tư tưởng hồ chí minh về văn hóa - Pdf 33

Bài thảo luận nhóm

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU

3

CHƯƠNG I. VĂN HÓA VÀ TÍNH CHẤT CỦA VĂN HÓA

4

I. KHÁI NIỆM VĂN HÓA

4

1. Khái niệm văn hóa trong lịch sử

4

2. Khái niệm văn hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh

6

II. Tính chất của văn hóa

7

1. Văn hóa có tính hệ thống

7



15

3. Bồi dưỡng những phẩm chất phong cách và lối sống đẹp lành mạnh
hướng con người đến chân, thiện, mỹ để hoàn thiện bản thân

15

CHƯƠNG III. XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN
ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC

17

I. QUAN NIỆM VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC

17

1. Khái niệm

17

2. Vị trí của bản sắc văn hóa dân tộc

17

3. Bản sắc dân tộc- hệ giá trị

17

II. TÍNH TẤT YẾU CỦA VIỆC XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM


2. Giải pháp

24

KẾT LUẬN

26

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

28

LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta đang sống trong một thời đại mà khoa học, kĩ thuật và công
nghệ đã đem đến những biến đổi cực kì lớn lao cho cuộc sống con người, trở
2


Bài thảo luận nhóm

thành động lực vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi dân tộc, mỗi
quốc gia. Nhưng cũng chính ở thời điểm này, nhiều vấn đề tiêu cực và khủng
hoảng về xã hội đã nảy sinh trong đời sống, buộc chúng ta phải nhìn nhận lại
yêu cầu phát triển bền vững với vai trò, vị trí đặc biệt của văn hóa. Vì lẽ đó, trở
lại với quan điểm văn hóa trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển đất nước là
một vấn đề vừa có ý nghĩa chiến lược vừa mang ý nghĩa thời sự quan trọng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa là một trong những nội dung cơ bản
của hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh và đã được nhiều công trình nghiên cứu.
Tuy nhiên, thực tiễn của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam đòi hỏi phải tiếp tục

ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các
phương tiện, v.v... Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một
phần của văn hóa.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một
cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại
học Mỹ là Alfred và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa
khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới. Văn hóa được đề
cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc học, nhân loại học (theo
cách gọi của Mỹ) hoặc dân tộc học hiện đại (theo cách gọi của Châu Âu), dân
gian học, địa văn hóa học, văn hóa học, xã hội học,... và trong mỗi lĩnh vực
nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa cũng khác nhau. Các định nghĩa về văn
hóa nhiều và cách tiếp cận khác nhau đến nỗi ngay cả cách phân loại các định
nghĩa về văn hóa cũng có nhiều. Một trong những cách đó phân loại các định
nghĩa về văn hóa thành những dạng chủ yếu sau đây:
1.1 Về mặt thuật ngữ khoa học
Văn hóa được bắt nguồn từ chữ Latinh "Cultus" mà nghĩa gốc là gieo
trồng, được dùng theo nghĩa Cultus Agri là "gieo trồng ruộng đất" và Cultus
Animi là "gieo trồng tinh thần" tức là "sự giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con
người". Theo nhà triết học Anh Thomas Hobbes (1588-1679): "Lao động giành
cho đất gọi là sự gieo trồng và sự dạy dỗ trẻ em gọi là gieo trồng tinh thần ".
Các định nghĩa miêu tả: định nghĩa văn hóa theo những gì mà văn hóa bao
hàm, chẳng hạn nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor (1832 1917) đã định nghĩa văn hóa như sau: văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa
rộng trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ
thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và bất cứ những khả năng, tập quán nào
mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội.
1.2 Các định nghĩa lịch sử

4



Nga, người sáng lập khoa Xã hội học của Đại học Harvard: Với nghĩa rộng
nhất, văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra, hay được cải biến bởi hoạt

5


Bài thảo luận nhóm

động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và
tác động đến lối ứng xử của nhau.
1.6 UNESCO định nghĩa về văn hóa
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa
nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật
chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và
nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung
sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.
Tóm lại, Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và
phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa
lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã
hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã
hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương
tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã
hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động
của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo
ra.
2. Khái niệm văn hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh
2.1. Định nghĩa về văn hóa
Khái niệm "văn hóa" có nội hàm phong phú và ngoại diện rất rộng.
Chính vì vậy đã có hàng trăm định nghĩa về văn hóa. Tháng 8-1943, khi còn
trong nhà tù của Tưởng Giới Thạch, lần đầu tiên Hồ Chí Minh đưa ra một định

Như vậy, ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã quan tâm đến văn hóa, đã
thấy rõ vai trò, vị trí của văn hóa trong đời sống xã hội. Điều này cắt nghĩa vì
sao ngay sau khi giành được độc lập, Hồ Chí Minh đã bắt tay vào việc xây
dựng, kiến tạo một nền văn hóa mới ở Việt Nam trên tất cả mọi lĩnh vực, từ
kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức đến tâm lí con người, đã sớm đưa văn hóa
vào chiến lược phát triển đất nước.
II TÍNH CHẤT CỦA VĂN HÓA
1. Văn hóa có tính hệ thống
Mọi hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa đều có liên quan mật
thiết với nhau. Nhược điểm lớn nhất của nhiều định nghĩa văn hóa lâu nay là ở
chỗ coi văn hóa như một phép cộng đơn thuần của những tri thức bộ phận. E.B.
Taylor định nghĩa văn hóa như một "phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng,
nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, cũng như mọi khả năng và thói quen

7


Bài thảo luận nhóm

khác mà con người như một thành viên của xã hội tiếp thu được". Định nghĩa
văn hóa trong các loại từ điển, các công trình nghiên cứu... thường mở đầu bằng
câu: "Văn hóa là một tập hợp (hoặc phức hợp) của các giá trị..." Quan niệm
cảm tính này là sản phẩm của lịch sử, của thời kỳ chia tách các khoa học- khi
mà văn hóa chưa được coi là đối tượng của một khoa học độc lập.
Với tư cách là một khoa học lý luận, VĂN HÓA HỌC có nhiệm vụ
nghiên cứu văn hóa như một đối tượng riêng biệt trên cơ sở những tư liệu do
các ngành khác (dân tộc học, sử học, ngôn ngữ học, tôn giáo học...) cung cấp
với mục đích phát hiện các đặc trưng, những quy luật hình thành và phát triển.
Nghiên cứu văn hóa dân tộc theo lối này không chỉ là tìm hiểu "Cái gì?", mà
chủ yếu là tìm hiểu "Tại sao?" và "Như thế nào?" Nhờ đi vào bề sâu, tìm những

nhiên, tính giá trị cho phép phân biệt văn hóa với hậu quả của nó hoặc những
hiện tượng phi văn hóa, loại ra những cách hiểu quá rộng, quy về văn hóa mọi
hoạt động của con người. Chẳng hạn, theo L. White (1975) thì thậm chí ngay cả
những hiện tượng như tội ác có tổ chức (maphia) cũng được xem là một loại
"véctơ văn hóa"!
Theo thời gian có thể phân biệt các giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời.
Trong các giá trị nhất thời lại có thể phân biệt giá trị đã lỗi thời, giá trị hiện
hành và giá trị đang hình thành. Sự phân biệt các loại giá trị theo thời gian cho
phép ta có được cái nhìn biện chứng và khách quan trong việc đánh giá tính giá
trị của sự vật, hiện tượng; tránh được những xu hướng cực đoan- phủ nhận sạch
trơn hoặc tán dương hết lời. Nhờ vậy mà, về mặt đồng đại, cùng một hiện tượng
có thể có giá trị nhiều hay ít tùy theo góc nhìn, theo bình diện được xem xét.
Về mặt lịch đại, cùng một hiện tượng vào những thời điểm lịch sử khác
nhau sẽ có thể có hay không có giá trị tùy thuộc vào chuẩn mực văn hóa của
từng giai đoạn. Chẳng hạn, chế độ chiếm hữu nô lệ với tính dã man của nó quen
được xem là phi giá trị. Song, ngay chính F. Engels trong "Chống Đuyrinh"
cũng đã từng nói rằng "nếu không có chế độ nô lệ cổ đại thì không thể có chủ
nghĩa xã hội hiện đại", bởi lẽ nhờ nó tạo ra sự phân công lao động trên một quy
mô rộng lớn mà nền văn minh Hy Lạp được hình thành. Mà như F. Engels giải
thích "nếu không có cơ sở văn minh Hy Lạp và đế quốc La Mã thì không thể
có châu Âu hiện đại được". Áp dụng vào Việt Nam, việc đánh giá chế độ phong
kiến, vai trò của Nho giáo, triều đại nhà Hồ, nhà Nguyễn... đều đòi hỏi một tư
duy biện chứng như thế. Bởi vậy, không thể áp đặt một quan niệm về phẩm

9


Bài thảo luận nhóm

chất của giá trị cho mọi không gian, mọi thời gian, không thể đưa khía cạnh này



Bài thảo luận nhóm

rộng hơn văn hóa học. Mặt khác, đất nước học chủ yếu quan tâm đến các vấn
đề đương đại, về mặt này thì nó hẹp hơn văn hóa học.
Do gắn liền với con người và hoạt động của con người trong xã hội, văn
hóa trở thành một công cụ giao tiếp quan trọng. Chức năng giao tiếp là chức
năng thứ ba của văn hóa. Nếu ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa là
nội dung của nó; điều đó đúng với giao tiếp giữa các cá nhân trong một dân tộc,
lại càng đúng với giao tiếp giữa những người thuộc các dân tộc khác nhau và
giao tiếp giữa các nền văn hóa.
4. Văn hóa có tính lịch sử
Tính lịch sử của văn hóa thể hiện ở chỗ nó bao giờ cũng hình thành trong
một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ. Tính lịch sử tạo cho văn hóa
một bề dày, một chiều sâu, và chính nó buộc văn hóa thường xuyên tự điều
chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại các giá trị.
Tính lịch sử của văn hóa được duy trì bằng truyền thống văn hóa. Truyền
thống là cơ chế tích lũy và truyền đạt kinh nghiệm qua không gian và thời gian
trong cộng đồng. Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định
(những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội được tích
lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian và được cố
định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư
luận....
Truyền thống văn hóa tồn tại được nhờ giáo dục. Chức năng giáo dục là
chức năng quan trọng thứ tư của văn hóa. Nhưng văn hóa thực hiện chức năng
giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định (truyền thống), mà còn bằng
cả những giá trị đang hình thành. Các giá trị đã ổn định và những giá trị đang
hình thành tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới. Nhờ nó
mà văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách ở con

vậy, nền văn hóa mới ra đời đã gắn liền với nước Việt Nam mới. Nền văn hóa
Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp là nền văn hóa kháng
chiến, kiến quốc, nền văn hóa dân chủ mới. Khi miền bắc bước vào thời thời kì
quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nền văn hóa được xây dựng là nền văn hóa xã hội
chủ nghĩa.
Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau song nền văn hóa mới mà chúng
ta xây dựng theo tư tưởng Hồ Chí Minh luôn bao hàm ba tính chất: tính dân tộc,
tính khoa học và tính đại chúng.
Tính dân tộc của nền văn hóa được Hồ Chí Minh biểu đạt bằng nhiều khái
niệm, như đặc tính dân tộc, cốt cách dân tộc, nhằm nhấn mạnh đến chiều sâu
bản chất rất đặc trưng của văn hóa dân tộc, giúp phân biệt, không nhầm lẫn với
văn hóa của các dân tộc khác. Người cho rằng để được như vậy, phải "trau dồi
cho văn hóa, văn nghệ có tinh thần thuần túy Việt Nam", phải "lột tả cho hết
tinh thần dân tộc", đó là chủ nghĩa yêu nước, đoàn kết, khát vọng độc lập, tự
chủ, tự lực, tự cường... của dân tộc. Người cho rằng, "nếu dân tộc hóa mà phát
triển đến cực điểm thì tức là đến chỗ thế giới hóa nó, vì lúc bấy giờ văn hóa thế
giới sẽ phải chú ý đến văn hóa của mình và văn hóa của mình sẽ chiếm được
địa vị ngang với các nền văn hóa thế giới". Tính dân tộc của nền văn hóa không
chỉ thể hiện ở chỗ biết giữ gìn, kế thừa, phát huy những truyền thống tốt đẹp

13


Bài thảo luận nhóm

của dân tộc, mà còn phải phát triển những truyền thống tốt đẹp ấy cho phù hợp
với điều kiện lịch sử mới của đất nước.
Tính khoa học của nền văn hóa mới thể hiện ở tính hiện đại, tiên tiến,
thuận với trào lưu tiến hóa của thời đại. Tính khoa học của văn hóa đòi hỏi phải
đấu tranh chống lại những gì trái với khoa học, phản tiến bộ, phải truyền bá tư


độc lập, tự do; phải làm thế nào cho ai cũng "có tinh thần vì nước quên mình, vì
lợi ích chung và quên lợi ích riêng".
Tình cảm lớn theo Hồ Chí Minh là lòng yêu nước, thương dân, thương yêu
con người; yêu tính trung thực, chân thành, thủy chung, ghét những thói hư, tật
xấu, sự sa đọa... Tình cảm đó được thể hiện trong nhiều mối quan hệ: Với gia
đình, quê hương, với bạn bè, anh em, đồng chí... Thông qua mối quan hệ tốt
đẹp, văn hóa phải góp phần xây đắp niềm tin cho con người, tin vào bản thân,
tin vào lý tưởng, tin vào nhân dân và tin vào tiền đồ của cách mạng.
2. Mở rộng hiểu biết, nâng cao dân trí
Nói đến văn hóa là phải nói đến dân trí. Đó là trình độ hiểu biết, là vốn
kiến thức của người dân. Nâng cao dân trí phải bắt đầu từ chỗ biết đọc, biết
viết, để có thể hiểu biết những lĩnh vực khác của đời sống xã hội, như: kinh tế,
chính trị, lịch sử, khoa học kỹ thuật, thực tiễn Việt Nam và thế giới... Vấn đề
nâng cao dân trí thực sự chỉ có thể thực hiện sau khi chính trị đã được giải
phóng, toàn bộ chính quyền đã về tay nhân dân.
Mục tiêu nâng cao dân trí của văn hóa trong từng giai đoạn cách mạng có
thể có những điểm chung và riêng. Song tất cả đều hướng vào mục tiêu chung
là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nâng cao dân trí là để nhân dân có thể
tham gia sáng tạo và hưởng thụ văn hóa, góp phần cùng Đảng"... Biến một
nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh
phúc". Đó cũng là mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh" mà Đảng ta đã vạch ra trong công cuộc đổi mới.
3. Bồi dưỡng những phẩm chất, phong cách và lối sống tốt đẹp, lành mạnh;
hướng con người đến chân, thiện, mỹ, để hoàn thiện bản thân
Phẩm chất và phong cách được hình thành từ đạo đức, lối sống, từ thói
quen của cá nhân và phong tục tập quán của cả cộng đồng. Phẩm chất và phong
cách thường có mối quan hệ gắn bó với nhau. Mỗi người thường có nhiều phẩm
chất, trong đó có phẩm chất chung và phẩm chất riêng, tùy theo nghề nghiệp, vị
trí công tác. Các phẩm chất thường được thể hiện qua phong cách, tức là lối

I. QUAN NIỆM VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC
1.Khái niệm
Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng
đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng năm đấu tranh
dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc,
tinh thần đoàn kết cá nhân- gia đình- làng xã- tổ quốc; lòng nhân ái, khoan
dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh
tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống... Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm
đà trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo.
2. Vị trí của bản sắc văn hóa dân tộc
- Bản sắc văn hóa dân tộc giữ vị trí rất quan trọng, chính bản sắc văn hóa
dân tộc đảm bảo cho dân tộc tồn tại, đứng vững và phát triển qua các biến động
của lịch sử.
- Nhờ bản sắc văn hóa dân tộc, chúng ta biểu lộ được trọn vẹn sự hiện diện
của một bản sắc trong giao lưu với quốc tế. Mục tiêu của giao lưu là thông qua
giao lưu với nền văn hóa mới, ta hội nhập với văn hóa thế giới. Chỉ giữ được
bản sắc văn hóa dân tộc thì ta mới có điều kiện giao lưu bình đẳng với các nền
văn hóa thế giới. Còn sao chép, trở thành "cái bóng", "cái đuôi" của người ta thì
không còn có gì mà hội nhập bình đẳng.
Trước yêu cầu của thời kỳ phát triển mới, trước nguy cơ "đồng nhất" về
văn hóa thực chất là sự thống trị của văn hóa nước lớn, nước giàu thì bản sắc
dân tộc có ý nghĩa cực lớn.
3. Bản sắc dân tộc - hệ giá trị
Văn hóa, theo UNESCO, là tổng thể những nét đặc trưng tiêu biểu nhất
của một xã hội thể hiện trên mặt vật chất và tinh thần, tri thức và tình cảm. Văn
hóa mang bản sắc dân tộc.

17



có bước tiến bộ rõ rệt. Điều dễ thấy tính năng động xã hội- kinh tế và tính tích
cực công dân được khơi dậy và phát huy thay cho tâm lý thụ động, ỷ lại trong
cơ chế cũ. Bầu không khí dân chủ, cởi mở trong xã hội tăng lên. Mặt bằng dân
18


Bài thảo luận nhóm

trí được nâng cao, sở trường, năng lực cá nhân con người được khuyến khích,
tôn trọng. Những nét mới nổi bật ấy trong đời sống được phản ánh qua hoạt
động khởi sắc, phong phú, đa dạng trên các lĩnh vực báo chỉ, xuất bản, phát
thanh, truyền hình giáo dục, văn học, nghệ thuật,… Trong sự phong phú, đa
dạng và bộn bề của đời sống và hoạt động văn hóa, chủ nghĩa Mác- Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta vận dụng và phát triển sảng tạo vẫn là nền
tảng tư tưởng và kim chỉ nam bảo đảm cho xã hội phát triển đúng hướng. Kinh
tế thị trường và mở cửa với bên ngoài làm sống động nền kinh tế và các hoạt
động xã hội, phát triển giao lưu hàng hóa, du lịch và các sản phẩm văn hóa,
giúp nhân dân ta mở rộng chân trời hiểu biết và kiến thức tiếp nhận từ bốn
phương. Các mặc trái của kinh tế thì trường và mở cửa, dù là tác động dữ dội,
đã không thể ngăn nổi nhân dân ta duy trì và phát triển truyền thống tốt đẹp,
như thấy rõ nhất vào những dịp kỉ niệm lớn, hướng về cội nguồn, về cách mạng
và kháng chiến, tưởng nhớ các anh hùng dân tộc, đền ơn đáp nghĩa những
người có công, giúp đỡ những người hoạn nạn…
Đương nhiên, bức tranh không chỉ toàn màu sáng. Nghị quyết Trung ương
V đã nghiêm khắc chỉ ra những mảng tối cùng nguyên nhân chủ quan. Đó là
trạng thái dao động, hoài nghi, giảm sút niềm tin lý tưởng ở một số người, kể cả
một bộ phận đảng viên, cán bộ. Đó là những hiện tượng suy thoái đạo đức, đặc
biệt là nạn tham nhũng, hối lộ, buôn lậu, gian lận thương mại trước sự tấn công
của thói ích kỉ, chủ nghĩa cá nhân, lối sống tiêu dùng, sức mạnh đồng tiền và
chủ nghĩa thực dụng. Đó là một số hiện tượng nhức nhối trước đây không hề có

Hai là Tiến bộ

-

Ba là Có nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh.

-

Bốn là, nhân văn: tất cả vì con người…

-

Năm là, tiên tiến không chỉ trong nội dung tư tưởng mà cả trong hình
thức biểu hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung.

Đất nước ta đang ở thời kỳ quá độ với nền kinh tế nhiều thành phần theo
định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự nghiệp CNH, HĐH nhằm xây dựng cơ sở vật
chất- kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội đòi hỏi huy động tối đa tiềm năng vật chất
và tinh thần của cả dân tộc, của tất cả các thành phần kinh tế. Chủ nghĩa yêu
nước ở đây là một động lực cực kì to lớn. Nền văn hóa tiên tiến do đó trước hết
phải là một nền văn hóa yêu nước. Có thể coi yêu nước là tiến bộ đặc trưng bao
quát nhất của văn hóa tiên tiến. Yêu nước là ý chỉ đưa đất nước thoát khỏi cảnh
nghèo nàn lạc hậu, phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn
minh đó là một nội dung tư tưởng lớn của nền văn hóa tiên tiến. Gắn liền với
yêu nước là tiến bộ. Nền văn hóa tiên tiến phải là nền văn hóa kết tinh tất cả
những gì là tiến bộ, là chân, là thiện, là mĩ của dân tộc, của thời đại, của loài
người.

20

Mandenxtam với một tình cảm đặc biệt đã sớm khám phá từ năm 1923 khi tiếp
xúc với Bác. Như vậy, thật là chính xác và tự nhiên khi Nghị quyết Trung ương
V nêu lên mục tiên nền văn hóa tiên tiến là tất cả vì con người, vì hạnh phúc và
sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện con người trong mối quan hệ hài hòa

21


Bài thảo luận nhóm

giữa cá nhân và cộng đồng giữa xã hội và tự nhiên. Ở đây là tinh nhân văn cao
cả, trong đó giai cấp, dân tộc và nhân loại, cá nhân và xã hội, xã hội và tự nhiên
là thống nhất trên lập trường chủ nghĩa Mác- Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh- hệ
tư tưởng thấu suốt nền văn hóa mà chúng ta xây dựng.
Tính chất tiên tiến của nền văn hóa còn phải thể hiện cả trong hình thức
biểu hiện, trong những cơ sở vật chất kĩ thuật, phương tiện để chuyển tải nội
dung. Ví dụ: Trong phong cách văn chương, trong công nghệ truyền hình, điện
ảnh, trong kiểu dáng kiến trúc, trong thiết kế những công trình tượng đài, những
khu vui chơi giải trí… Ở đây, tiên tiến thường có nghĩa là hiện đại song không
phải đã là hiện đại thì loại trừ bản sắc dân tộc và càng không được nhầm lẫn
hiện đại với “chủ nghĩa hiện đại” tắc tị, bệnh hoạn, nhất là trong nghệ thuật, văn
thơ.
3. Nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc
Tính chất tiên tiến của nền văn hóa Việt Nam không tách rời bản sắc dân
tộc. Nói đến văn hóa là nói đến dân tộc. Văn hóa bắt rễ sâu trong đời sống dân
tộc qua trường kì lịch sử. Văn hóa là bộ mặt tinh thần của dân tộc. Bản sắc dân
tộc của văn hóa, như người ta thường nói, là cái căn cứ cái chứng chỉ của một
dân tộc. Nó chỉ rõ anh là ai, thiếu nó, anh không tồn tại như một giá trị. Lịch sử
mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước đã hun đúc cho dân tộc ta biết bao giá
trị truyền thống tốt đẹp. Đó là chủ nghĩa yêu nước, lòng nhân ái bao dung, trọng

loại hình nghệ thuật; sưu tầm khai thác các vốn văn hóa dân tộc…
- Phải đổi mới cơ chế phát triển sự nghiệp văn hóa trong điều kiện cơ chế
thị trường. Trên cơ sở định hướng chính trị và pháp luật, nêu cao vai trò nòng
cốt của các cơ quan văn hóa, nghệ thuật của nhà nước; từng bước thực hiện xã
hội về văn hóa.
- Tạo chuyển biến tích cực trong xây dựng đạo đức, nếp sống văn minh,
ngăn chặn có hiệu quả các tệ nạn xã hội, những biểu hiện tiêu cực trong xã hội,
những hủ tục và nếp sống không lành mạnh, khắc phục tình trạng thoái hóa,
biến chất của một số cán bộ đảng viên những hủ tục và tệ nạn xã hội đang có
chiều hướng gia tăng ở cả thành thị, nông thôn và miền núi.
- Quan tâm xây dựng đội ngũ những người hoạt động văn hóa, mở rộng
hợp tác quốc tế về văn hóa.
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng. Nâng cao hiệu lực quản lí của nhà
nước trong sự nghiệp quản lí và phát triển văn hóa, đổi mới phương thức lãnh
đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật.

23


Bài thảo luận nhóm

IV. BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC NHỮNG MẶT TIÊU CỰC TRONG ĐỜI
SỐNG VĂN HÓA XÃ HỘI CỦA ĐẤT NƯỚC
1. Những mặt tiêu cực trong đời sống văn hóa xã hội
Đối với nước ta hiện nay, xu hướng toàn cầu hóa với cả hai mặt tích cực
và tiêu cực kể trên lại đồng thời diễn ra cùng với quá trình nền kinh tế quốc dân
chuyển sang sử dụng cơ chế thị trường và chính sách mở cửa nhằm đẩy nhanh
nhịp độ tăng trưởng kinh tế, đẩy tới một bước sự nghiệp CNH, HĐH.
Bên cạnh những tiến bộ và thành tựu to lớn đã đạt được trong 10 năm qua,
cơ chế thị trường và chính sách mở cửa cũng đã và đang làm cho chúng ta phải

Chúng ta không tự kìm hãm mình trong tính riêng biệt văn hóa khước từ
giao lưu, trao đổi, đối thoại với bên ngoài. Đồng thời, chúng ta cũng kiên quyết
phản đối sự tiếp nhận xô bồ mọi thứ gọi là “tân kỳ” của văn hóa ngoại lại mà
không phân biệt hay dở, tốt xấu để đi đến chỗ mất gốc, lai căn và cuối cùng khó
tránh khỏi sẽ bị đồng hóa, bị hòa tan chứ không phải là hội nhập với nền văn
minh nhân loại.
Trong kinh tế, sự đa dạng của phân công mới làm nảy sinh tính tất yếu
của giao lưu, hợp tác giữa các quốc gia. Trong văn hóa lại càng như vậy. Do đó
chỉ có trên cơ sở bảo tồn và phát huy bản sắc và cốt cách riêng của căn hóa Việt
Nam nghĩa là tính độc đáo của nó trong quá trình vươn tới sự hoàn thiện con
người hướng chân thiện mĩ thì văn hóa dân tộc mới có sức nặng trong tiếp xúc
đối thoại với các nền văn hóa khác, nhất là mới có những cái đáng giá để góp
vào kho tàng văn hóa phong phú, đa dạng của nhân loại.
Thực hiện được như thế thì chắc chăc công cuộc đổi mới toàn diện đất
nước của chúng ta, trong đó có đổi mới về giao lưu văn hóa thế giới sẽ gặt hái
được nhiều hoa thơm quả ngọt vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công
bằng, văn minh.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status