Phát triển hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam -chi nhánh Hưng Yên - Pdf 25

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Minh Hạnh
LỜI CẢM ƠN
Hoạt động ngân hàng là lĩnh vực không thể thiếu đối với sự phát triển kinh tế- xã hội.
Những năm qua kết quả từ hoạt động kinh doanh của ngành Ngân hàng đã đóng góp một
phần hết sức quan trọng vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước. Trong bối cảnh nền
kinh tế toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ, sự cạnh tranh trong lĩnh vực Ngân hàng ngày càng
trở nên gay gắt cả về mức độ, phạm vi và sản phẩm, dịch vụ cung ứng trên thị trường.
Cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội, nhu cầu của khách hàng ngày càng cao trong sử
dụng sản phẩm, dịch vụ hết sức đa dạng, phức tạp. Khách hàng đòi hỏi những sản phẩm
chất lượng cao với nhiều tiện ích, giá cả hợp lý từ phía Ngân hàng.
Được sự quan tâm của khoa tài chính ngân hàng cùng sự giúp đỡ của ngân hàng công
thương Việt Nam chi nhánh Hưng Yên, qua thời gian thực tập tại chi nhánh em đã được
nghiên cứu tìm hiểu thực tế hoạt động của ngân hàng, điển hình là hoạt động cho vay đối
với khách hàng cá nhân. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Nguyễn Thị Minh Hạnh
và các cô chú, anh chị tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam- chi nhánh Hưng
Yên, đặc biệt là các cô chú anh chị phòng khách hàng cá nhân đã tận tình giúp đỡ để em
hoàn thành bài khóa luận này. Mặc dù đã cố gắng song do kiến thức của em còn hạn chế
nên rất mong nhận được sự quan tâm của quý thầy cô!
MỤC LỤC
SV: Trịnh Thị Ngọc Lê Lớp: K45H1
i
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Minh Hạnh
4. Phương pháp nghiên cứu 2
CHƯƠNG 1 4
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ
NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
Cơ cấu cho vay thời hạn 31
Bảng 2.7: Cơ cấu dư nợ theo thời hạn 31
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
SV: Trịnh Thị Ngọc Lê Lớp: K45H1
ii

dân ngày càng được nâng cao thì nhu cầu của họ cũng gia tăng tương ứng, hứa hẹn khả
năng phát triển cao cho loại hình cho vay khách hàng cá nhân ở các Ngân hàng. Tuy vậy,
thị trường cho vay đối với khách hàng cá nhân vẫn còn khá nhỏ bé và chưa được các ngân
hàng thương mại khai thác triệt để. Việc phát triển thị trường cho vay đối với khách hàng
cá nhân sẽ giúp ngân hàng tăng thêm doanh thu cũng như hình ảnh của mình đối với người
dân. Trước tình hình đó, ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam cũng đã không ngừng hoàn
thiện và nâng cao các sản phẩm cho vay khách hàng cá nhân của mình.
Qua thời gian thực tập tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam- Chi nhánh
Hưng Yên, một mặt nhận thấy Chi nhánh đã có sự quan tâm đến khoản mục cho vay khách
hàng cá nhân, tiềm năng mở rộng hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của chi
nhánh còn khá lớn và tầm quan trọng của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân đối với sự
phát triển lâu dài của chi nhánh.Vì vậy việc tìm hiểu và phân tích hoạt động tín dụng, nhất
là hoạt động cho vay khách hàng cá nhân là hết sức cần thiết đối với Chi nhánh trong điều
kiện hiện nay. Chi nhánh Hưng Yên nằm tại thành phố Hưng Yên, trung tâm văn hóa xã
hội của cả tỉnh, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp ,thương mại dịch vụ… đang phát triển,
do đó việc đầu tư vốn ngân hàng cho khách hàng cá nhân có ý nghĩa quan trọng đối với sự
phát triển của thành phố.
Với quy mô, điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật và trình độ của cán bộ nhân viên
còn nhiều tiềm năng, quan hệ tín dụng ngày càng được mở rộng.Việc phát triển hoạt động
cho vay khách hàng cá nhân không phải lúc nào cũng thuận lợi, dễ dàng. Các quy trình, thủ
SV: Trịnh Thị Ngọc Lê Lớp: K45H1
1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Minh Hạnh
tục cho vay luôn đòi hỏi phải cải tiến, đảm bảo hiệu quả cho khách hàng và ngân hàng.
Xuất phát từ thực tế đó, em đã chọn đề tài “Phát triển hoạt động cho vay khách hàng cá
nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam -chi nhánh Hưng Yên.
2. Mục đích nghiên cứu
-Hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về hoạt động cho vay.
-Kết hợp lý thuyết với thực trạng hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân tại
ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam- chi nhánh Hưng Yên, đánh giá các ưu điểm và

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về hoạt động cho vay và hiệu quả hoạt đông cho vay đối
với khách hàng cá nhân của NHTM.
Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP
Công Thương – chi nhánh Hưng Yên.
Chương 3: Các kết luận, phát hiện qua nghiên cứu và hướng giải quyết nhằm phát triển
hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Công Thương
Việt Nam-Chi nhánh Hưng Yên.
SV: Trịnh Thị Ngọc Lê Lớp: K45H1
3
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Minh Hạnh
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ
NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
1.1 Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung
đối với từng cộng đồng địa phương nói riêng. Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức
năng hay các dịch vụ mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Cùng với sự phát triển của nền
kinh tế, ngày càng có nhiều các tổ chức tài chính khác nhau cung cấp các dịch vụ ngân hàng
như cho vay, uỷ thác đầu tư, nhận tiền gửi, ngược lại các NHTM cũng đang mở rộng và đa
dạng hoá các loại hình dịch vụ của mình. Do đó, rất dễ có sự nhầm lẫn giữa loại hình NHTM
và các trung gian tài chính khác. Peter Rose đã định nghĩa về NHTM như sau: “Ngân hàng là
loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc
biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so
với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”.Như vậy, có thể phân biệt NHTM
với các trung gian tài chính khác ở chỗ NHTM là tổ chức kinh tế duy nhất được phép thực
hiện nghiệp vụ thanh toán làm trung gian thanh toán trong nền kinh tế. NHTM là một tổ chức
kinh doanh tiền tệ với rất nhiều hoạt động đa dạng trong đó có ba hoạt động chính đó là: nhận
tiền gửi, cho vay và hoạt động đầu tư.
Nhận tiền gửi là hoạt động huy động vốn của ngân hàng từ những nguồn tiền chưa được

vốn cho khách hàng vay với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời
gian xác định. Phân tích khách hàng trong quan hệ cho vay này chính là phân tích cho vay.
Bởi vì cho vay là hoạt động sinh lời lớn nhất song rủi ro cao nhất cho NHTM nên để có một
món cho vay đạt chất lượng thì các NHTM thường đưa ra một qui trình phân tích khách hàng
chặt chẽ. Rủi ro từ cho vay có rất nhiều nguyên nhân đều có thể gây ra tổn thất, làm giảm thu
nhập của ngân hàng. Có nhiều khoản cho vay mà tổn thất có thể chiếm phần lớn vốn của chủ,
đẩy ngân hàng đến phá sản. Do vậy các ngân hàng thường cân nhắc kĩ lưỡng, ước lượng khả
năng rủi ro và sinh lời khi quyết định cho vay. Đó chính là quá trình phân tích trước và trong
khi cho vay.
Mục tiêu của phân tích cho vay là xác định rủi ro và các biện pháp hạn chế rủi ro. Nội
dung của phân tích cho vay là thu thập và phân tích thông tin nhằm xác định uy tín, tư cách
pháp lý, sức mạnh tài chính và khả năng thanh toán của người vay,… trong quá khứ, hiện tại
và tương lai, hiệu quả của dự án,…
Có nhiều cách phân loại cho vay, để phục vụ cho đề tài nghiên cứu em xin đưa ra cách
phân loại khách hàng theo đối tượng khách hàng. Theo cách phân loại này thì cho vay bao
gồm cho vay khách hàng doanh nghiệp, cho vay tổ chức tài chính và cho vay khách hàng cá
nhân.
Khách hàng doanh nghiệp bao gồm: doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, công ty hợp danh.
Hình thức cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp rất đa dạng như cho vay ngắn hạn theo
món, vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, cho vay theo dự án đầu tư, cho vay hợp vốn,…
Khách hàng tổ chức tài chính ở đây bao gồm các ngân hàng khác, hợp tác xã tín dụng,
các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính,… Hình thức cho vay đối với các tổ chức tài chính
cũng hết sức đa dạng. Thường cho vay NHTM nhằm đáp ứng các nhu cầu ngắn hạn của các
ngân hàng này và các giao dịch thường diễn ra trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng.
SV: Trịnh Thị Ngọc Lê Lớp: K45H1
5
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Minh Hạnh
Khách hàng cá nhân ở đây là tất cả các cá nhân có năng lực pháp luật dân sự, năng lực
hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo qui định của pháp luật. Đối tượng vay vốn đa

Nhu cầu vay của khách hàng thường kém nhạy cảm với lãi suất, thông thường người đi vay
quan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ phải chịu. Mức thu nhập và trình độ dân
trí là hai nhân tố tác động rất lớn đến nhu cầu vay của khách hàng.
SV: Trịnh Thị Ngọc Lê Lớp: K45H1
6
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Minh Hạnh
Rủi ro đối với cho vay KHCN: cho vay KHCN có mức độ rủi ro lớn và được coi là tài
sản rủi ro nhất trong danh mục tài sản của ngân hàng. Xuất phát từ bản thân khách hàng vay
vốn có thể có sự biến động về tình hình tài chính dẫn đến mất khả năng chi trả hay khi khách
hàng cố tình không chịu trả nợ, hoặc do sự biến động về tình trạng sức khoẻ, công việc…
Việc thẩm định khả năng trả nợ của các cá nhân hoặc hộ gia đình cũng hết sức khó khăn.
Ngoài ra, để có được khoản vay có nhiều khách hàng giấu các thông tin về tình hình sức
khoẻ và công việc trong tương lai của mình nên các ngân hàng dễ gặp phải rủi ro đạo đức khi
cho vay. Do khoản cho vay khách hàng cá nhân có rủi ro cao nhất nên các ngân hàng thường
yêu cầu phải có tài sản đảm bảo khi vay và yêu cầu người vay phải mua bảo hiểm thất nghiệp,
bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm cho hàng hoá đã mua.
Lãi suất cho vay: do quy mô của các khoản vay thường nhỏ (trừ những khoản cho vay
để mua bất động sản), dẫn đến chi phí để cho vay (về thời gian, nhân lực đi thẩm định, quản
lý các khoản cho vay này) cao đồng thời rủi ro của các khoản vay này cũng rất cao. Do vậy,
lãi suất cho vay KHCN thường cao hơn lãi suất các khoản cho vay khác của NHTM.
Từ trước đến nay, cho vay KHCN vẫn được các ngân hàng coi là khoản mục mang lại
lợi nhuận khá cao với lãi suất “cứng nhắc”. Điều đó có nghĩa là nó đủ để bù đắp chi phí huy
động vốn của ngân hàng, không như hầu hết các khoản cho vay khác hiện nay với lãi suất
thay đổi theo điều kiện thị trường, như vậy với cho vay KHCN ngân hàng phải chịu rủi ro về
lãi suất khi chi phí huy động vốn tăng lên. Tuy nhiên, các khoản vay này thường được định
giá rất cao (vì đã bao hàm cả một phần bù rủi ro lãi suất) đến mức mà bản thân lãi suất vay
vốn trên thị trường lẫn tỷ lệ tổn thất tín dụng phải tăng lên đáng kể thì hầu hết các khoản cho
vay KHCN mới không mang lại lợi nhuận. Nguồn trả nợ của khách hàng được trích từ thu
nhập, thu nhập này có thể thay đổi tuỳ theo tình trạng công việc, sức khoẻ của người vay cũng
như tình hình sản xuất kinh doanh của họ. Những khách hàng có việc làm, mức thu nhập ổn

nhân, hộ gia đình. Đặc điểm của khoản vay này là thời gian dài và quy mô vay là lớn.
 Cho vay KHCN nhằm phục vụ mục đích tiêu dùng
Đó là các khoản cho vay phục vụ nhu cầu cải thiện đời sống như mua sắm phương
tiện, đồ dùng sinh hoạt, du lịch, học hành, giải trí,… Đặc điểm của khoản vay này là quy mô
nhỏ, thời gian ngắn, rủi ro thấp hơn cho vay phục vụ mục đích cư trú.
 Cho vay KHCN nhằm phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh
Đó là các khoản cho vay để thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh nhỏ ở từng
hộ gia đình, vay để buôn bán, thuê cửa hàng,… Đặc điểm của các khoản cho vay này là thời
hạn thường dài, qui mô tuỳ thuộc vào phương án kinh doanh của khách hàng, rủi ro của khoản
cho vay này rất cao và có khả năng xảy ra rủi ro đạo đức.
1.2.2.2. Căn cứ vào phương thức hoàn trả
 Cho vay KHCN trả một lần khi đáo hạn
Là các khoản vay ngắn hạn của cá nhân và hộ gia đình để đáp ứng nhu cầu tiền mặt tức
thời và được thanh toán một lần khi khoản vay đáo hạn. Qui mô của món vay là tương đối
nhỏ, các khoản vay trả một lần thường ngắn hạn và được dùng để chi trả cho các chuyến đi
nghỉ, mua các dụng cụ gia đình hoặc sửa chữa ô tô, nhà ở… Rủi ro các món vay này là không
lớn lắm.
 Cho vay trả góp
Là khoản cho vay ngắn hạn hoặc trung hạn được thanh toán làm hai hoặc nhiều lần
liên tiếp (thường theo tháng hoặc quý). Khoản cho vay được trả làm nhiều lần theo thỏa thuận
giữa ngân hàng và khách hàng, phương thức này được dùng để tài trợ cho việc mua sắm các
SV: Trịnh Thị Ngọc Lê Lớp: K45H1
8
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Minh Hạnh
vật dụng đắt tiền như ô tô, nhà,… hoặc để tài trợ cho các phương án sản xuất kinh doanh, thuê
cửa hàng, mua sắm các tài sản lưu động khác,… Nhìn chung, các khoản cho vay trả góp này
mang lãi suất cố định, tuy nhiên loại mang lãi suất thả nổi cũng đang dần trở nên phổ biến.
Thường thì trong tổng khối lượng cho vay tiêu dùng do các NHTM cung cấp thì hơn 80%
được thực hiện trên cơ sở trả góp. Điều này xuất phát từ việc khả năng tài chính của khách
hàng không đủ để chi trả khoản vay một lần duy nhất thêm vào đó việc định kỳ trả nợ vào mỗi

SV: Trịnh Thị Ngọc Lê Lớp: K45H1
9
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Minh Hạnh
- Kỹ thuật và quy trình nghiệp vụ của hình thức cho vay này rất phức tạp.
 Cho vay trực tiếp
Là hình thức cho vay mà ngân hàng và khách hàng trực tiếp gặp nhau để tiến hành cho
vay hoặc thu nợ.
Hình thức này có những ưu điểm sau:
Việc cho vay tiến hành trực tiếp giữa ngân hàng với khách hàng do vậy ngân hàng có
thể sử dụng triệt để trình độ, kiến thức, kinh nghiệm và kĩ năng của cán bộ tín dụng, do đó các
khoản vay này thường có chất lượng cao hơn so với cho vay gián tiếp thông qua các doanh
nghiệp bán lẻ.
Cán bộ tín dụng khi cho vay đặc biệt coi trọng đến chất lượng các khoản vay, song
doanh nghiệp bán lẻ hàng hoá, dịch vụ thường coi trọng nhiều đến việc tăng doanh số bán
hàng hơn chất lượng các khoản vay, hơn nữa các doanh nghiệp thường đưa ra quyết định cho
vay một cách nhanh chóng, nên dẫn đến tình trạng có những khoản cho vay cấp ra không
chính đáng, ngược lại có thể từ chối khách hàng tốt của mình, như vậy hình thức này đã khắc
phục nhược điểm này nếu cho vay gián tiếp.
Hình thức cho vay trực tiếp linh hoạt hơn hình thức cho vay gián tiếp vì khi quan hệ trực
tiếp giữa ngân hàng với khách hàng sẽ xử lý tốt các phát sinh, hơn nữa có khả năng làm thoả
mãn quyền lợi cho cả ngân hàng và khách hàng.
Cho vay trực tiếp với đối tượng khách hàng là rất rộng do đó việc đưa ra các dịch vụ,
tiện ích mới là rất thuận lợi, đồng thời là hình thức để tăng cường và quảng bá hình ảnh của
ngân hàng đến với khách hàng.
Tuy nhiên, hình thức cho vay này cũng có những mặt hạn chế:
Việc mở rộng và tăng doanh số cho vay không thuận lợi bằng hình thức cho vay KHCN
gián tiếp. Do cán bộ ngân hàng phải làm việc trực tiếp với khách hàng nên Ngân hàng tốn
nhiều thời gian và chi phí so với hình thức cho vay gián tiếp, nhất là khi lượng khách hàng
đến đông cùng một thời gian sẽ gây khó khăn cho Ngân hàng.
1.2.2.4. Căn cứ vào biện pháp bảo đảm tiền vay:

Loại 2 Cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ tiền vay. Khi khách hàng có nhu
cầu vay vốn nhưng không có tài sản đảm bảo hoặc tài sản đó không đáp ứng được các điều
kiện của ngân hàng thì ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng sử dụng chính tài sản được hình
thành từ nguồn tài trợ của ngân hàng làm tài sản đảm bảo. Nếu khách hàng không có khả năng
trả nợ, ngân hàng sẽ phát mại tài sản đó để thu nợ. Để đảm bảo khách hàng không bán tài sản
hoặc sử dụng không cẩn thận làm giảm giá trị của tài sản, ngân hàng thường yêu cầu khách
hàng phải cam kết bảo quản tài sản, mua bảo hiểm và người thụ hưởng là ngân hàng, đồng
thời chuyển toàn bộ giấy tờ sở hữu cho ngân hàng.
 Cho vay không có tài sản bảo đảm
Là cho vay dựa trên uy tín (tín chấp) hoặc bảo lãnh của bên thứ ba, không có tài sản bảo
đảm. Ngân hàng lựa chọn các khách hàng có uy tín và khả năng trả nợ tốt để cho vay. Ngân
hàng cho khách hàng vay tiền để đáp ứng nhu cầu của khách hàng trên cơ sở tín chấp lương,
chủ yếu được áp dụng đối với khách hàng có thu nhập ổn định, thu nhập ngoài việc trang trải
các chi tiêu thường xuyên còn có một phần tích luỹ để trả nợ vay (công chức, viên chức trong
biên chế nhà nước, nhân viên có hợp đồng lao động dài hạn,…), ngoài ra thu nhập hình thành
từ sản xuất kinh doanh cũng có thể được xem xét dùng làm nguồn trả nợ. Hình thức này phù
hợp với những khoản vay giá trị không lớn, thời hạn vay ngắn.
SV: Trịnh Thị Ngọc Lê Lớp: K45H1
11
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Minh Hạnh
1.2.3 Quy trình cho vay đối với khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại.
Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ xin vay của KHCN. Khi khách hàng có nhu cầu vay vốn, họ
đến gặp nhân viên của ngân hàng và ghi những thông tin cần thiết vào hồ sơ xin vay. Cán bộ
tín dụng sẽ hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ cho vay đầy đủ và đúng quy định theo mẫu ngân
hàng bao gồm: đơn xin vay vốn, phương án vay vốn và kế hoạch trả nợ, danh mục các tài sản
cầm cố, thế chấp và giấy tờ liên quan, các giấy tờ chứng minh nguồn thu nhập (nếu có), hộ
khẩu, chứng minh thư nhân dân và các giấy tờ liên quan khác.
Bước 2: Thẩm định tín dụng. Đây là bước quan trọng nhất trong quy trình cho vay
KHCN, quyết định chất lượng của món vay, thường bao gồm các nội dung sau:
Thẩm định tư cách đạo đức và mục đích vay của khách hàng: Cán bộ tín dụng phải đảm

sản đảm bảo cũng là một công đoạn rất quan trọng trong khâu thẩm định. Cuối cùng, ngân
hàng cần xem xét khả năng bảo quản tài sản của người đi vay. Lập báo cáo thẩm định. Sau khi
thẩm định xong, cán bộ tín dụng sẽ lập báo cáo thẩm định trong đó ghi vắn tắt nhưng tổng
quát về tình hình của khách hàng: tên, tuổi, mục đích vay, số tiền vay, phương án trả nợ, tài
sản đảm bảo và đưa ra ý kiến cho vay hay không cho vay đối với khách hàng. Nếu cho vay thì
phải ghi rõ số tiền, thời hạn, lãi suất, phương án trả nợ và các điều kiện kèm theo rồi trình lên
trưởng phòng tín dụng xem xét. Nếu không cho vay thì phải ghi rõ lý do vì sao.
Bước 4: Xét duyệt và ký kết hợp đồng tín dụng.
Sau khi nhận báo cáo thẩm định kèm theo hồ sơ vay vốn liên quan, trưởng phòng tín
dụng xem xét lại và yêu cầu cán bộ tín dụng giải thích bổ sung hoặc chỉnh sửa nếu có thiếu
sót. Sau đó báo cáo sẽ được trình lên Hội đồng tín dụng xét duyệt, quyết định cho vay hay
không cho vay. Trong trường hợp cần thiết (ví dụ như đối với các khoản vay lớn), Hội đồng
tín dụng có thể yêu cầu một bộ phận khác tái thẩm định hồ sơ vay. Sau đó, khi hồ sơ vay vốn
được chấp thuận, cán bộ tín dụng sẽ gặp trực tiếp khách hàng để kí kết hợp đồng tín dụng.
Hợp đồng tín dụng là một văn bản viết với nội dung chủ yếu là ngân hàng cam kết cấp cho
khách hàng một khoản tín dụng (hạn mức tín dụng) trong một khoảng thời gian và lãi suất
nhất định. Nội dung chính của hợp đồng tín dụng: Mục đích sử dụng vốn vay, quy mô, lãi
suất, thời hạn tín dụng, phí, các loại đảm bảo, điều kiện thanh toán, các điều kiện khác.
Bước 5: Gíải ngân và kiểm soát trong khi cấp tín dụng.
Hợp đồng tín dụng đã được ký kết và được giám đốc ký duyệt, ngân hàng sẽ tiến hành
giải ngân cho khách hàng tương ứng với số tiền đã được ký kết trong hợp đồng. Trong quá
trình giải ngân, ngân hàng sẽ tiến hành kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay của
khách hàng có đúng mục đích, đúng tiến độ hay không, quá trình sản xuất kinh doanh có
những thay đổi bất lợi gì, có dấu hiệu lừa đảo hoặc làm ăn thua lỗ hay không, tài sản thế chấp
có được giữ đảm bảo hay không,… Quá trình này cho phép ngân hàng thu thập thông tin về
khách hàng, nếu các thông tin phản ánh chiều hướng tốt cho thấy chất lượng tín dụng đang
được đảm bảo, ngược lại thì chất lượng khoản cho vay bị đe dọa.
Bước 6: Thu nợ hoặc đưa ra các phán quyết tín dụng mới.
Đây là bước cuối cùng của quy trình cho vay KHCN. Cán bộ tín dụng theo dõi, đôn đốc
việc trả nợ của khách hàng. Quá trình này giúp ngân hàng thu hồi gốc và lãi đồng thời xác

1.2.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình hoạt động cho vay khách hàng cá nhân
Có rất nhiều chỉ tiêu phản ánh phát triển hoạt động cho vay KHCN. Các chỉ tiêu này bao
gồm: số lượng các khoản cho vay KHCN, dư nợ cho vay KHCN, cơ cấu dư nợ cho vay
KHCN, chất lượng cho vay KHCN, lợi nhuận từ cho vay KHCN, số lượng các hình thức cho
vay KHCN.
Số lượng các khoản cho vay KHCN
Đây là chỉ tiêu thực tế để đánh giá phát triển cho vay đạt được kết quả như thế nào. Số
lượng các khoản cho vay tăng chứng tỏ ngân hàng đang gia tăng số lượng KHCN, từ đó cho
thấy ngân hàng đang gia tăng thị phần KHCN trên địa bàn hoạt động của mình.
Dư nợ cho vay KHCN
Đây là chỉ tiêu hiện thực nhất để đánh giá kết quả phát triển cho vay KHCN. Dư nợ cho
vay KHCN tăng chứng tỏ phát triển cho vay KHCN của ngân hàng đã đạt kết quả tốt. Tuy
vậy, kết quả phát triển cho vay KHCN chỉ thực sự đạt hiệu quả nếu dư nợ cho vay KHCN
SV: Trịnh Thị Ngọc Lê Lớp: K45H1
14
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Minh Hạnh
tăng cả về số lượng tuyệt đối, lẫn số lượng tương đối (tỷ trọng dư nợ cho vay KHCN so với
tổng dư nợ).
Cơ cấu dư nợ cho vay KHCN
Cơ cấu dư nợ cho vay KHCN so với các loại hình cho vay khác như cho vay doanh
nghiệp, cho vay các tổ chức tín dụng cũng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá kết quả phát
triển cho vay KHCN của NHTM. Khi tỷ trọng dư nợ cho vay KHCN tăng lên, trong khi tỷ
trọng các loại hình cho vay khác giảm đi, hoặc tỷ lệ dư nợ cho vay KHCN năm nay so với
năm ngoái tăng lên với một tỷ lệ phần trăm nhiều hơn so với tỷ lệ tương ứng của các loại hình
cho vay khác, thì phát triển cho vay KHCN của ngân hàng đã đạt kết quả tốt.
Thu lãi từ hoạt động cho vay KHCN
Đây cũng là một chỉ tiêu để đánh giá kết quả phát triển hoạt động cho vay KHCN.
Phát triển hoạt động cho vay KHCN của NHTM với mục tiêu lớn nhất là gia tăng lợi
nhuận cho ngân hàng trong xu thế cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt hơn.
Việc tăng doanh số cho vay KHCN phải có kết quả là tăng thu lãi từ hoạt động cho vay

ngân hàng, tăng cường chuyên môn hoá trong phân tích cho vay, tạo sự thống nhất chung
trong hoạt động cho vay nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời. Toàn bộ các vấn
đề có liên quan đến tài trợ một khoản cho vay nói chung đều được xem xét và đưa ra trong
chính sách cho vay của ngân hàng như: chính sách khách hàng, chính sách quy mô và giới
hạn cho vay, thủ tục cho vay, lãi suất và phí suất cho vay, thời hạn cho vay và kỳ hạn nợ, các
khoản đảm bảo, chính sách đối với các tài sản có vấn đề. Những yếu tố trong chính sách cho
vay đều tác động một cách mạnh mẽ tới việc phát triển cho vay nói chung và hoạt động cho
vay KHCN nói riêng. Một ngân hàng chỉ có thể phát triển hoạt động cho vay KHCN khi có
mục tiêu phát triển rõ ràng được thể hiện như một cương lĩnh trong chính sách cho vay. Và
chỉ khi ngân hàng đó xác định phát triển cho vay KHCN thì ngân hàng mới dồn nỗ lực và khả
năng để tập trung phát triển lĩnh vực này. Mặt khác, khi một ngân hàng đã có sẵn các hình
thức cho vay KHCN đa dạng thì việc phát triển cũng dễ dàng và thuận lợi hơn là các ngân
hàng mới chỉ có các sản phẩm đơn giản.
1.3.1.2 Chất lượng cho vay khách hàng cá nhân
Các khoản cho vay KHCN chất lượng tốt được hiểu là các khoản cho vay được hoàn trả
đúng hạn cả gốc và lãi cho ngân hàng. Có nhiều chỉ tiêu để đánh giá chất lượng của một
khoản cho vay, tuy nhiên chỉ tiêu được sử dụng phổ biến hiện nay là nợ quá hạn. Nợ quá hạn
là các khoản nợ đến hạn nhưng chưa được thanh toán. Theo quyết định số 493/2005/ QĐ –
NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam thì nợ quá hạn bao gồm
4 nhóm:
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày, các
khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại, các khoản nợ
khác được phân loại vào nhóm 2.
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 90 – 180 ngày, các
khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ nhưng vẫn quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu
lại, các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3.
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 181 – 360 ngày, các khoản nợ
đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ nhưng vẫn quá hạn từ 90 – 180 ngày theo thời hạn nợ đã cơ cấu
lại, các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4.
SV: Trịnh Thị Ngọc Lê Lớp: K45H1

cao, hạn chế được rủi ro tạo ấn tượng cho khách hàng, nhờ đó thu hút khách hàng, phát triển
được cho vay KHCN. Vì đội ngũ cán bộ tín dụng thể hiện cho hình ảnh hữu hình của ngân
hàng, cho nên họ sẽ góp phần tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm dịch vụ của ngân hàng nói
chung và hoạt động cho vay KHCN nói riêng.
1.3.1.4 Hoạt động Marketing của ngân hàng
Hoạt động marketing là hoạt động giới thiệu, quảng bá về hình ảnh cũng như các dịch
vụ mà ngân hàng cung cấp. Đây cũng là một hoạt động quan trọng góp phần phát triển cho
vay KHCN. Từ hoạt động marketing, khách hàng sẽ hiểu về ngân hàng cũng như các dịch vụ
SV: Trịnh Thị Ngọc Lê Lớp: K45H1
17
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Minh Hạnh
mà ngân hàng cung cấp nhiều hơn. Nếu thực hiện hoạt động marketing tốt, khách hàng sẽ có
ấn tượng tốt về ngân hàng cũng như các dịch vụ của ngân hàng nói chung và hoạt động cho
vay KHCN nói riêng. Từ đó KHCN sẽ tìm đến ngân hàng vay vốn nhiều hơn, tạo điều kiện
thuận lợi cho ngân hàng phát triển cho vay KHCN. Thị trường cho vay KHCN còn rất tiềm
năng ở Việt Nam, vì trong một thời kì dài khối NHTM Quốc doanh chỉ tập trung chủ yếu cho
vay khách hàng doanh nghiệp, vì vậy, công tác Marketing tốt và phù hợp sẽ quyết định đến
việc ngân hàng đó có một miếng bánh thị phần lớn ở thị trường rất màu mỡ này. Hoạt động
Marketing một mặt phải luôn luôn thích ứng với sự thay đổi của thị trường và môi trường
nhưng sự thích ứng này phải luôn luôn là sự thích ứng có lợi cho hoạt động kinh doanh của
ngân hàng nhằm đảm bảo mục tiêucuối cùng là an toàn, lợi nhuận và sức mạnh trong cạnh
tranh. Mạng lưới của ngân hàng, Số lượng các chi nhánh, phòng giao dịch nói lên quy mô của
một ngân hàng, để thuận lợi cho việc giao dịch giữa khách hàng với ngân hàng, các ngân hàng
thường mở rộng các chi nhánh và các phòng giao dịch thì việc phát triển cho vay đối với
KHCN càng trở nên thuận lợi, nhất là khi các chi nhánh, phòng giao dịch này đặt tại các khu
dân cư có nhiều nhu cầu vay vốn. Tại đây ngân hàng dễ dàng đáp ứng được nhu cầu vay vốn
của khách hàng, đồng thời ngân hàng nắm bắt được thông tin từng khách hàng trên cơ sở đó
tiến hành thẩm định, giải ngân và thu nợ. Do đó, việc mở rộng mạng lưới các chi nhánh, phòng
giao dịch là nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển cho vay KHCN của ngân hàng thương mại.
1.3.2. Nhóm nhân tố khách quan

nợ đối với ngân hàng, trả nợ đúng hạn và đầy đủ thì rủi ro của món vay là thấp, khách hàng sẽ
tạo được niềm tin với ngân hàng, do vậy ngân hàng sẽ có điều kiện để phát triển cho vay
KHCN.
Ngoài ra còn có các yếu tố khác như: quy mô gia đình, đặc điểm, tính cách của khách
hàng, khả năng đáp ứng các điều kiện vay của khách hàng như tài sản bảo đảm, các giấy tờ về
quyền sở hữu cũng ảnh hưởng đến nhu cầu vay vốn của khách hàng.
1.3.2.2 Nhóm nhân tố thuộc về môi trường hoạt động của ngân hàng
Có thể hiểu đây là nhóm các nhân tố thuộc về môi trường hoạt động của ngân hàng.
Môi trường hoạt động của ngân hàng cũng gây ra các tác động lớn đến phát triển cho vay đối
với khách hàng nói chung và đối với khách hàng cá nhân nói riêng. Bao gồm: môi trường
kinh tế, môi trường luật pháp, môi trường văn hoá – xã hội, sự phát triển của Khoa học – công
nghệ và đối thủ cạnh tranh.
Môi trường kinh tế
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất đối với nền kinh tế. Vì
vậy, bất kỳ sự biến động của nền kinh tế đều ảnh hưởng đến các hoạt động cho vay của ngân
hàng trong đó có cho vay KHCN. Khi nền kinh tế ổn định và tăng trưởng cao, hoạt động cho
vay KHCN có xu hướng tăng lên bởi vì thu nhập và mức sống của người dân được cải thiện,
hơn nữa sẽ có nhiều cá nhân vay vốn ngân hàng nhằm phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh
của họ. Từ đó, sẽ tạo điều kiện mở rộng cho vay KHCN một cách có hiệu quả. Ngược lại, khi
nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, mất ổn định, khiến thu nhập trong tương lai của người
tiêu dùng trở nên bấp bênh, người dân sẽ lựa chọn tiết kiệm hơn là vay tiêu dùng hay vay vốn
để sản xuất kinh doanh, từ đó sẽ hạn chế việc phát triển cho vay KHCN của ngân hàng. Ngoài
ra, nếu ngân hàng hoạt động trong nền kinh tế có trình độ phát triển cao và tiên tiến thì hoạt
động cho vay KHCN cũng đa dạng và phát triển hơn ở các nước đang phát triển.
Môi trường luật pháp
Ngân hàng là trung gian tài chính nắm giữ một khối lượng vốn và tài sản rất lớn trong
nền kinh tế, do đó hoạt động ngân hàng chịu sự kiểm soát chặt chẽ của luật pháp cũng như các
cơ quan chức năng. Điều này không chỉ làm đảm bảo an toàn cho ngân hàng, mà còn cho các
SV: Trịnh Thị Ngọc Lê Lớp: K45H1
19

trưng của ngân hàng nhằm thu hút được khách hàng đến với ngân hàng, không chỉ giữ chân
khách hàng cũ mà còn thu hút thêm khách hàng mới. Như vậy, với sự xuất hiện của các đối
thủ cạnh tranh sẽ khiến thị phần cho vay KHCN của ngân hàng bị giảm sút, điều này sẽ gây ra
sự khó khăn cho ngân hàng trong việc mở rộng qui mô cho vay KHCN, nhưng sẽ khuyến
khích ngân hàng trong việc tăng chất lượng cho vay đối với KHCN.
SV: Trịnh Thị Ngọc Lê Lớp: K45H1
20
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Minh Hạnh
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI
NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG – CHI NHÁNH HƯNG YÊN
2.1 Khái quát về ngân hàng Công Thương Hưng Yên
Ngân hàng Công Thương Hưng Yên là 1 chi nhánh phụ thuộc NHCTVN. Trước khi
tách tỉnh NHCT Hưng Yên là 1 chi nhánh trực thuộc NHCT Hải Hưng, hoạt động theo kế
hoạch do NHCTHH lập ra.
Sau ngày tách tỉnh 1/1/1997 (tỉnh Hải Hưng tách thành 2 tỉnh: Hải Dương và Hưng
Yên ) để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của tỉnh và nhu cầu sản xuất kinh doanh, tiêu
dùng của tổ chức kinh tế, cá nhân hộ gia đình trong tỉnh.
Căn cứ quyết định số 285/5/96 của thống đốc NHNN, Luật DNNN (nay là Luật doanh
nghiêp) ban hành ngày 20/5/95, pháp lệnh Ngân hàng (nay là Luật các TCTD), HTXTD và
công ty tài chính ban hành kèm theo lệnh số 38-LCT-HDDNN8 24/5/90 của chủ tịch HĐNN;
Điều lệ NHCT VN ; Công văn số 746/CV –NH5 16/12/96 của thống đốc NHNN VN về việc
chấp thuận cho NHCT Việt Nam thành lập Chi nhánh NHCT Hưng Yên và đề nghị của TGĐ
NHCTVN, Chủ tịch HĐQT NHCT VN ra quyết định số 13/NHCT-QĐ ngày 17/12/96 thành
lập CNNHCT Hưng Yên (trên cơ sở nâng cấp CNNHCT thị xã Hưng Yên). Ngày 01/01/97
CNNHCTHY chính thức đi vào hoạt động.
Cùng với sự cạnh tranh của các ngân hàng khác trong tỉnh, bước đầu NHCT Hưng Yên
không khỏi bỡ ngỡ và lúng túng để tìm ra giải pháp kinh doanh của ngân hàng đem lại hiệu
quả cao. Cơ chế thị trường thay đổi từng ngày đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải tự thích nghi,
tạo cho mình một chỗ đứng trên thị trường. Nhận rõ điều đó, Ban giám đốc và tập thể cán bộ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status