Huy động vốn tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín Chi nhánh Thăng Long - Pdf 25

Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài chính Ngân hàng
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô giáo,
TS. Nguyễn Thu Thủy, đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình hoàn thành khóa
luận tốt nghiệp.
Em chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong khoa Tài chính – Ngân hàng
Trường Đại học Thương mại đã tận tình truyền đạt kiến thức trong bốn năm học
tập. Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho
quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu cho em.
Em chân thành cảm ơn Ban giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Sài
Gòn Thương Tín – Chi nhánh Thăng Long. Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn đến các
anh chị Phòng giao dịch Đội Cấn – Chi nhánh Thăng Long đã cho em cơ hội tìm
hiểủ và thực hành các công việc tại Ngân hàng.
Cuối cùng em kính chúc Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự
nghiệp cao quý. Đồng kính chúc các anh chị Ngân hàng thương mại cổ phần Sài
Gòn Thương Tín Chi nhánh Thăng Long luôn dồi dào sức khỏe, đạt được nhiều
thành công tốt đẹp trong công việc.
Sinh viên
Lê Thị Thanh Huyền
SV: Lê Thị Thanh Huyền Lớp: K45H6
i
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài chính Ngân hàng
MỤC LỤC
MỤC LỤC ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU iii
LỜI NÓI ĐẦU 1
Mức thuận lợi và lợi ích của khách hàng gửi -ền 13
Mức độ đa dạng hoá của các hình thức huy động vốn 14
Diễn biến giá cổ phiếu của ngân hàng Sacombank 24

năm
35
Bảng 2.8 2.3.3 Biến động TGTK theo thời gian (2010 -
2012)
36
Bảng 2.9 2.3.4 Mối quan hệ giữa huy động vốn và sử
dụng vốn theo kì hạn
38
SV: Lê Thị Thanh Huyền Lớp: K45H6
iii
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài chính Ngân hàng
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
T.S Tiến sỹ
NHTM Ngân hàng thương mại
NHNN Ngân hàng nhà nước
Sacombank Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín
TCTD, XH Tổ chức tín dụng, xã hội
VTG Vốn tiền gửi
TGTK Tiền gửi tiết kiệm
TDH Trung dài hạn
SV: Lê Thị Thanh Huyền Lớp: K45H6
iv
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài chính Ngân hàng
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những phương diện đóng vai trò quyết định đối với quá trình hoạt
động kinh doanh của các NHTM là chính là hoạt động huy động vốn. Hoạt động
huy động vốn là nghiệp vụ truyền thống của các Ngân hàng thương mại cũng là nền

động tiền gửi tiết kiệm của NH Sacombank Chi nhánh Thăng Long.
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Về không gian, đề tài nghiên cứu tại NH Sacombank Chi nhánh Thăng Long.
Về thời gian, đề tài nghiên cứu số liệu thu thập trong 3 năm 2010, 2011, 2012
tại phòng kinh doanh của NH Sacombank Chi nhánh Thăng Long.
Về đối tượng nghiên cứu, đề tài nghiên cứu về tình hình huy động vốn, đi sâu
vào hiệu quả huy động tiền gửi tiết kiệm dân cư. Nghiên cứu định hướng và đề ra
giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả cho hoạt động huy động vốn tại Ngân
hàng Sacombank Chi nhánh Thăng Long.
4. Tổng quan tình hình nghiên cứu từ những công trình năm trước.
Đề tài nghiên cứu về hiệu quả huy động tiền gửi tiết kiệm trong một NHTM
là một đề tài rất thực tế, đi sâu vào một mảng trong hoạt động huy động vốn của
NHTM. Mặc dù đây không phải là vấn đề mới song các công trình nghiên cứu chủ
yếu chỉ nghiên cứu trên lĩnh vực vốn nói chung, chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về
hiệu quả huy động vốn tiền gửi tiết kiệm. Đối với các đề tài nghiên cứu về
Scombank Chi nhánh Thăng Long chỉ dừng lại ở các mảng như: Kế toán ngân hàng,
hoạt động tín dụng của ngân hàng, hay chất lượng công tác huy động vốn nói
chung. Chưa tìm thấy công trình nghiên cứu nào về đề tài huy động vốn tiền gửi tiết
kiệm tại Chi nhánh. Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Huy động tiền gửi tiết kiệm
tại NHTMCP Sài Gòn Thương Tín Chi nhánh Thăng Long”. Em đã tham khảo một
số tài liệu như:
Luận văn tốt nghiệp “Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân
hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Từ Liêm”– năm 2009, Sinh viên thực
hiện Nguyễn Thành Trung, Khoa tài chính - Ngân hàng trường Học viện Ngân
hàng.
SV: Lê Thị Thanh Huyền Lớp: K45H6
2
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài chính Ngân hàng
Luận văn tốt nghiệp “Giải pháp tăng cường huy động tiền gửi tiết kiệm tại

mại đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế
hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là
nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành
những định chế tài chính không thể thiếu được.
Ở Việt Nam: Theo khoản 3, điều 4, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 :
“Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt
động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này
nhằm mục tiêu lợi nhuận”
Luật Ngân hàng Nhà nước đưa ra định nghĩa: “Hoạt động ngân hàng là hoạt
động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên nhận tiền
gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán”.
Khi mới ra đời, hoạt động chủ yếu là cho vay và làm trung gian thanh toán,
nhưng ngày nay hoạt động của NHTM rất đa dạng. Tuy nhiên, NHTM vẫn duy trì
một số hoạt động cơ bản sau:
Thứ nhất: Về hoạt động huy động vốn
Đây là nghiệp vụ cơ bản, quan trọng nhất, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt
động của ngân hàng. Vốn được ngân hàng huy động dưới nhiều hình thức khác
nhau như: huy động dưới hình thức tiền gửi, đi vay, phát hành giấy tờ có giá hay
vay trên thị trường liên ngân hàng… Mặt khác trên cơ sở nguồn vốn huy động, ngân
hàng tiến hành cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất, phục vụ cho các
mục tiêu kinh tế của địa phương và cả nước. Trong đó các nguồn vốn trung hạn, dài
hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa
đất nước. Vốn ngắn hạn đáp ứng tốt nhu cầu vốn lưu động tham gia vào quá trình
sản xuất kinh doanh.
SV: Lê Thị Thanh Huyền Lớp: K45H6
4
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài chính Ngân hàng
Thứ hai: Về hoạt động sử dụng vốn
Đây là nghiệp vụ trực tiếp mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, nghiệp vụ sử

Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài chính Ngân hàng
Thứ ba: Các hoạt động khác
Là trung gian tài chính nên ngân hàng có rất nhiều lợi thế. Một trong những
lợi thế đó là ngân hàng thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa
và dịch vụ. Để thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng
đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như: thanh toán bằng séc, ủy
nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ…cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối
các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Mặt khác các NHTM còn tiến
hành môi giới, mua, bán chứng khoán cho khách hàng và làm đại lý phát hành
chứng khoán cho các công ty. Ngoài ra ngân hàng còn thực hiện các dịch vụ ủy thác
cho vay, ủy thác đầu tư, ủy thác cấp phát, ủy thác giải ngân và thu hộ…
Các hoạt động trên của ngân hàng nếu thực hiện tốt sẽ đảm bảo cho ngân
hàng tồn tại và phát triển vững mạnh trong môi trường cạnh tranh gay gắt như thị
trường hiện nay.
Tất cả các hoạt động của NHTM đều có mối liên hệ chặt chẽ thường xuyên
tác động qua lại lẫn nhau. Nguồn vốn huy động ảnh hưởng tới quyết định sử dụng
vốn, ngược lại nhu cầu sử dụng vốn ảnh hưởng tới quy mô, cơ cấu của nguồn vốn
huy động. Các hoạt động trung gian tạo thêm thu nhập cho ngân hàng nhưng mục
đích chính là thu hút khách hàng, qua đó tạo điều kiện cho việc huy động và sử
dụng vốn có hiệu quả.
1.1.2. Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại với tư cách là tổ chức tài chính trung gian nhận tiền
nhàn rỗi gửi rồi đem cho vay hoặc phát hành các chứng chỉ nợ, trái phiếu, kỳ phiếu,
…Ngân hàng thương mại nhận tiền gửi thanh toán của các cá nhân, tổ chức dưới
hình thức mở tài khoản thanh toán nhằm phục vụ nhu cầu thanh toán, chuyển tiền
một cách nhanh chóng, chính xác.
 Huy động vốn dưới hình thức tiền gửi từ tổ chức và cá nhân
 Tiền gửi thanh toán
Tiền gửi thanh toán là khoản tiền gửi mà người sử dụng có thể rút ra sử dụng

Trong dân chúng luôn tồn tại các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng. Khi
đó họ có thể tới ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ hộ và mong muốn ngân hàng sẽ
trả một khoản tiền lãi. Đó là hành vi gửi tiết kiệm tại ngân hàng. Để có thể sử dụng
tiền gửi, ngân hàng phải cam kết trả cho người gửi tiết kiệm một khoán lãi. Phần
SV: Lê Thị Thanh Huyền Lớp: K45H6
7
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài chính Ngân hàng
này được tính dựa trên số tiền gửi và kì hạn. Các ngân hàng sử dụng chiến lược để
tăng trưởng vốn tiền gửi như việc mở rộng mạng lưới Chi nhánh hoặc đưa ra các
hình thức huy động đa dạng và lãi suất hấp dẫn. Ngoài ra ngân hàng còn cho phép
khách hàng thế chấp sổ để vay vốn tiết kiệm. Tiền gửi tiết kiệm thuộc nhóm tài
khoản phi giao dịch, có định hướng hưởng lãi và nguồn vốn có độ ổn định cao. Đây
là nguồn vốn quan trọng bậc nhất của ngân hàng hiện đại.
 Tiền gửi của các ngân hàng khác
Để đảm bảo khả năng thanh hoản hoặc nhờ thanh toán hộ hoặc nằm trong
chiến lược sử dụng vốn của mình, các ngân hàng thường có những giao dịch nhận
tiền qua nhau. Ngân hàng gửi tiền tại một ngân hàng khác đưuọc coi là một khách
hàng và được hưởng những quyền lo như khách hàng gửi tiền thông thường.
 Các nguồn vốn phi tiền gửi
 Tiền vay
Các khoản vay ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động của các
NHTM, không chỉ về mặt quy mô đơn thuần mà chủ yếu mang ý nghĩa như là một
biện pháp quản lý các mục tài sản nợ. Các ngân hàng có thể đi vay từ nhiều nguồn
khác nhau.
Thứ nhất, vay ngân hàng Trung ương
Trong quan hệ với NHNN, các NHTM đóng vai trò là khách hàng thường
xuyên và NHNN với tư cách là Ngân hàng của các Ngân hàng, phải luôn luôn đóng
vai trò chủ nợ và là người cho vay “cuối cùng” đối với các NHTM. Để thực hiện
việc điều tiết khối lượng tiền cung ứng, NHNN thường xuyên phải thực hiện các

phiếu, trái phiếu. thời gian huy động vốn có thể là ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Huy động vốn ngắn hạn: để huy động vốn ngắn hạn, các ngân hàng thương mại phát
hành giấy tờ có giá ngắn hạn (dưới 12 tháng như : kì phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn
hạn, tín phiếu và giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
 Vốn phi tiền gửi khác
Ngoài vốn vay, vốn phi tiền gửi khác bao gồm : tiền trong thanh toán, nguồn
ủy thác, thuế chưa nộp, tiền lương chưa trả.
Một là, tiền trong thanh toán: Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt bao
gồm hoạt động thanh toán quốc tế, thanh toán trong nước và thanh toán nội bộ. Các
hoạt động này hình thành nguồn vốn trong thanh toán của các ngân hàng thương
mại.
SV: Lê Thị Thanh Huyền Lớp: K45H6
9
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài chính Ngân hàng
Hai là, các khoản trong chờ xử lý : Ngân hàng trong quá trình hoạt động
thường có giao dịch chưa xác định đúng phát sinh giao dịch mà phải chờ xử lý, khi
đó ngân hàng phải hạch toán giao dịch và tài khoản treo chờ xử lý. Ngân hàng có
thể coi đây là một nguồn vốn và được phép sử dụng khi chưa xác định được nguyên
nhân và quyết toán.
Ba là, tiền ủy thác
Tiền ủy thác là nguồn tiền mà ngân hàng thương mại được Nhà nước hoặc
các tổ chức tín dụng khác ủy nhiệm cho thực hiện một nhiệm vụ nào đó. Các nghiệp
vụ ủy thác gồm : ủy thác cho vay, ủy thác thanh toán, ủy thác đầu tư, ủy thác cấp
phát…Với chức năng này, ngân hàng thương mại thể hiện vai trò là một tổ chức tài
chính trung gian, kênh dẫn vốn cho những chủ thể nhận vốn đúng mục đích. Nguồn
vốn này bổ sung vào tổng vốn kinh doanh của ngân hàng thương mại.
1.2. Huy động tiền gửi tiết kiệm trong Ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm về vốn tiền gửi tiết kiệm của Ngân hàng thương mại.
Nguồn vốn của NHTM là toàn bộ các nguồn tiền tệ mà ngân hàng tạo lập,

gửi của NHTM. Tiền gửi tiết kiệm bao gồm nhiều loại khác nhau, căn cứ vào các
tiêu thức phân loại chủ yếu sau đây:
 Theo kỳ hạn của nguồn tiền bao gồm có
 Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể
rút tiền theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày làm việc nào của tổ
chức nhận tiền gửi tiết kiệm.
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là một sản phẩm mà ngân hàng cung ứng để
giúp khách hàng có tiền nhàn rỗi muốn gửi vào ngân hàng vì mục tiêu an toàn và
sinh lời nhưng không thiết lập được mục tiêu sử dụng trong tương lai. Khi mở tài
khoản này khách hàng có thể gửi tiền và rút tiền ra bất cứ lúc nào. Các giao dịch
này không thường xuyên, chủ yếu là giao dịch gửi tiền và rút tiền trực tiếp. Do tính
chất không ổn định nên lãi suất của tiền gửi tiết kiệm này rất thấp.
Khi gửi tiền tiết kiệm không kỳ hạn khách hàng sẽ được ngân hàng cấp một
sổ tiền gửi tiết kiệm. Sổ tiền gửi này sẽ phản ánh tất cả các giao dịch gửi tiền, rút
tiền, số dư hiện có, tiền lãi được hưởng hoặc khách hàng được cấp một báo cáo tài
SV: Lê Thị Thanh Huyền Lớp: K45H6
11
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài chính Ngân hàng
khoản sau mỗi một giao dịch. Mỗi lần giao dịch, khách hàng phải xuất trình sổ tiết
kiệm và chỉ có thể thực hiện được các giao dịch ngân quỹ như gửi tiền và rút tiền,
chứ không thể thực hiện được giao dịch thanh toán như trong trường hợp tiền gửi
thanh toán.
 Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền chỉ có thể
rút tiền sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi
tiết kiệm.
Đây là khoản tiền tích lũy có tính chất như tiền gửi có kỳ hạn thông thường.
Khách hàng gửi vì mục tiêu an toàn và sinh lời. Chủ yếu là những cá nhân có thu

ích tốt nhất ngân hàng đó sẽ huy động được vốn nhàn rỗi từ khách hàng. Khi đánh
giá chất lượng công tác huy động vốn, người ta thường xem xét các khía cạnh như:
lãi suất huy động, địa điểm và giờ giao dịch có thuận tiện không, thái độ nhân viên
như thế nào…Một ngân hàng mang lại nhiều lợi ích cho khách hàng nhất là ngân
hàng thoản mãn trên sự kì vọng của khách hàng.
 Uy tín ngân hàng và số lượng vốn bị rút trước hạn.
Uy tín của ngân hàng có sự tác động tới công tác huy động vốn và sử dụng
vốn của ngân hàng. Khi ngân hàng có uy tín, khách hàng sẽ tìm đến với ngân hàng
đó để giao dịch, ngân hàng thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi từ khách hàng. Ngược
lại, khi ngân hàng mất uy tín khách hàng sẽ không đến với ngân hàng bởi vì họ sợ
gặp rủi ro. Khi đó, những khách hàng đã gửi tiền tại ngân hàng sẽ tìm cách rút tiền
gửi ra khỏi ngân hàng mặc dù số tiền gửi đó chưa đến hạn và khách hàng phải chịu
thiệt vì số tiền lãi mà họ được hưởng được tính theo lãi suất thấp hơn hoặc lãi suất
bằng không. Nếu số lượng vốn bị rút trước hạn quá lớn, ngân hàng đó sẽ rơi vào
tình trạng mất cân đối giữa huy động vốn và sử dụng vốn. Ngân hàng sẽ không còn
khả năng thanh toán và cuối cùng là phá sản.
Vì vậy, để đánh giá chất lượng công tác huy động vốn của một ngân hàng
người ta còn so sánh tỷ lệ rút vốn trước hạn của một ngân hàng với các ngân hàng
khác. Nếu tỷ lệ này cao thì chứng tỏ uy tín của ngân hàng không cao, công tác huy
động vốn chưa được phát huy tốt.
SV: Lê Thị Thanh Huyền Lớp: K45H6
13
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài chính Ngân hàng
 Mức độ đa dạng hoá của các hình thức huy động vốn.
Trong thời gian gần đây, một số ngân hàng đã tích cực đa dạng hoá các hình
thức huy động vốn TGTK. Việc đa dạng hoá các hình thức huy động là chỉ tiêu
quan trọng để đánh giá công tác huy động. Ngân hàng dựa vào tiềm năng của mình,
nhu cầu của khách hàng mà tạo ra sản phẩm TGTK phù hợp cho khách hàng. Một
danh mục các sản phẩm được đa dạng sẽ có sức cạnh tranh và duy trì khả năng sinh

Sự phát triển của các ngân hàng đều tập trung vào mục tiêu lợi nhuận và tăng
trưởng dư nợ. Để tăng trưởng dư nợ thì ngân hàng phải mở rộng được doanh số cho
vay, điều này liên quan tới nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng lớn hay nhỏ. Việc
gia tăng nguồn vốn biểu hiện qua nghiệp vụ huy động vốn. Trong nguồn vốn huy
động thì vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng không nhỏ. Đây là nguồn
vốn rất có tiềm năng.
Chỉ tiêu 2 : Tỷ trọng vốn tiền gửi tiết kiệm trong tổng vốn huy động
Tỷ trọng vốn tiền gửi tiết kiệm Số dư tiền gửi tiết kiệm
trong tổng vốn huy động Tổng vốn huy động
Chỉ tiêu này đánh giá tỷ lệ vốn huy động được so với tổng nguồn vốn, cho
thấy trong tổng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng có bao nhiêu vốn hình thành từ
huy động tiền gửi tiết kiệm. Tiền gửi tiết kiệm chiếm phần lớn trong tổng vốn huy
động của NHTM. Xem xét chỉ tiêu này, các NHTM biết được tỷ trọng của TGTK là
bao nhiêu, từ đó có các biện pháp quản lý tốt các nguồn cho vay.
- Cơ cấu vốn tiền gửi tiết kiệm
Số dư theo từng khoản TGTK
Cơ cấu vốn tiền gửi tiết kiệm =
Tổng TGTK
Mỗi loại TGTK có yêu cầu khác nhau về chi phí, thanh khoản, thời hạn…Do
đó, việc xác định rõ cơ cấu huy động sẽ giúp cho ngân hàng hạn chế rủi ro có thể
gặp phải và tối thiểu hóa chi phí đầu vào. Ngân hàng có nguồn tiền có kỳ hạn càng
lớn càng tạo nên sự ổn định trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Ngân hàng
có nguồn TGTK trung và dài hạn càng lớn tạo điều kiện cho ngân hàng phát triển
hoạt động tín dụng trung và dài hạn cũng như hoạt động đầu tư của ngân hàng.
SV: Lê Thị Thanh Huyền Lớp: K45H6
=
=
15
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài chính Ngân hàng

Khoa Tài chính Ngân hàng
Bên cạnh chi phí chính là lãi suất, trong quá trình huy động vốn còn có các chi
phí khác liên quan đến việc tạo lập nguồn vốn TGTK như chi phí tiền lương cho
cán bộ huy động, chi phí in ấn, chi phí giao dịch quảng cáo…Tuy chi phí này chiếm
tỷ trọng nhỏ nhưng tiết kiệm được cũng góp phần giảm bớt chi phí và tăng lợi
nhuận cho ngân hàng.
 Nhóm 3 : Nhóm chỉ tiêu phản ánh sự ổn định của nguồn vốn tiền gửi tiết kiệm
Đánh giá đúng mức độ ổn định của nguồn vốn TGTK giúp ngân hàng xác định
kỳ hạn sử dụng vốn hợp lý, đồng thời xác định được mức thanh toán cần thiết.
Chỉ tiêu 1: Số vòng quay của nguồn vốn
Doanh số chi trả nguồn vốn huy động trong kì
Số vòng quay vốn TGTK =
Số dư bình quân của nguồn vốn TGTK huy động trong kì
Chỉ tiêu 2 : Thời hạn bình quân của nguồn vốn TGTK
Thời hạn bình quân Thời gian trong kì
của nguồn vốn TGTK Số vòng quay của ngồn vốn TGTK
Chỉ tiêu 3 : Tỷ lệ biến động của nguồn vốn TGTK
Độ lệch chuẩn của nguồn vốn TGTK
Tỷ lệ biến động của nguồn vốn TGTK =
Số dư TGTK bình quân trong kì
Tỷ lệ này cho ta biết sự biến động của số dư TGTK tại các thời điểm so với số
dư TGTK bình quân tong kì. Nếu chỉ tiêu này càng lớ chứng tỏ nguồn tiền gửi biến
động càng nhiều và ngược lại. Tỷ lệ biến động có ý nghĩa trong xác định lượng tiền
dự trữ để đảm bảo nhu cầu TGTK bị rút ra khỏi ngân hàng trong kì.
 So sánh vốn tiền gửi tiết kiệm với việc sử dụng vốn.
So sánh vốn huy động tiền gửi tiết kiệm với việc sử dụng vốn nhằm đánh giá
nguồn vốn TGTK đáp ứng được bao nhiêu phần trăm trong nguồn vốn sử dụng của
ngân hàng. Qua việc so sánh chi tiết theo kỳ hạn để xem xét nguồn vốn TGTK theo
kỳ hạn của ngân hàng đáp ứng bao nhiêu phần trăm so với việc sử dụng vốn của
ngân hàng. Từ đó đánh giá hiệu quả của nguồn vốn phân tích. Nếu một NHTM có

hàng hoá - dịch vụ cũng như sức mua của đồng tiền tạo cho người dân cảm giác tin
tưởng thì họ mới an tâm gửi tiền vào ngân hàng. Ngược lại, một nền kinh tế suy
thoái hay có lạm phát cao thì người dân sẽ có xu hướng giữ tiền mặt hoặc mua vàng
hay ngoại tệ mạnh để dự trữ. Bên cạnh các yếu tố vĩ mô như lạm phát hay suy
thoái…hoạt động huy động vốn còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố như mật độ dân
SV: Lê Thị Thanh Huyền Lớp: K45H6
18
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài chính Ngân hàng
cư trong địa bàn hoạt động, thu nhập trung bình của dân cư, của các tổ chức kinh tế
trong địa bàn…Nếu ngân hàng có địa bàn hoạt động ở khu vực tập trung đông dân
cư và các tổ chức kinh tế thì sẽ có khả năng huy động được nhiều vốn hơn các ngân
hàng hoạt động ở địa bàn miền núi hay hải đảo xa xôi. Mức thu nhập của dân cư
cũng là tác nhân quyết định đến quy mô của nguồn vốn huy được, điều này có thể
dễ dàng thấy được rằng nếu như người dân có thu nhập tương đối cao, sau khi đã
chi trả cho các nhu cầu của cuộc sống mà vẫn còn lại một khoản tiền thì họ sẽ gửi
tiền vào ngân hàng.
1.2.4.2. Nhóm các yếu tố thuộc khách hàng
Khách hàng là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của Ngân
hàng. Tâm lý, thói quen, thu nhập là các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả
hoạt động huy động vốn tiền gửi tiết kiệm.
 Tâm lý, thói quen khách hàng
Tập quán tiêu dùng của người dân có tầm ảnh hưởng rất quan trọng đối với
việc huy động vốn của ngân hàng. Rõ ràng tại những khu vực mà người dân có thói
quen gửi tiền vào ngân hàng thì ngân hàng sẽ huy động vốn được dễ dàng hơn nhiều
so với ở những khu vực người dân có thói quen cất trữ tiền trong nhà hoặc đổi ra
vàng, đầu tư bất động sản…
Đồng thời, thói quen thanh toán khi mua hàng hóa cũng góp phần làm tăng
hay giảm nguồn vốn huy động của ngân hàng. Nếu việc thanh toán không dùng tiền
mặt là phổ biến, hầu hết người dân đều có tài khoản trong ngân hàng, tạo nguồn vốn

Thứ nhất, các chính sách về giá cả, lãi suất tiền gửi, tỷ lệ hoa hồng và chi phí
dịch vụ được coi là giá cả của sản phẩm dịch vụ tài chính. Ngân hàng sử dụng hệ
thống lãi suất tiền gửi như một công cụ quan trọng trong việc huy động tiên gửi và
thay đổi quy mô nguồn vốn. Để duy trì và thu hút thêm nguồn vốn TGTK Ngân
hàng cẩn ấn định mức lãi suất cạnh tranh thực hiện những ưu đãi về giá cho những
khách hàng lớn, gửi tiền thường xuyên. Hơn nữa, hệ thống lãi suất cần linh hoạt,
phù hợp vớí quy mô và cơ cấu nguồn vốn. Quy mô và cơ cấu nguồn vốn còn bị chi
phối bởi giá cả củ các dịch vụ khác như phí chuyển tiền, phí dịch vụ thanh toán,
ngân quỹ.
Thứ hai, các chính sách về tổ chức- kỹ thuật: Đây là các chính sách và biện
pháp nhằm làm thuận lợi, nhanh chóng, đơn giản trong quan hệ với khách hàng.
Bao gồm việc bố trí mạng lới thu hút vốn, hoàn thiện công nghệ Ngân hàng, cơ chế
SV: Lê Thị Thanh Huyền Lớp: K45H6
20
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Tài chính Ngân hàng
tài chính đồng thời tổ chức thông suốt hệ thống thanh toán sao cho nhanh chóng, an
toàn, chính xác.
Thứ ba, các chính sách trong phục vụ và giao tiếp: Các chính sách này được
các NHTM rất quan tâm nhằm tạo, củng cố uy tín của mình trên thị trường, gắn bó
với khách hàng truyền thống và hấp dẫn khách hàng mới. Trong điều kiện khó có
thể duy trì sự khác biệt về sản phẩm và giá cả như hiện nay, chất lượng dịch vụ
khách hàng trở thành công cụ cạnh tranh vô cùng quan trọng để thu hút nguồn vốn.
Thái độ phục vụ thân thiện, chu đáo, bố trí hệ thống thanh toán khoa học là những điều
hết sức cần thiết để giữ vững khách hàng hiện có và thút thêm khách hàng.

 Uy tín của ngân hàng
Uy tín của ngân hàng là hình ảnh của ngân hàng trong lòng khách hàng, là
niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng. Uy tín là tài sản vô hình của ngân hàng,
cũng là tài sản quý trong công tác huy động vốn, khi đó khách hàng sẽ tin tưởng vào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status