tiêu cực
trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” và “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm
gương đạo đức tự học và sáng tạo” để tiếp tục tăng cường và nâng cao hiệu quả
giáo dục toàn diện cho học sinh, Bộ Giáo dục và Đào tạo ra Chỉ thị về việc phát
động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”
trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 - 2013. Đặc biệt, trong Chỉ thị có đề
cập đến nội dung “Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh”.

Thuật ngữ KNS được người Việt Nam bắt đầu biết đến từ chương trình
của UNICEF (1996) Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng
chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường. Thông qua
quá trình thực hiện chương trình này, nội dung của khái niệm KNS và giáo dục
KNS ngày càng được mở rộng. “Bởi lẽ những thách thức mà trẻ em và thanh
niên phải đối mặt là rất nhiều và đòi hỏi là những kỹ năng đọc, viết, tính toán”
(UNICEF) [26; 18].
Cùng với việc triển khai chương trình nêu trên, vấn đề KNS và giáo dục
KNS bắt đầu được quan tâm nghiên cứu. Những nghiên cứu có xu hướng xác
định những kỹ năng cần thiết, ở những lĩnh vực hoạt động mà thanh thiếu niên
tham gia nhằm đưa ra các đề xuất, tìm ra những biện pháp hình thành những kỹ
năng này cho thanh thiếu niên, học sinh.
Khái niệm KNS thực sự được hiểu với nội hàm đầy đủ và đa dạng sau hội
thảo Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống do UNESCO tài trợ được tổ chức từ
ngày 23 đến ngày 25 tháng 10 năm 2003 tại Hà Nội. Từ đó, những người làm
công tác giáo dục ở Việt Nam đã có những cài nhìn đầy đủ hơn về KNS và trách
nhiệm phải giáo dục KNS cho người học.
Ngày 22 tháng 7 năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo ra Chỉ thị Số:
40/2008/CT-BGDĐT “Về việc phát động phong trào thi đua Xây dựng trường
học thân thiện, học sinh tích cực trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 -
2013”. Nội dung của Chỉ thị có đề cập tới việc rèn luyện các KNS như: “kỹ
năng ứng xử; kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm; kỹ năng phòng, chống tai
nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác; kỹ năng ứng xử văn
hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội” [8; 1-2].
Văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc phát động phong trào thi
đua Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực giúp chúng ta có định
hướng rõ ràng hơn trong việc giáo dục KNS cho học sinh.
7
Ngày 28 tháng 7 năm 2013, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn
Vinh Hiển ký duyệt Kế hoạch Số 1088/KH-BGDĐT về Hoàn thiện bộ tài liệu

vận dụng những phương pháp, kỹ thuật… liên quan đến việc tổ chức dạy KNS
trên lớp. Đồng thời, tài liệu cũng phân tích khả năng, mục tiêu giáo dục KNS
cho học sinh trong môn GDCD, giới thiệu một số nội dung và địa chỉ các tiết
học/ bài học tiêu biểu, một số bài soạn minh họa về giáo dục KNS.
Các bài viết, tài liệu nghiên cứu về KNS rất phong phú và đa dạng. Một
tác phẩm gần gũi, cụ thể hơn với các bạn trẻ là cuốn Bạn trẻ và kỹ năng sống
của TS. Huỳnh Văn Sơn, Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh. Cuốn sách
như chính tâm sự của tác giả gửi tới các bạn trẻ những vấn đề trong cuộc sống.
Chính tác giả đã thuyết phục các bạn trẻ phải quan tâm tới các kỹ năng cần thiết
trong cuộc sống như kỹ năng phát huy nội lực của bản thân, kỹ năng tư duy sáng
tạo, kỹ năng tác động đến tâm lý của người khác, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng
thuyết trình.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu khoa học và sách báo, tài liệu trên
đã phân tích, làm rõ tính tất yếu và đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng giáo
dục KNS cho thanh thiếu niên nói chung, cũng như cho học sinh THPT nói
riêng sẽ góp phần tạo nên giá trị truyền thống, giáo dục đạo đức và qua đó hình
thành nhân cách tốt cho các em.
Như vậy, quan điểm về giáo dục KNS đã được đề cập đa dạng với nhiều
hình thức khác nhau nhưng việc thực hiện giáo dục KNS trong nhà trường vẫn
còn nhiều hạn chế. Đặc biệt, trên địa bàn huyện Đức Thọ nói riêng và tỉnh Hà
Tĩnh nói chung chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu giáo dục KNS cho
học sinh thông qua dạy học môn Giáo dục công dân ở trường THPT vì vậy
chúng tôi chọn đề tài “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua dạy học
môn Giáo dục công dân ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện
Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh” làm đề tài luận văn Thạc sĩ.
9
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Nâng cao hiệu quả giáo dục KNS cho học sinh thông qua môn GDCD ở
các trường THPT trên địa bàn huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

Để hoàn thành mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn vận dụng các
phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, sử
dụng tổng hợp các phương pháp như:
- Phương pháp điều tra xã hội học
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích tổng hợp
6. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và triển khai đồng bộ các giải pháp được đề xuất trong luận
văn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục KNS cho học sinh thông qua dạy
học môn GDCD ở các trường THPT trên địa bàn huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh
trong giai đoạn hiện nay.
7. Ý nghĩa và những đóng góp của đề tài
- Đề tài hệ thống hóa và góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận về
KNS và giáo dục KNS cho học sinh THPT.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ thực trạng giáo dục
KNS cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Đức Thọ, tỉnh Hà
Tĩnh thông qua dạy học môn Giáo dục công dân giai đoạn 2008 - 2013.
- Đề tài đóng góp một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
KNS cho học sinh thông qua dạy học môn GDCD ở các trường THPT trên địa
bàn huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành
Giáo dục chính trị và các giáo viên dạy học môn GDCD.
11
8. Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh thông qua dạy học môn Giáo dục công dân ở trường Trung học phổ thông.
Chương 2: Thực nghiệm sư phạm về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
thông qua dạy học môn Giáo dục công dân tại các trường Trung học phổ thông

vấn đề, nhận thức được hậu quả…; Học làm người gồm các kỹ năng cá nhân
như: ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin…; Học để
13
sống với người khác gồm các kỹ năng xã hội như: giao tiếp, thương lượng, tự
khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông; Học để làm
gồm kỹ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như: kỹ năng đặt mục tiêu,
đảm nhận trách nhiệm…” (Bộ Giáo dục và Đào tạo) [7; 7-8].
Từ những quan điểm trên, chúng ta có thể thấy rằng, KNS bao gồm một
loạt các kỹ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người. Bản
chất của KNS là kỹ năng tự quản lý bản thân và kỹ năng xã hội cần thiết để cá
nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả. Nói cách khác “KNS
là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với
người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của
cuộc sống” (Bộ Giáo dục và Đào tạo) [7; 8]. KNS có nhiều tên gọi khác nhau ví
dụ như kỹ năng tâm lý xã hội, kỹ năng cá nhân lĩnh hội và tư duy. Một KNS có
thể có nhiều tên gọi khác nhau. Do đó, cần phân biệt giữa những kỹ năng để
sống còn như học chữ, học nghề, làm toán, v.v… tới bơi lội, v.v… với khái niệm
KNS đã được đề cập ở các định nghĩa trên.
Như vậy, KNS là khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình và
người khác phù hợp với cách ứng xử tích cực, giúp con người có thể kiểm soát,
quản lý có hiệu quả các nhu cầu trong cuộc sống, đồng thời giúp con người giải
quyết có hiệu quả những khó khăn, thách thức trong cuộc sống.
KNS vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội. KNS mang tính cá
nhân vì đó là khả năng của mỗi cá nhân, KNS còn mang tính xã hội vì trong mỗi
giai đoạn phát triển của lịch sử, ở mỗi vùng miền lại đòi hỏi ở mỗi cá nhân có
những kỹ năng thích hợp. Vì vậy, KNS không phải tự nhiên có được mà phải
hình thành dần trong quá trình học tập, lĩnh hội và rèn luyện. Quá trình đó diễn
ra cả trong và ngoài hệ thống giáo dục.
1.1.1.2. Giáo dục kỹ năng sống
Khái niệm giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau ở cấp độ xã

lĩnh vực hay môn học nhưng nó được áp dụng lồng ghép vào các kiến thức, giá
15
trị và kỹ năng quan trọng trong quá trình phát triển của cá nhân và học tập suốt
đời. Như vậy, giáo dục KNS được xem như là một cách tiếp cận giáo dục nhằm
mục đích giúp con người có những khả năng tâm lý để tương tác với người khác
và giải quyết những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày một
cách có hiệu quả.
Có bốn con đường để giáo dục KNS cho học sinh: Thứ nhất, có thể tích
hợp giáo dục KNS thông qua khai thác tiềm năng giáo dục trong nội dung môn
học qua phương pháp dạy học tích cực khuyến khích sự tương tác, cùng tham
gia, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo… của học sinh. Thứ hai, giáo dục thông
qua các chủ đề chuyên biệt về KNS dưới hình thức hoạt động ngoài giờ lên lớp của
các tổ chức Đoàn thanh niên, câu lạc bộ, Đội nhóm. Thứ ba, giáo dục KNS qua
tiếp cận bốn trụ cột: học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để
tự khẳng định bản thân; Thứ tư, thông qua tham vấn trực tiếp với cá nhân hoặc
nhóm học sinh.
Là những nhà giáo dục, những người luôn đồng hành với quá trình phát
triển của học sinh, chúng ta càng thấy rõ tầm quan trọng phải giáo dục KNS cho
học sinh nói chung và học sinh THPT nói riêng.
1.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung
học phổ thông
1.1.2.1. Đặc điểm tâm lý của học sinh trung học phổ thông
Tuổi học sinh THPT là giai đoạn đã trưởng thành về mặt thể lực, nhưng
sự phát triển cơ thể còn chưa vững chắc, các em bắt đầu thời kỳ phát triển tương
đối êm ả về mặt sinh lý. Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan
trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát
triển. Cấu trúc của tế bào bán cầu đại não có những đặc điểm như trong cấu trúc
tế bào đại não của người lớn. Số lượng dây thần kinh liên hợp tăng lên, liên kết
các phần khác nhau của vỏ não lại, điều đó tạo tiền đề cần thiết cho sự phức tạp
hóa hoạt động phân tích, tổng hợp của vỏ bán cầu đại não trong quá trình học

17
Tóm lại, sự phát triển nhân cách của học sinh THPT là một giai đoạn rất
quan trọng, giai đoạn chuyển đổi từ trẻ em lên người lớn. Đây là lứa tuổi đầu
thanh niên với những đặc điểm tâm lý đặc thù khác với tuổi thiếu niên, các em
đã đạt tới sự trưởng thành về thể lực và sự phát triển nhân cách. Đặc điểm tâm
sinh lý của học sinh THPT là điều kiện thuận lợi cho việc giáo dục KNS cho các
em có hiệu quả. Các lực lượng giáo dục phải biết phát huy các yếu tố tích cực,
khắc phục những hạn chế trong sự phát triển tâm sinh lý lứa tuổi này để lựa
chọn nội dung, hình thức tổ chức thích hợp, phát huy được tính tích cực, chủ
động của các em trong hoạt động giáo dục theo định hướng của mục tiêu giáo
dục KNS.
1.1.2.2. Các yếu tố về chương trình giáo dục trung học phổ thông
Theo khoản 1, Điều 29, Luật Giáo dục năm 2005: “Chương trình giáo dục
trung học phổ thông quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc, nội
dung giáo dục phổ thông, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục,
cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp của giáo dục
phổ thông” [20; 7]. Theo đó, mục tiêu giáo dục THPT là học sinh được phát
triển hài hòa về thể chất và tinh thần, con người cá nhân và con người xã hội
trên cơ sở duy trì, tăng cường và định hình các phẩm chất, năng lực đã hình
thành ở cấp Trung học cơ sở; có kiến thức, kỹ năng phổ thông cơ bản, được định
hướng theo lĩnh vực nghề nghiệp, phù hợp với năng khiếu và sở thích; phát triển
năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học lên hoặc bước vào
cuộc sống lao động với phẩm chất, năng lực của một công dân. Để thực hiện
giáo dục KNS cho học sinh THPT thì mục tiêu về giáo dục KNS phải được đặt
ra trong chương trình giáo dục THPT. Do đó, nội dung giáo dục KNS cho học
sinh THPT phải được hoạch định; các hình thức, phương pháp, kiểm tra, đánh
giá giáo dục KNS cho học sinh phải được xác định cụ thể. Các yếu tố nêu trên
phải được mô tả trong văn bản chương trình giáo dục KNS cho học sinh THPT
và trở thành một nội dung của chương trình giáo dục THPT.
18

Các mối quan hệ trong xã hội tác động tích cực tới việc hình thành và phát
triển năng lực của học sinh THPT. Xã hội là môi trường thực tế, giúp học sinh hoàn
thiện các kỹ kỹ năng cuộc sống, chi phối một phần lớn trong suy nghĩ và hành động
của học sinh. Bước ra môi trường xã hội, học sinh có thể học hỏi và hình thành cho
mình những KNS cơ bản, cần thiết một cách tự nhiên. Từ những tình huống thực
tế, các em tự tìm cách giải quyết hay tìm kiếm sự hỗ trợ từ người thân, bạn bè đều
có thể hình thành KNS cho bản thân. Môi trường xã hội cũng cần tạo điều kiện để
học sinh tham gia các hoạt động hình thành năng lực cho bản thân bằng việc chung
tay góp sức của toàn thể cộng đồng.
1.1.3. Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua dạy học môn Giáo dục
công dân ở trường Trung học phổ thông
1.1.3.1. Vai trò của môn Giáo dục công dân trong việc giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh trung học phổ thông
Môn GDCD là một môn học có thể giáo dục nhiều KNS cho học sinh trong
nhà trường THPT, góp phần quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục và
hoàn thiện nhân cách toàn diện cho học sinh. Điều đó thể hiện:
Về kiến thức, môn GDCD giúp học sinh có hiểu biết ban đầu về thế giới
quan và phương pháp luận biện chứng; một số phạm trù cơ bản của đạo đức học;
một số yêu cầu đạo đức đối với người công dân hiện nay. Giúp học sinh biết một
số phạm trù và quy luật kinh tế cơ bản, vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước,
bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Học sinh có thể hiểu
đường lối, quan điểm của Đảng; các chính sách quan trọng của Nhà nước về xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay. Môn GDCD còn giúp học
sinh hiểu được bản chất và vai trò của pháp luật đối với sự phát triển của công
dân, đất nước, nhân loại; hiểu quyền và nghĩa vụ công dân trong các lĩnh vực
của đời sống xã hội. Đồng thời, học sinh cũng hiểu được trách nhiệm trong việc
thực hiện đường lối, chính sách, quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước;
hiểu trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm tham gia kinh tế của công dân.
20
Về kỹ năng, học sinh có thể vận dụng được kiến thức đã học để phân tích,

sách quan trọng của Đảng và Nhà nước để học sinh có thể xác định được trách
nhiệm công dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Phần thứ năm: Công dân với pháp luật. Phần này cung cấp những hiểu
biết cơ bản về bản chất, vai trò và nội dung của pháp luật trong một số lĩnh vực
của đời sống xã hội nhằm giúp học sinh có thể chủ động, tự giác điều chỉnh
hành vi của cá nhân và đánh giá được hành vi của người khác theo quyền và
nghĩa vụ của công dân trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam.
Ngoài những bài học chính trong sách giáo khoa, chương trình còn dành
một số thời gian cho các hoạt động thực hành, ngoại khóa, dạy học các vấn đề
gắn với tình hình địa phương.
Tất cả những điều đó cho thấy, mục tiêu và nội dung môn GDCD vốn đã
mang các yếu tố của giáo dục KNS, rất thuận lợi cho việc giáo dục đa dạng các
KNS cho học sinh. Từ đó, trang bị cho học sinh những KNS cần thiết, phù hợp
với lứa tuổi học sinh THPT; giúp các em biết sống và ứng xử phù hợp trong các
mối quan hệ với những người thân trong gia đình, với thầy cô, bạn bè và những
người xung quanh; với cộng đồng, quê hương, đất nước, nhân loại, với môi
trường tự nhiên để các em trở thành người có trách nhiệm với bản thân, bạn bè,
gia đình và cộng đồng, người học sinh tích cực của nhà trường, người công dân
tốt của xã hội.
1.1.3.2. Nguyên tắc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua dạy học môn
Giáo dục công dân ở trường Trung học phổ thông
Giáo dục KNS cho học sinh thông qua dạy học môn GDCD trong nhà
trường THPT cần tuân thủ một số nguyên tắc sau:
Thứ nhất, nguyên tắc tương tác: KNS không chỉ được hình thành qua việc
nghe giảng và tự đọc tài liệu mà còn phải thông qua các hoạt động tương tác với
22
người khác bởi việc nghe giảng và tự đọc tài liệu chỉ giúp học sinh thay đổi nhận
thức về một vấn đề nào đó; ngược lại, có nhiều KNS được hình thành trong quá
trình học sinh tương tác với những người xung quanh như kỹ năng thương lượng,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status