Nhu cầu thẩm mỹ và vai trò của nó trong hoạt động đánh giá, thưởng thức, sáng tạo nghệ thuật - Pdf 25

VIN KHOA HC V X HI
I HC QUC GIA H NI
TRNG I HC KHOA HC X
HI V NHN VN Viện triết học

Lê Thị h-ờng

Nhu cầu thẩm mỹ và Vai trò của Nó trong hoạt
động đánh giá, th-ởng thức, sáng tạo nghệ thuật

Chuyờn nghnh: TRIT HC
Mó s : 60 22 80

LUN VN THC S TRIT HC

Ngi hng dn khoa hc
GS, TS. HUY
VIN TRIT HC
H NI - 2006
MỤC LỤC
TRANG
Mở đầu …………………………………………………………… 2


1.Tính cấp bách của đề tài
Cuộc sống của con người và xã hội loài người là một quá trình hoạt
động nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của mình đồng thời lại tiếp
tục nảy sinh những nhu cầu mới ở những cấp độ cao hơn. Vì con người cần
được thỏa mãn nhu cầu về vật chất để giúp cho sự tồn tại của thể xác và con
người cũng cần được thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ để tồn tại đời sống tinh thần.
Nếu sự tồn tại của con người chỉ dừng lại ở việc thoả mãn nhu cầu sinh tồn, nhu
cầu vật chất thì cuộc sống sẽ như thế nào. Vì vậy, trong hệ thống nhu cầu giúp
cho sự tồn tại của con người, nhu cầu thẩm mỹ, đặc biệt là nhu cầu về cái đẹp
trong đời sống nghệ thuật, có vai trò quan trọng. Đó là dạng nhu cầu xã hội cao
cấp của con người bởi nó thể hiện đầy đủ nhất tính Người.
Trước đây, khi điều kiện kinh tế xã hội nước ta còn thấp, việc thỏa mãn
nhu cầu thẩm mỹ vẫn còn là mục đích xa xôi. Để thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ,
chúng ta phải đi một bước rất dài trên con đường xây dựng và phát triển kinh tế.
Không thể ảo tưởng rằng, có thể xây dựng một nền văn hóa cao khi chưa có sự
phát triển cao về kinh tế, càng không thể nói tới việc thỏa mãn đầy đủ nhu cầu
tinh thần, nhu cầu thẩm mỹ của quần chúng khi xã hội đang còn những thiếu
thốn, khó khăn về vật chất. Hiện nay, khi nền kinh tế xã hội đã phát triển mạnh
mẽ, đời sống vật chất của người dân được nâng cao, con người có thời gian rỗi
để hoạt động tinh thần và hưởng thụ về mặt tinh thần, thì những đòi hỏi được
thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ lại càng bức xúc và nóng hổi hơn bao giờ hết.
Một dân tộc muốn phát triển tự do về mặt tinh thần, thì phải tạo điều
kiện được phát triển và thoả mãn nhu cầu thẩm mỹ cho quần chúng nhân dân.
Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn của việc thỏa mãn nhu cầu 3

thẩm mỹ, nhu cầu nghệ thuật của nhân dân, nhiều văn kiện của Đảng đã nêu 4

và khả năng tác động của nhu cầu thẩm mỹ trong hoạt động đánh giá, thưởng
thức, sáng tạo nghệ thuật là việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề nhu cầu đã được đặt ra và nghiên cứu từ nhiều góc độ: kinh tế
học, tâm lý học, triết học… Đáng chú ý là vấn đề nhu cầu thẩm mỹ và vai trò
của nó trong hoạt động nghệ thuật đã được đặt ra nghiên cứu trong lịch sử mỹ
học. Trong lịch sử mỹ học, Hêghen có bàn đến vấn đề nhu cầu thẩm mỹ với
tính cách là nhu cầu về nghệ thuật. Ông khẳng định nhu cầu về nghệ thuật là
nhu cầu hợp lý của con người và việc thoả mãn nhu cầu về nghệ thuật là nền
tảng tự do hợp lý của con người. Tuy nhiên, do xuất phát từ thế giới quan duy
tâm nên Hêghen cho rằng, việc thỏa mãn nhu cầu về nghệ thuật sẽ đem lại sự
hài lòng cao nhất, thậm chí là sự hài lòng tuyệt đối khi nó gắn với thế giới
quan và ý niệm tôn giáo. Đứng trên lập trường duy vật, Mác và Ănghen đã
xem xét vấn đề nhu cầu trong mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng chủ yếu
thông qua các tác phẩm: “Lời nói đầu” (trích các bản thảo kinh tế năm 1857
–1858), “Bản thảo kinh tế triết học 1844”. Cũng trong các tác phẩm này, Mác
và Ănghen đã bàn đến nhu cầu thẩm mỹ với tư cách là nhu cầu về cái đẹp,
đồng thời chỉ ra cách thức tiêu dùng nhu cầu vật chất khác với cách thức tiêu
dùng nhu cầu về tinh thần, điều này do phương thức sản xuất quy định. Hai
ông đã chỉ ra, họat động sản xuất của con người bị quy định bởi nhu cầu thể
xác trực tiếp nhưng khi không bị nhu cầu thể xác ràng buộc con người có khả
năng sản xuất ra đời sống theo quy luật cái đẹp. Mặc dù trong các tác phẩm

nghiên cứu một vấn đề quan trọng trong đời sống tinh thần của con người đó
là nhu cầu văn hóa. Ở đây, nhu cầu thẩm mỹ được bàn đến như là một khía 6

cạnh của nhu cầu văn hóa, trong một phạm vi hạn hẹp và dừng lại ở một số
tiêu chí nhất định.
Ngoài ra, vấn đề nhu cầu thẩm mỹ, vấn đề nghệ thuật và các hình thức
hoạt động nghệ thuật, đã được đặt ra và nghiên cứu trong một số công trình
mỹ học của tác giả Đỗ Huy: “Mỹ học với tính cách là một khoa học”, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà nội, 1996 và “Mỹ học khoa học về các quan hệ thẩm
mỹ”, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, 2001. Những năm gần đây một số luận
án tiến sĩ về mỹ học cũng đề cập tới vấn đề nhu cầu thẩm mỹ và vai trò của nó
trong đời sống thẩm mỹ. Luận án của tác giả Đào Duy Thanh: “Vai trò của
nghệ thuật trong đời sống tinh thần của con người”. Luận án của Nguyễn
Chương Nhiếp: “Thị hiếu thẩm mỹ và vai trò của nó trong đời sống thẩm mỹ”.
Trong các công trình này, nhu cầu thẩm mỹ được xem xét trong mối quan hệ
với các hoạt động của chủ thể thẩm mỹ là tình cảm, thị hiếu thẩm mỹ. Nhu
cầu thẩm mỹ được xem như là thành tố có tác dụng bổ trợ cho các hoạt động
này. Tuy nhiên những đặc trưng bản chất, phương thức tiêu dùng của nhu cầu
thẩm mỹ chỉ đưa ra có tính chất phác họa, nhiều khi không được làm rõ và bị
đánh đồng với những phạm trù gần gũi với nó như tình cảm, thị hiếu thẩm
mỹ.
Như vậy, vấn đề nhu cầu thẩm mỹ, nghệ thuật và các hình thức hoạt
động nghệ thuật đã được đặt ra nghiên cứu trong lịch sử triết học, trong tâm lý
học, trong các công trình nghiên cứu về văn hóa thẩm mỹ của các học giả
trong và ngoài nước. Một số công trình đã lý giải khá sâu sắc vấn đề bản chất
nhu cầu thẩm mỹ, hoặc lý giải sâu sắc về bản chất của nghệ thuật và các hình
thức hoạt động nghệ thuật nhưng rất ít tác giả gắn việc nghiên cứu nhu cầu

Trình bày và luận giải vai trò của nhu cầu thẩm mỹ đối với các hình
thức hoạt động nghệ thuật.
6. Ý nghĩa của luận văn 8

Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,
giảng dạy mỹ học về vấn đề nhu cầu thẩm mỹ, vai trò của nó trong các hoạt
động nghệ thuật.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 2 chương 5 tiết.

sản xuất nhằm duy trì đời sống con người, duy trì và phát triển cái tiền đề đó
[35, tr. 39- 40]. 10

Nhưng nếu ở động vật, nhu cầu sinh học được giải phóng bằng bản
năng thì ở con người, những nhu cầu sinh học này, được giải phóng bằng văn
hóa. Con người văn hóa, hóa những nhu cầu bản năng bằng những nghi thức
xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán…theo yêu cầu cái đẹp, tức là
làm đẹp các bản năng đó lên. Bằng cách đó, con người giải quyết được mối
quan hệ giữa cái trần tục và cái thánh thiện, giữa cái Con (sinh vật) với cái
Người (xã hội) trong con người [30]. Với con người mọi nhu cầu tự bản thân
chúng đã bao hàm ý nghĩa văn hóa. Vì vậy, nhu cầu của con người đó chính là
những đòi hỏi không ngừng về mặt vật chất và tinh thần trong quá trình tồn
tại, lao động, sản xuất. Những đòi hỏi khi được thỏa mãn lại nảy sinh những
đòi hỏi khác. Do đó, nhu cầu không mất đi mà chỉ là sự thay thế nhu cầu này
bằng nhu cầu khác.
Song cái gì quy định bản chất nhu cầu của con người, quy định tính
nhiều loại nhu cầu của con người ? Đó chính là quá trình sản xuất và tiêu
dùng quyết định. Theo Mác sản xuất tạo ra tiêu dùng với ba nghĩa: một là tạo
ra vật liệu cho tiêu dùng, hai là, xác định phương thức tiêu dùng, ba là, làm
nảy sinh ra ở người tiêu dùng cái đối tượng là sản phẩm do sản xuất tạo ra.
Cũng vậy tiêu dùng đẻ ra khả năng của người sản xuất do nó kích thích nhu
cầu trong anh ta, một nhu cầu hướng vào một mục tiêu nhất định [36, tr.867].
Từ quan điểm của Mác, cho thấy sự tác động hai chiều giữa sản xuất và tiêu
dùng. Một mặt, sản xuất quyết định quá trình tiêu dùng, cách thức tiêu dùng
sản phẩm. Mặt khác, quá trình tiêu dùng lại tác động trở lại quá trình sản xuất
bằng cách, người tiêu dùng nảy sinh những nhu cầu mới và nhà sản xuất sản
xuất ra những đối tượng mới theo nhu cầu.

cầu đồng thời, chúng là những dấu hiệu riêng biệt để phân biệt nhu cầu với các
thuộc tính khác của tâm lý con người.
Nếu nhu cầu là những đòi hỏi loại trừ những thiếu hụt trong hoạt động
sống bình thường của con người cả về mặt xã hội và về mặt sinh vật thì nó phải 12

nhằm vào một hiện tượng, một đối tượng cụ thể trong thế giới bên ngoài, đòi hỏi
phải chiếm lĩnh, phải đạt cho được, để đưa cái bên ngoài ấy theo những tỷ lệ
nhất định vào hệ thống hoạt động sống bên trong của con người. Khi đó, nhu cầu
có tính đối tượng. Việc hướng tới một đối tượng nhất định để tiêu dùng, xác định
tính cụ thể của nhu cầu. Do đối tượng của con người là phong phú nên nhu cầu
của con người cũng vô cùng phong phú. Vì vậy, sẽ có nhiều chủng loại, nhiều
cấp bậc nhu cầu khác nhau tồn tại trong đời sống con người như : nhu cầu sinh
lý, nhu cầu xã hội, nhu cầu vật chất, nhu cầu giao tiếp, nhu cầu văn hóa, nhu cầu
an ninh, nhu cầu y tế, nhu cầu giáo dục Khi đối tượng càng chia nhỏ thì xuất
hiện càng nhiều dạng nhu cầu cụ thể. Tính phong phú và đa dạng của nhu cầu,
do quá trình sản xuất và tiêu dùng quy định. Quá trình sản xuất xã hội không
những đáp ứng, làm thỏa mãn những nhu cầu trực tiếp của con người, những nhu
cầu ăn, mặc, ở mà còn thúc đẩy sự xuất hiện hàng loạt các nhu cầu gián tiếp
khác, đáp ứng tính nhiều mặt của nhu cầu con người.
Là một thuộc tính của tâm lý con người, nhu cầu có tính kích thích và tính
năng động. Tính kích thích của nhu cầu biểu hiện thông qua hai trạng thái. Khi
nhu cầu chưa được thỏa mãn tạo nên sự căng thẳng và tính kích thích cao độ. Sự
căng thẳng này thường kích thích những động cơ bên trong cá nhân tạo nên một
cuộc tìm kiếm nhằm có được một mục tiêu cụ thể. Khi nhu cầu được đáp ứng
gần mức mãn nguyện thì tính kích thích yếu dần, sự căng thẳng giảm đi. Hiểu rõ
quy luật này và vận dụng chúng một cách linh hoạt vào lĩnh vực sản xuất, sẽ có ý
nghĩa quan trọng. Một mặt, phát huy được vai trò động lực của nhu cầu trong sản

giả. Nhu cầu lại phụ thuộc vào đặc điểm tình hình kinh tế ở mỗi một giai đoạn
lịch sử nhất định. Nhu cầu còn phụ thuộc vào giới, vào độ tuổi, vào địa vị xã
hội, nhu cầu của người dân ở thành thị khác với nhu cầu của người dân nông
thôn…. Vì vậy, sự vận động của nhu cầu ở nước ta hiện nay rất phức tạp. Tuy
nhiên, cần phải nắm được xu hướng vận động chung của nhu cầu hiện nay là
gì, đó là điều cần thiết khi nghiên cứu vấn đề nhu cầu. 14

Một trong những biểu hiện về xu hướng vận động của nhu cầu hiện nay
là người dân có xu hướng thỏa mãn ngay, một cách trực tiếp những nhu cầu
vật chất và tinh thần hiện có mà chưa quan tâm đúng mức đến việc tạo tiền đề
cơ bản, vững chắc để sau này thỏa mãn chúng ở mức độ cao hơn [31, tr. 29].
Nguyên nhân làm xuất hiện xu hướng này, là do sự phát triển mạnh mẽ của
nền kinh tế hàng hóa ở nước ta đã tạo nên những biến đổi trong nhu cầu và
khả năng tiêu dùng của người dân. Một mặt, mức độ nhu cầu tiêu dùng của
người dân cao hơn, phong phú hơn, mặt khác, sự phát triển của nền kinh tế
hàng hóa đã đem lại nhiều khả năng cho người dân lựa chọn phù hợp với nhu
cầu, thị hiếu, tiềm lực kinh tế. Hơn nữa, quá trình giao lưu văn hóa, kinh tế,
cùng với sự thay đổi trong phương thức quản lý kinh tế, văn hóa cũng là
những nguyên nhân, làm thay đổi nhu cầu của người dân.
Tuy nhiên cần phải thấy một nguyên nhân tâm lý không kém phần
quan trọng tác động đến sự thay đổi xu hướng tiêu dùng hiện nay. Đó là một
thời gian dài người dân phải chịu đựng, chắt chiu, dè sẻn trong việc thỏa mãn
những nhu cầu bình thường và thiết thực nhất trong cuộc sống thường nhật do
nền kinh tế quan liêu bao cấp trì trệ, đồng lương quá thấp. Thực trạng đó, dẫn
tới sự dồn nén, ức chế hệ thống nhu cầu của con người bao gồm cả nhu cầu
vật chất và nhu cầu tinh thần. Chỉ đến khi nền kinh tế hàng hóa thị trường
phát triển, đời sống vật chất được tăng lên mới xuất hiện xu hướng nhanh

Vậy nhu cầu thẩm mỹ có sự khác biệt như thế nào về bản chất so với
nhu cầu nói chung?
1.1.2 Bản chất của nhu cầu thẩm mỹ
Về định nghĩa nhu cầu thẩm mỹ lâu nay còn nhiều tranh cãi do vấn đề
này còn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống. Định nghĩa về nhu cầu
thẩm mỹ chủ yếu xuất hiện ở Liên Xô, ở Việt Nam chỉ có một vài học giả đưa
ra vấn đề này. 16

Theo P.V Ximônốp, có thể định nghĩa "nhu cầu thẩm mỹ là xu hướng
vốn có của con người muốn vươn tới chỗ làm cho tổ chức (hình thức, kết cấu)
của hình tượng phù hợp tới mức cao nhất với mục đích nhiệm vụ của nó trong
đời sống con người"[14, tr.5]. Đây là một trong số những định nghĩa, thể hiện
sự tương đối chính xác và cụ thể về các đặc trưng chức năng của nhu cầu
thẩm mỹ.
Theo P.L Ivanốp: "Nhu cầu thẩm mỹ là ý muốn của con người muốn
nhìn thấy, cảm thấy bằng các giác quan của mình một cái gì đó gây cho mình
những cảm xúc tốt". Ông viết tiếp:" Nhu cầu thẩm mỹ trước hết là nhu cầu
ngắm nhìn cái đẹp, thưởng thức cái đẹp." Cách định nghĩa này xem xét nhu
cầu thẩm mỹ chủ yếu ở các giác quan thẩm mỹ. Từ những hoạt động của các
giác quan bề ngoài của chủ thể, mang lại những khoái cảm thẩm mỹ, những
niềm vui do được thoả mãn về cái đẹp [14, tr.17].
Theo tác giả Đỗ Huy: "Nhu cầu thẩm mỹ là trạng thái cần thiết đòi hỏi
thoả mãn các thiếu hụt về mặt thẩm mỹ mà trung tâm là thoả mãn về cái
đẹp"[19, tr. 245]. Với định nghĩa này tác giả đã làm rõ nội dung của khái niệm
nhu cầu thẩm mỹ đó là trạng thái thiếu hụt về mặt thẩm mỹ, đặc biệt là sự thiếu
hụt về cái đẹp và những đòi hỏi được thoả mãn. Từ định nghĩa này có thể khai
thác nhu cầu thẩm mỹ ở góc độ xã hội, với tư cách là nhu cầu văn hóa cao cấp

tượng của nhu cầu thẩm mỹ là gì ? Đối tượng của nhu cầu thẩm mỹ thuộc về đời
sống tinh thần hay trong đời sống vật chất?
Có thể hiểu, đời sống con người gồm hai phần cơ bản đó là đời sống vật
chất và đời sống tinh thần. Hoạt động của con người là hoạt động sản xuất theo
quy luật cái đẹp. Do đó, cái đẹp thẩm thấu và bao trùm trong mọi lĩnh vực của
đời sống con người, cả đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Khi cái đẹp
bao trùm và thẩm thấu trong mọi lĩnh vực của đời sống đó là lúc xuất hiện đời
sống thẩm mỹ [27, tr. 12]. Như vậy, đối tượng thẩm mỹ, đó là những cái đẹp,
cái cao cả, cái hài, cái bi…xuất hiện và tồn tại trong đời sống thẩm mỹ. Đối 18

tượng thẩm mỹ không thuộc hoàn toàn về đời sống vật chất hay đời sống tinh
thần mà nó tồn tại khắp nơi trong đời sống xã hội của con người, trong nghệ
thuật, trong thiên nhiên, trong các quan hệ thẩm mỹ của con người. Ở đâu có
hoạt động của con người, ở đó xuất hiện quan hệ thẩm mỹ của con người với
thế giới hiện thực, xuất hiện đối tượng thẩm mỹ và nhu cầu thẩm mỹ.
Song cái gì quy định nhu cầu về đối tượng thẩm mỹ ? Đó là việc sản xuất
và tiêu dùng thẩm mỹ. Chính mối quan hệ này quy định tính xã hội của nhu cầu
thẩm mỹ. Đối tượng tiêu dùng nhu cầu thẩm mỹ, phương thức tiêu dùng của
loại nhu cầu này phụ thuộc vào quá trình sản xuất các giá trị thẩm mỹ.Thông
qua quá trình sản xuất và tiêu dùng các giá trị thẩm mỹ, tính xã hội của nhu
cầu thẩm mỹ được khẳng định. Vì chỉ con người mới tham gia vào quá trình
sản xuất và tiêu dùng các giá trị thẩm mỹ một cách toàn diện. Con vật cũng
tham gia vào sản xuất nhưng đó là hoạt động sản xuất phiến diện, nó chỉ sản
xuất cái mà bản thân nó trực tiếp cần đến do sự chi phối của nhu cầu thể xác
trực tiếp. Còn con người tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên. Con người đối
diện một cách tự do với sản phẩm của mình. Nếu con vật chỉ xây dựng theo
kích thước và nhu cầu của loài nó, thì con người có thể sản xuất theo kích

thực tiễn( ý chí, tình yêu v.v.)- nói tóm lại cảm giác của con người, tính người
của cảm giác chỉ được nảy sinh nhờ có đối tượng tương ứng, nhờ bản tính đã
nhân hóa” [39, tr.1 75 - 176]. Con người chiếm lĩnh thế giới đối tượng thẩm
mỹ bằng các giác quan nhưng nếu không có đối tượng tương ứng thì các giác
quan của con người không được đánh thức. Thế cho nên: “…chỉ có âm nhạc
thức tỉnh cảm giác âm nhạc của con người, đối với lỗ tai không thính âm nhạc
thì âm nhạc hay nhất cũng không có ý nghĩa gì cả, đối với nó, âm nhạc không
phải là đối tượng,…"[39, tr.175].
Như vậy, một đối tượng thẩm mỹ xuất hiện phải phụ thuộc vào nhu cầu
và cảm giác của chủ thể. Nếu anh ta không có nhu cầu về đối tượng thẩm mỹ
đó, sẽ không xuất hiện những cảm giác của anh ta về đối tượng và do vậy đối 20

tượng nằm ngoài phạm vi của nhu cầu, đối tượng nằm ngoài lĩnh vực sản
xuất.Ví dụ, chỉ có nhạc sĩ, nhạc công mới có nhu cầu về nhạc cụ. Còn ở người
không biết, không thích thú âm nhạc thì họ sẽ không có nhu cầu về điều đó.
Sản xuất phải dựa trên cơ sở những đối tượng thẩm mỹ mà nhu cầu hướng tới,
đồng thời sản xuất lại mở ra những đối tượng thẩm mỹ mới kích thích nhu cầu
thẩm mỹ. Do đó, quá trình sản xuất các đối tượng thẩm mỹ là một quá trình
thúc đẩy việc tiêu dùng các giá trị thẩm mỹ.
Tuy nhiên, sản xuất không chỉ tạo ra đối tượng cho tiêu dùng mà còn
xác định phương thức tiêu dùng đối tượng. Mác viết : “Cái đói cũng là cái
đói, nhưng cái đói được thỏa mãn bằng thịt nấu, và ăn bằng dao, nĩa thì khác
với cái đói dùng tay, móng và răng nuốt chửng thịt sống” [36, tr.866]. Đúng
là với mọi hình thức tiêu dùng, mỗi hình thức một kiểu, đều góp phần sản xuất ra
con người. Mác đã chỉ ra sự khác biệt trong cách thức tiêu dùng nhu cầu sinh
tồn giữa con người văn minh và con người ăn lông, ở lỗ. Ngay trong cách
thức tiêu dùng nhu cầu sinh tồn của con người đã thể hiện sự khác biệt rất lớn

Nhu cầu được sáng tạo ra những sản phẩm nghệ thuật = mắt, tai
v.v.
Tuy nhiên, không phải ngẫu nhiên mà các giác quan của con người
được điêu luyện và trở nên tinh nhạy như hiện nay. Mác cho rằng, sự hình
thành năm giác quan, là công việc của toàn bộ lịch sử đã diễn ra từ trước tới
nay. Đặc biệt, “ chỉ nhờ sự phong phú đã được phát triển về mặt vật chất, của
bản chất con người, thì sự phong phú của tính cảm giác chủ quan của con
người mới phát triển…”[39, tr.175 -176].
Là một trong những thuộc tính tâm lý của con người, nhu cầu thẩm mỹ
có mối quan hệ gần gũi với tình cảm thẩm mỹ. Đây là hai phạm trù thuộc ý
thức thẩm mỹ có phạm vi gần nhau trong cách thức thỏa mãn, nhưng trên thực
tế, người ta hay đánh đồng hay cặp phạm trù này do chưa làm rõ được đặc 22

trưng của nó. Tính xác định đối tượng là một dấu hiệu quan trọng để phân biệt
hai thuộc tính tâm lý này.
Mặc dù, tình cảm thẩm mỹ và nhu cầu thẩm mỹ đều mang tính xác định
về đối tượng song mức độ xác định đối tượng của chúng là rất khác nhau.
Nhu cầu thẩm mỹ được phân chia rõ hơn phụ thuộc vào đối tượng cụ thể của
nó là các loại hình và các thể loại nghệ thuật, vào những hình thức biểu hiện
cơ bản của cái đẹp trong thực tại khách quan. Người ta hay nói nhu cầu thơ
ca, âm nhạc hợp lý hơn so với việc nói tình cảm âm nhạc, tình cảm điện ảnh,
thơ ca. Sự phân chia tình cảm thẩm mỹ có có phạm vi rộng lớn hơn so với
nhu cầu thẩm mỹ. Khái niệm tình cảm thẩm mỹ bao gồm xúc động về mặt
cảm xúc, niềm vui, sự khâm phục, nỗi kinh ngạc, niềm tự hào, xốn xang, niềm
cay đắng…nảy sinh khi cảm thụ tác phẩm nghệ thuật và vẻ đẹp của thế giới
thực tại. Người ta cũng xếp tất cả những tình cảm về sự đối xứng, màu sắc
hình thức, tính uyển chuyển, tỷ lệ cân đối hài hòa là những tình cảm mang

nhu cầu có tính ổn định và chuyên biệt, nên trong quá trình hoạt động của
mình, nhu cầu thẩm mỹ thường đi tìm những khách thể quen thuộc, mang tính
ổn định. Tuy nhiên, quá trình sản xuất xã hội bao giờ cũng một mặt, đáp ứng
những nhu cầu có tính ổn định của con người mặt khác, lại mở rộng nhu cầu,
thúc đẩy sự phát triển nhu cầu. Theo đó, tâm lý của người tiêu dùng sẽ vừa
hướng tới những đối tượng thẩm mỹ quen thuộc vừa mở rộng phạm vi nhu
cầu thẩm mỹ của mình, bằng cách tích cực tiêu dùng những giá trị thẩm mỹ
mới. Vì vậy, nhu cầu thẩm mỹ, mặc dù là một cấu trúc tâm lý ổn định của cá
nhân, nhưng lại có tính năng động đặc biệt.
Tính năng động của nhu cầu thẩm mỹ thể hiện ở những giai đoạn phát
triển của nó. Thông thường người ta chia ra hai giai đoạn: thứ nhất con người
bắt đầu cảm thấy thiếu một cái gì đó và cảm giác ấy dần dần tăng lên; thứ hai,
sự căng thẳng đã nảy sinh giảm xuống và tắt dần theo qua trình những thiếu
hụt được loại trừ do chỗ con người tích cực khai thác đối tượng của nhu cầu 24

[14, tr.18]. Hai giai đoạn này xảy ra nối tiếp nhau theo quy luật chứ không
phải ngẫu nhiên. Nếu như ở nhu cầu sinh tồn của con người, chẳng hạn nhu
cầu ăn, nhu cầu uống …, tính chất định kỳ và tính quy luật theo thời gian
được thể hiện một cách đơn giản và rất rõ rệt thì với nhu cầu tinh thần, nhu
cầu cao cấp của con người, ranh giới giữa các giai đoạn phát triển của nó có
tính chất ước lệ. Việc thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ gắn với việc cảm thụ những
giá trị tinh thần của con người, gắn với việc phi đối tượng hóa thực tại bên
ngoài một cách độc đáo chứ không phải gắn với việc tiêu dùng trực tiếp các
giá trị vật chất.
Tính năng động của nhu cầu thẩm mỹ còn thể hiện thông qua động cơ
hành động của nhu cầu. Động cơ được hiểu là những trạng thái tâm lý năng
động của tâm lý con người, là trạng thái kích thích của cá nhân, trên phương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status