ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THANH TÙNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA MỚI
TRONG THỜI KỲ 1945-1954 LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Đặng Hữu Toàn
Hà Nội - 2010
1
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ
TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA MỚI 8
1.1. Cơ sở lý luận 8
1.1.1. Tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại 8
1.1.2. Về định nghĩa văn hóa của Hồ Chí Minh 23
1.2. Cơ sở thực tiễn 30
Chương 2: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ VĂN HÓA MỚI 40
2.1. Quan hệ của văn hoá với kinh tế, chính trị, xã hội 40
tộc, một dân tộc đánh mất truyền thống văn hóa và bản sắc dân tộc thì dân tộc ấy
sẽ mất tất cả” [36, tr. 195]
1
.
Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: Cần phải “xây dựng nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và
con người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
kinh tế quốc tế. Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung
tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần của
xã hội” [14, tr. 213]. Và, cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, trong đó có tư tưởng của Người về văn hóa mới, mãi là nền tảng tư tưởng,
1
Từ đây và tiếp sau này: số thứ nhất chỉ tên tài liệu trong danh mục tài liệu tham khảo, số thứ hai chỉ trang của tài
liệu.
3
kim chỉ nam cho hành động của Đảng và của cách mạng Việt Nam, là tài sản
tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, người anh
hùng dân tộc và cũng là một nhà tư tưởng lớn, nhà văn hoá lớn, là người đã kế
thừa và phát triển dòng lịch sử tư tưởng Việt Nam, là người hoạch định gần như
toàn bộ kế hoạch phát triển vĩ mô cho dân tộc Việt Nam trong tất cả các lĩnh
vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Thế nhưng, việc nghiên cứu tư tưởng
Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa nói riêng vẫn còn
là một yêu cầu, một công việc chưa kết thúc.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Khoan, trong công trình Đi tới một mùa xuân
tư tưởng Hồ Chí Minh (năm 2008) cho biết: “55 năm đã qua, nhìn lại chặng
đường hơn nửa thế kỷ với trên ngàn cuốn sách viết về Hồ Chí Minh, thực sự,
bạn đọc trong nước và ở nước ngoài vẫn chưa hết niềm mong ước có một “công
Thêm đã cho rằng: “So với tồn tại của bản thân văn hóa, việc nghiên cứu văn
hóa chậm trễ một cách khủng khiếp” [29, tr. 16]. Bởi vậy, việc hệ thống hóa và
ứng dụng các khái niệm cũng như phương pháp của văn hóa học vào trong các
nghiên cứu về văn hóa đang là đòi hỏi cấp thiết hiện nay.
Còn các tài liệu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, theo tôi,
cũng chưa hệ thống và đánh giá hết được các quan niệm của Người về văn hóa.
Ngay cả các giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh của Bộ Giáo dục và Đào tạo
(2006), của Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ
môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (2003), nghiên cứu do Đại
5
tướng Võ Nguyên Giáp chủ biên (Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách
mạng Việt Nam), Tập bài giảng tư tưởng Hồ Chí Minh - Đại học Quốc gia Hà
Nội (2003),… cũng chưa đạt yêu cầu khái quát hết được. Ngoài ra, còn có Tư
tưởng Hồ Chí Minh: Những nội dung cơ bản của PGS. Thành Duy (2005), John
Lê Văn Hóa (2003): Tìm hiểu nền tảng văn hóa dân tộc trong tư tưởng cách
mạng Hồ Chí Minh, tập hợp các bài viết của nhiều tác giả về vấn đề này trong
cuốn Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa của Ban Tư tưởng Văn hóa trung ương
(2003), cuốn Chủ tịch Hồ Chí Minh và văn hóa Việt Nam (2000), … cũng như
nhiều bài viết đăng tải trên các tạp chí lý luận ở nước ta mới chỉ đề cập đến một
số khía cạnh nào đó trong tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa mà thôi (Về thực
chất, đó cũng chỉ là tập hợp những bài viết nhỏ lẻ về vấn đề này). Chưa thấy tác
phẩm nào bàn luận và phân tích chuyên sâu tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
qua các thời kỳ cách mạng, như trước năm 1945, từ 1945-1954, từ 1954-1969.
Chưa thấy một tác phẩm nào viết thật chi tiết về vấn đề phương pháp luận giải
quyết các nhiệm vụ văn hóa do Hồ Chí Minh vạch ra. Chưa thấy có một tác
phẩm nào phân tích sự kế thừa về mặt phương pháp luận để giải quyết các
nhiệm vụ văn hóa mà ngày hôm nay, chúng ta đang phải đối mặt…
Như vậy, vẫn cần phải có một cách nghiên cứu, đánh giá thật đầy đủ trong
lĩnh vực tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa để tìm ra hướng đi và các biện pháp
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ việc học tập và
nghiên cứu các vấn đề như: Văn hóa học, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa… 7
8. Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
gồm 3 Chương, 9 tiết.
quản lý Nhà nước đều đã phát triển mạnh mẽ. Luật pháp, cổ phong, tôn giáo,
văn học, tất cả đều đã hoàn chỉnh và hoà hợp với nhau, trải qua bao nhiêu thế kỷ,
đã được điều hoà và ngày càng hoàn hảo thêm. Những vết tích man rợ đã mất đi
từ lâu, dân tộc này đã sống trong một xã hội thuần thục có tổ chức trong khi
những người phương Tây còn ở tình trạng bán khai. Yêu mến quê hương, quyến
luyến gia đình, tôn kính tổ tiên, yêu chuộng công lý, tôn trọng chính nghĩa, ham
thích khoa học, coi trọng lời nói thánh hiền, thương yêu nòi giống, tôn kính lẽ
phải; ghét xa hoa, không hám tiền tài, khinh ghét vũ lực, không sợ gian khổ, hy
sinh; đó là những đức tính răn dạy trong sách thánh hiền, lưu lại trong cổ phong
và ghi thành luật pháp; hiện nay đó cũng là những đặc điểm về bản tính của
người An Nam hình thành từ bao thế hệ, những thế hệ luôn luôn cố gắng thực
hiện đạo đức ấy một cách thành kính; người An Nam bình thường mà người ta
gặp bất cứ ở đâu cũng đều như vậy cả Trong đám người bình dân, người ta
cũng thấy những thuần phong mỹ tục ấy, cả ở những người mà xưa nay chúng ta
thường quen gọi là bọn côn đồ, quân ăn cướp” [49, tr. 425-429].
Trong tác phẩm Đông Dương (1923-1924), Nguyễn Ái Quốc đã nhận xét:
“Người An Nam rất hiếu học. Trong các tầng lớp xã hội, người sĩ phu chiếm địa
vị hàng đầu. Có con học giỏi là một vinh hạnh cho cha mẹ. Cho nên, dù có
nghèo đói đến đâu, cha mẹ cũng cố tìm cách cho con cái được học hành. “Nửa
bụng chữ bằng một hũ vàng” là một câu tục ngữ biểu hiện nhiệt tình ham muốn
có học thức của dân tộc An Nam. Ở làng xã nào cũng có trường công và trường
tư. Chữ Nho rất khó học thế mà hầu hết người An Nam đều biết “ký tên bằng
chữ Hán”. Nạn mù chữ hầu như không còn. Người Pháp đến đã làm đổi thay tất
cả” [49, tr. 398].
10
Hiện nay, khi bàn đến những truyền thống văn hóa người Việt Nam, hầu
hết các công trình nghiên cứu đều chỉ đề cập tới những mặt tốt đẹp: Giáo trình tư
tưởng Hồ Chí Minh của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009) viết: “Đó là ý thức chủ
quyền quốc gia dân tộc, ý chí tự lập, tự cường, yêu nước, kiên cường, bất
lấy vị trí của họ và mặc sức bóp nặn dân tộc khốn khổ của mình” [72, tr. 322-
323].
Và ngay Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nhận xét: “Mỗi con người đều
có cái thiện và cái ác ở trong lòng” [58, tr. 558].
Vậy, những khía cạnh này ảnh hưởng thế nào đến Hồ Chí Minh, và đâu là
những nhân tố quyết định hình thành nhân cách Hồ Chí Minh?
Tôi cho rằng, ngay khi mới ra đời, Hồ Chí Minh không tránh khỏi các ảnh
hưởng xấu của môi trường khí hậu và môi trường xã hội. Nhưng điều khác biệt
giữa Hồ Chí Minh với những người khác, điều tạo nên một nhân vật Việt Nam
vĩ đại mang tầm vóc thế kỷ XX, điều mà cả dân tộc ta phải học tập, đó là Hồ Chí
Minh luôn luôn nhận thức rõ những khiếm khuyết trong bản thân để chế ngự và
luôn luôn quán chiếu những phẩm chất tốt đẹp trong con người mình để tự rèn
luyện mình. Hồ Chí Minh, một con người có ý chí vĩ đại, cả cuộc đời Người là
một tấm gương tự đào luyện chính bản thân mình. Những ai được tiếp xúc với
Người đều nhận định: “Trong những sự rèn luyện về nhiều mặt, Bác chú ý tạo
dần thành nếp quen. Nếp quen nào tốt rồi cứ giữ mãi hàng chục năm. Chỉ khi
tuổi cao, chuyển sang một cách tập khác, mới bỏ thói nếp trước không bao giờ vì
thiếu kiên trì mà bỏ” [32, tr. 279].
12
Bằng trải nghiệm cả cuộc đời mình, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở các thế hệ
sau: “Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa
xuân và phần xấu bị mất dần đi” [58, tr. 558]. Người khẳng định: “Đạo đức cách
mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng
ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng
luyện càng trong” [56, tr. 293].
Với một nhân cách vĩ đại như vậy, không có gì là lạ khi chúng ta được nghe
tới những nhận định về Người như:
“Chỉ có ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại
ngay khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó” [64, tr. 74].
ấu đã sống trong một bối cảnh văn hóa Nho giáo với tất cả những nguyên tắc
luân lý đạo đức từng thống trị tư tưởng và tình cảm nhiều dân tộc phương Đông
trong hàng ngàn năm, như trung, hiếu, tiết nghĩa, quân sư phụ, tam cương ngũ
thường… Cùng với ảnh hưởng sâu đậm của Nho giáo, đạo Phật cũng có ảnh
hưởng đối với nhân dân ta thời trước. Ở các vùng nông thôn, các ngôi chùa
không chỉ là nơi thờ cúng Phật, mà còn là nơi giáo dục tư tưởng từ bi, bác ái, nơi
giáo thiện trừ gian với những “ông thiện”, “ông ác”, với những cảnh thập điện
Diêm Vương xử tội vạc dầu, cưa xương, rút lưỡi… những kẻ khi sống trên trần
đã có những hành động gian ác” [11, tr. 69-70].
Về những ảnh hưởng vô cùng tích cực của Phật giáo đối với dân tộc Việt
Nam, nhà nghiên cứu Phạm Quỳnh năm 1931 đã nhận xét: “Chính nhờ có học
thuyết đó mà những người đàn ông và đàn bà trong dân chúng của chúng ta,
14
thường vốn rất gay gắt trong chuyện lời lãi, rất cứng rắn trong đấu tranh, rất dữ
dằn trong các mánh khóe và các tranh chấp nhỏ trong đời sống hàng ngày, rất dễ
báng bổ và miệng lúc nào cũng sẵn sàng chửi bới, một lối chửi ác độc, quỷ quái,
réo gọi đến tổ tông xa nhất của người ta ra mà chửi và lăng nhục, chính họ lại
học được từ tôn giáo của đức nhân ái và lòng trắc ẩn đó mà biết được cách cầu
khấn kinh kệ và những điều tốt lành không kể hết được của nó” [72, tr. 212-
213].
Không thể phủ nhận được rằng Hồ Chí Minh - nhà văn hóa vĩ đại của
chúng ta đã tiếp thu rất tích cực những nếp sống vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ,
cứu nạn, thương người như thể thương thân, trong sạch, giản dị, chăm lo làm
điều thiện, đề cao lao động chống lười biếng, tinh thần bình đẳng, tinh thần dân
chủ chất phác chống lại mọi phân biệt đẳng cấp… từ nhà Phật. Cuốn Hồ Chí
Minh với Phật giáo Việt Nam đã khẳng định những nhân tố triết lý Phật giáo
trong tư tưởng Hồ Chí Minh gồm có: Tấm gương đạo đức nhân bản; hạnh Vô
ngã; hạnh Hiếu sinh; hạnh tinh Tấn; hạnh tự giác, giác tha; tinh thần Lục hòa và
thậm chí cả chất Thiền (thể hiện rất rõ trong Ngục trung nhật ký) [69, tr. 33-78].
nhưng với tinh thần phủ định biện chứng, với nội dung mới, yêu cầu mới của
đạo đức cách mạng, người đã cải biến nội dung, đưa yêu cầu, nội dung mới vào
như “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”, “trung hiếu”, “giàu sang không
quyến rũ, nghèo khó không chuyển lay, uy vũ không khuất phục”… [15, tr.
286]. Với trí tuệ sắc sảo, Hồ Chí Minh đã phê phán, bác bỏ những yếu tố lạc hậu
trong Nho giáo, và chủ động lựa chọn, tiếp thu những yếu tố tích cực cho bản
16
thân và cho cách mạng. Đó là triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, lý tưởng về
một xã hội bình trị, đề cao văn hóa, lễ giáo, hiếu học… Cùng với Phật giáo, Nho
giáo đã có ảnh hưởng hết sức tích cực tới nhân cách Hồ Chí Minh, để rồi mãi
sau này, khi tiếp thu những tinh hoa văn hóa phương Tây, Hồ Chí Minh vẫn
hoàn toàn là người phương Đông về mặt phong cách.
Còn về chủ nghĩa Tam dân: Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh
hạnh phúc, Hồ Chí Minh từng nhận định: “Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm
là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta” [15, tr. 43]. Cái lý tưởng
độc lập gắn liền với tự do, hòa quyện trong hạnh phúc hết sức thiêng liêng và
quen thuộc này đã được Hồ Chí Minh nhắc tới rất nhiều lần: “Nếu nước độc lập
mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý
gì” [52, tr. 56]. “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho
nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng
có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” [52, tr. 161]. “Tự do cho đồng bào
tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những gì tôi muốn, đấy là tất cả những
điều tôi hiểu” [74, tr. 44] Mục tiêu của chủ nghĩa Tôn Dật Tiên đã trở thành
một trong những mục tiêu cho cách mạng Việt Nam mà Hồ Chí Minh lựa chọn.
Thực ra cả ba yếu tố Nho giáo, Phật giáo và chủ nghĩa Tam dân đều có mối
liên hệ chặt chẽ với nhau, rất khó có thể tách biệt rõ ràng cũng như khẳng định
đâu là yếu tố ảnh hưởng nổi trội, quyết định tới sự hình thành tư tưởng nhân văn
cao cả của Hồ Chí Minh. Nhưng dẫu sao đi nữa, không thể nghi ngờ rằng cả ba
nhân tố văn hóa phương Đông trên đều có ảnh hưởng hết sức sâu sắc trong nhân
18
chúng tôi là từ nước Pháp tới, nhưng tinh thần giải phóng cũng từ đó tới” [36, tr.
78].
Khẩu hiệu Tự do - Bình đẳng - Bác ái trong nhà trường ở xứ Đông Dương
lúc bấy giờ trái ngược hẳn với những gì mà người Pháp đem lại cho dân tộc Việt
Nam. Bất bình với hiện thực xã hội, nhưng lại có phần “say sưa” với các giá trị
văn hóa Phương Tây, điều đó hình thành nguyện vọng xuất dương của một số
thanh niên An Nam tiên tiến, trong đó có Nguyễn Ái Quốc. Một mẩu chuyện có
tên Nguyễn Ái Quốc năm 1946 với bút danh Việt Nam mà nhiều nhà nghiên cứu
cho rằng chính là Hồ Chí Minh, có thuật lại: “Khâm phục các nhà cách mệnh
Pháp bao nhiêu, ông càng thấy bọn Pháp thực dân ở Việt Nam bỉ ổi, đáng ghét
bấy nhiêu. Chủ nghĩa tự do, bình đẳng, bác ái của các nhà cách mệnh Pháp nhân
đạo biết bao thì so với chính sách khủng bố đàn áp cách mệnh của Pháp ở Việt
Nam dã man, vô đạo đến thế nào? Những lý thuyết học ở nhà trường so với thực
tế trong xã hội Việt Nam thuộc Pháp, ông thấy nó mâu thuẫn nhau như nước với
lửa. Càng học rộng, càng khảo sâu, càng biết nhiều, ông càng cảm thấy bất bình,
phẫn nộ” [32, tr. 15]. Về quyết định sang phương Tây, Người kể:
“Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình
đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người
Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp,
muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy. Nhưng trong những trường học
cho người bản xứ, bọn Pháp dạy người như dạy con vẹt. Chúng giấu không cho
người nước tôi xem sách báo. Không phải chỉ sách của các nhà văn mới, mà cả
Rútxô và Môngtexkiơ cũng bị cấm. Vậy thì phải làm thế nào bây giờ? Tôi quyết
định tìm cách đi ra nước ngoài” [49, tr. 477].
19
“Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự
hỏi nhau, ai là người sẽ giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này
nghĩ là Nhật, người khác nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra
cách mạng Pháp” [36, tr. 272-273].
Chính vì vậy, sau này, không có gì lạ khi ta biết rằng đứa con tinh thần đầu
tay của Nguyễn Ái Quốc - tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp lại được
nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là sự tiếp nối truyền thống văn học của phương
Tây chống chế độ nô lệ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với những tên tuổi như
Huy gô (V.Hugô), Guét-đơ (J.Guesde), Giô-ret(J.Jaures)… [36, tr. 73-74].
Nguyễn Ái Quốc đã hòa mình vào nền văn hóa mới bằng cả trái tim và trí
tuệ sắc sảo của mình, thẳng thắn chỉ ra một số hậu quả tai hại từ văn minh
phương Tây cũng như tiếp thu các giá trị vĩnh cửu mà người dân phương Tây đã
đóng góp vào kho tàng tư tưởng nhân loại. Nền văn hóa của chúng ta sau này đã
được bổ sung những khía cạnh hết sức mới lạ như tư duy biện chứng duy vật của
nhà cách mạng vĩ đại Karl Marx, tư duy duy lý, tư duy dân chủ… như: “Chủ
nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng” [15, tr. 43], “nếu
chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ” [53, tr. 60]…
Từ đó, Người trở về nước mang theo những “tài sản” văn hóa mới lạ,
nhưng vô cùng quan trọng cho dân tộc như: dân chủ, cộng hòa, duy lý, cách
mạng, biện chứng…
GS. Đinh Xuân Lâm nhận xét: “Ba mươi năm hoạt động ở nước ngoài, chủ
yếu là ngay ở ngọn nguồn của văn minh phương Tây, Nguyễn Ái Quốc có đủ
21
thời gian và điều kiện để chọn lọc, tiếp nhận những tinh hoa của nền văn minh
rực rỡ đó, rồi vận dụng vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc mình và phục vụ
các dân tộc khác cùng cảnh ngộ” [11, tr. 74].
Vượt ba đại dương, bốn châu lục, đặt chân lên gần 30 nước, Hồ Chí Minh
được coi là một trong những nhà hoạt động chính trị đã đi nhiều nhất, có vốn
hiểu biết phong phú nhất về thực tế các thuộc địa cũng như các nước tư bản đế
quốc chủ yếu nhất trong những thập niên đầu của thế kỷ 20 [25, tr. 27]. Thế
nhưng Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo văn hóa Việt Nam tương lai không hề bị “lôi
kéo” bởi bất kỳ thói quen văn hóa nào. Người luôn chủ động hòa nhập với các
Hélène Tourmaire trong cuốn: Trở thành người Bác như thế nào? Do Nhà
xuất bản Viện Hàn lâm Berlin năm 1966 viết: “Hồ Chí Minh là hình ảnh hoàn
chỉnh của sự kết hợp: đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học
của Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và tình cảm của một người chủ gia tộc.
Tất cả đều hoà hợp trong một dáng dấp rất tự nhiên” [77, tr. 8].
Nhân loại đã và đang bước vào thời đại văn hóa toàn cầu. Một nền văn hóa
tiên tiến phải tổng hòa một cách hài hòa nền văn hóa chung của thế giới. Thật
may mắn cho dân tộc nào có được nhà lãnh đạo văn hóa mang phẩm chất quý
báu này. Hồ Chí Minh, người thực hiện sứ mệnh giải phóng dân tộc, giải phóng
giai cấp, giải phóng con người đã đáp ứng được yêu cầu của lịch sử. Từ những
năm 20, nhà thơ Manđenxtan đã nhận xét: “Từ Nguyễn Ái Quốc đã toả ra một
thứ văn hoá, không phải văn hoá Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hoá tương
lai” [49, tr. 478]
23
Nhân loại không thiếu danh nhân văn hóa, nhân loại không thiếu tư tưởng,
nhưng mỗi dân tộc lại rất cần lãnh tụ dẫn dắt họ đi đúng xu thế thời đại. Hồ Chí
Minh chính là hiện thân của văn hóa tương lai, hiện thân của sự kết tinh văn hóa
hài hòa mà thế giới nói chung và dân tộc Việt Nam nói riêng đang trông đợi. GS.
Đặng Xuân Kỳ nhận định: “Những người phương Tây có thể tìm thấy trong văn
hóa Hồ Chí Minh tinh thần của chủ nghĩa nhân đạo thời kỳ Phục hưng, tư tưởng
dân chủ của thế kỷ Ánh sáng, tinh thần độc lập và nhân quyền của cách mạng
Mỹ, tư tưởng tự do - bình đẳng - bác ái của cách mạng Pháp, và tinh thần cách
mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin. Những người phương Đông lại
thấy trong văn hóa Hồ Chí Minh những nét gần gũi với chủ nghĩa Tam dân của
Tôn Trung Sơn, tinh thần yêu nước, khắc khổ hy sinh vì dân vì nước của M.
Găng đi, và xa hơn là học thuyết về sự tu dưỡng đạo đức và sự trang nhã của
Khổng giáo, đức từ bi của Phật Thích ca, tinh thần bác ái của Chúa Giê su” [11,
tr. 11].
1.1.2.Về định nghĩa văn hóa của Hồ Chí Minh