VAI TRÒ CỦA KẾ HOẠCH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU - Pdf 25

§Ò ¸n m«n häc Ph¹m Ngäc Quang
Lời mở đầu
Vận động là điều kiện tất yếu cho sự phát triển. Một nền kinh tế cũng thế
muốn phát triển cũng cần vận động. Một trong những biểu hiện của sự vận động
này chính là chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong đó quan trọng nhất là chuyển dịch
ngành kinh tế . Khi Việt Nam càng hội nhập vào nền kinh tế chung của thế giới thì
nền kinh tế đó trở thành một bộ phận trong nền kinh tế chung. Hơn nữa nền kinh tế
thế giới luôn luôn biến động không ngừng, và bản thân nền kinh tế Việt Nam cũng
luôn biến động và tất yếu những biến động này sẽ tạo nên những thời cơ cũng như
những thách thức mới cho mỗi nền kinh tế trong một giai đoạn cụ thể. Chính vì
thế, việc định hướng phát triển các ngành trong nền kinh tế chung, tức là sự
chuyển dịch cơ cấu ngànhm, phù hợp với những điều kiện thực tiễn mới là điều
kiện sống còn cho sự phát triển chung cho nền kinh tế đó.
Tiểu luận này nhằm mục đích nghiên cứu, thực hiện tốt Bkế hoạch chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kỳ 2006-2010. Một kế hoạch phát triển hợp lý phải
là một kế hoạch được xây dựng phù hợp với tình hình trong nước và trên thế giới,
do đó bên cạnh việc phân tích những thành tựu cũng như những hạn chế của
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế kế hoạch 5 gần đây nhất (năm 2001-2005), tôi
cũng tập trung phân tích tình hình phát triển chung của nền kinh tế thế giới. Qua
những phân tích này, tôi đã mạnh dạn đưa ra những nhận định về kế hoạch chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kỳ 2006-2010 và cũng đề xuất một số biện pháp.
Trong quá trình hoàn thành tiểu luận tôi đã nhận được rất nhiều những góp
ý và bổ sung từ thầy cô và bạn bè, trong đó tôi đặc biệt gửi lời cảm ơn chân thành
đến GS.TS. Vũ Thị Ngọc Phùng đã giúp đỡ tôi rất nhiều không chỉ về tài liệu mà
còn những lời góp ý, hướng dẫn tận tình.
Dù rất cố gắng chỉnh sửa xong tiểu luận này không thể tránh được những thiếu
xót. Kính mong nhận được sự thông cảm và góp ý của thầy cô và bạn bè.
Líp: KÕ ho¹ch 44
1
§Ò ¸n m«n häc Ph¹m Ngäc Quang
CHƯƠNG I: VAI TRÒ CỦA KẾ HOẠCH CHUYỂN

hai loại: Dự báo trước kế hoạch và dự báo sau kế hoạch. Dự báo trước kế hoạch là
tiền đề khoa học đảm bảo tính khả thi của kế hoạch, còn dự báo sau kế hoạch giúp
cho quá trình chỉ đạo thực hiện kế hoạch đạt hiệu quả cao nhất.
2. Chiến lược phát triển
2.1. Khái niệm
Về cơ bản, chiến lược phát triển là hệ thống các phân tích, đánh giá và lựa
chọn về quan điểm, mục tiêu tổng quát định hướng phát triển các lĩnh vực chủ yếu
của đời sống xã hội và các giải pháp cơ bản trong đó bao gồm các chính sách về
cơ cấu, cơ chế vận hành hệ thống kinh tế-xã hội nhằm mục tiêu đặt ra trong một
khoảng thời gian dài.
Như vậy, mục tiêu xây dựng các chiến lược phát triển là đạt tới mục tiêu
phát triển kinh tế-xã hội nhất định và tìm ra hướng đi tối ưu cho quá trình phát
triển. Xây dựng và quản lý bằng chiến lược phát triển là một yêu cầu bức thiết đăt
ra và có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi quốc gia trong nền kinh tế thị trường
với không gian kinh tế được mở rộng đến mức không phân biệt biên giới. Điều
này xuất phát từ:
Thứ nhất, xây dựng và quản lý bằng chiến lược phát triển sẽ giúp cho các
nhà lãnh đạo phải xem xét và xác định đất nước sẽ đi theo hướng nào và khi nào
thì đạt tới một điểm cụ thể nhất định.
Thư hai, trong điều kiện nền thị trường kinh tế mở, môi trường mà các
quốc gia gặp phải luôn biến đổi nhanh chóng, những biến đổi này thường tạo ra
các cơ hội trong tương lai, tận dụng các cơ hội đó và giảm bớt các nguy cơ liên
quan đến điều kiện môi trường.
Thứ ba, có xây dựng và quản lý bằng chiến lược phát triển, các nhà lãnh
đạo và quản lý mới đưa ra các quyết định tác nghiệp phù hợp.
2.2. Chức năng
Chức năng chủ yếu của chiến lược là đinh hướng, vạch ra các đường nét
chủ yếu cho sự phát triển của đất nước trong thời gian dài, vì vậy chiến lược sẽ
Líp: KÕ ho¹ch 44
3

Líp: KÕ ho¹ch 44
4
§Ò ¸n m«n häc Ph¹m Ngäc Quang
cùng với quá trình đổi mới và mở cửa nền kinh tế, phương pháp kế hoạch hoá
quản lý theo các chương trình quốc gia cũng được áp dụng rộng rãi từ năm 1992.
Kế hoạch hoá và quản lý theo các chương trình phát triển là đưa ra các chương
trình mục tiêu để xử lý những vấn đề nổi cộm về kinh tế-xã hội của đất nước. Đây
là một phương pháp quản lý vừa mang tính đặc biệt lại vừa mang tính nghệ thuật
cao. Tính đặc biệt thể hiện ở chỗ nó vưa khác hẳn các phương pháp khác về cơ
chế, chính sách, cách điều hành, kiểm tra, đánh giá kết quả, đối tượng hưởng
thụ… Còn tính nghệ thuật là phải làm sao chọn đúng đối tượng các vấn đề cần xử
lý bằng các chương trình. Tính nghệ thuật này còn được thể hiện trong khả năng
lồng ghép các chương trình trong tổ chức chỉ đạo.
4.2.Chức năng
Cụ thể hoá kế hoạch, đưa nhiệm vụ kế hoạch vào thực tiễn cuộc sống. Có thể
gọi đây là một phương pháp tiến hành của kế hoạch. Với chức năng này, một
chương trình quốc gia phải đảm bảo các mục tiêu cụ thể, các chỉ tiêu biện pháp và
các giải pháp thực hiện.
Xử lý các vấn đề gay cấn nhất về kinh tế-xã hội của một quốc gia. Các vấn
đề cần phải xây dựng và quản lý bằng chương trình quốc gia là các vấn đề bức
xúc, các khâu đột phá, các mắt xích quan trọng của nền kinh tế.
Hiện nay theo xu hướng đổi mới kế hoạch hoá, các chương trình dự án phát
triển lại được xem như là cơ sở để thực hiện phân bố nguồn lực như: Vốn đầu tư,
ngân sách… thay cho hình thức phân bổ theo đối tượng như trước kia.
5. Kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế-xã hội
5.1.Vị trí trung tâm của KH 5 năm
Nghị quyết đại hội 9 Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định “xây dựng kế
hoạch 5 năm trở thành công cụ chủ yếu của hệ thống kế hoách hoá phát triển”.
Thời hạn 5 năm là thời hạn thường trùng lặp với nhiệm kỳ làm việc của cơ quan
chính phủ, là thời hạn ma theo đó lợi tức đầu tư bắt đầu có sau một năm hoặc một

hoạch 5 năm 1996-2000; kế hoạch 5 năm 2001-2005… Các chỉ tiêu kế hoạch được
tính cho cả thời kỳ 5 năm, bình quân năm hoặc con số năm cuối. Đây là phương
pháp truyền thống dễ xây dựng, dễ quản lý, dễ đánh giá. Hiện nay, các nước như
Cộng hoà Pháp, Nhật Bản hay Đức đã áp dụng thành công phương pháp xây dựng
kế hoạch 5 năm theo hình thái “cuốn chiếu”. Kế hoạch 5 năm sẽ xác định các mục
Líp: KÕ ho¹ch 44
6
§Ò ¸n m«n häc Ph¹m Ngäc Quang
tiêu tổng thể, bao gồm kế hoạch chính thức 1 năm đầu, kế hoạch thực hiện dự tính
cho năm chính thức 1 năm đầu, kế hoạch thực hiện dự tính cho năm kế thứ hai và
dự báo cho các năm tiếp theo. Mức độ chi tiết, cụ thể và chính xác của nội dung kế
hoạch của nhưng năm sau phụ thuộc vào số lượng và độ tin cậy của thông tin có
được. Kế hoạch 5 năm sẽ được xem xét vào thời gian cuối mỗi năm. Khi cơ quan
kế hoạch Quốc gia hoàn tất năm đầu kế hoạch, họ bổ sung cho những dự trù,
những mục tiêu, những dự án cho năm tiếp theo. Ví dụ, kế hoạch 2001-2005 sẽ
được xem xét vào cuối năm 2001 và đề ra kế hoạch mới cho thời kỳ 2002-2006,
trên thực tế kế hoạch được đổi mới vào thời gian cuối mỗi năm nhưng số năm vẫn
giữ nguyên. Kế hoạch 5 năm được xây dựng theo phương pháp cuốn chiếu sẽ khắc
phục được tính nhất thời, tuỳ tiện và thậm chí trái ngược nhau trong các mục tiêu
cũng như trong các chính sách kinh tế. Phương pháp này đã được đưa ra trong
nhiều đề án đổi mới kế hoạch hoá ở Việt Nam.
II. Sự cần thiết phải thực hiện kế hoạch 5 năm chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế
1. Nhiệm vụ của kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
1.1.Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan
hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau trong một không gian và thời gian
nhất định, trong những điều kiện cụ thể, hướng vào thực hiện các mục tiêu đã
định.
Cơ cấu kinh tế thường gồm ba phương diện hợp thành. Đó là:

1.2. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế lại có thể xét thấy trên nhiều góc độ. Với việc xem
xét các các yếu tố đầu vào là cơ cấu lao động, cơ cấu kỹ thuật. Thông thường cơ
cấu đầu ra tính theo giá trị sản xuất được sử dụng để phản ánh cơ cấu ngành. Sự
chuyển dịch cơ cấu này mang tính quy luật, đó là khi thu nhập đầu người tăng lên
thì tỷ trọng nông nghiệp trong tổng sản phẩm sẽ giảm xuống, còn tỷ trọng công
nghiệp và dịch vụ sẽ tăng nhanh hơn tỷ trọng của công nghiệp.
Líp: KÕ ho¹ch 44
8
§Ò ¸n m«n häc Ph¹m Ngäc Quang
Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành đã được hai nhà kinh tế học là E.
Engel và A. Fisher ngiên cứu khi đề cập đến sự thay đổi về nhu cầu chỉ tiêu và sự
thay đổi cơ cấu lao động. Ngay từ cuối thế kỷ 19, E. Engel đã nhận thấy rằng, khi
thu nhập các gia đình tăng lên thì tỉ lệ chi tiêu cho lương thực, thực phẩm giảm đi
nên tất yếu dẫn đến tỷ trọng nông nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế sẽ giảm đi khi
thu nhập tăng lên. Quy luật E.Engel được nghiên cứu cho sự tiêu dùng lương thực,
thực phẩm, nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu tiêu dùng cho các
loại sản phẩm khác. Các nhà kinh tế gọi lương thực, thực phẩm là sản phẩm thiết
yếu, hàng công nghiệp là sản phẩm tiêu dùng lâu bền và việc cung cấp dịch vụ là
hàng tiêu dùng cao cấp. Thực tế phát triển của các nước đã chỉ ra xu hướng chung
là khi thu nhập tăng lên thì tỉ lệ chi tiêu cho hàng tiêu dùng lâu bền tăng phù hợp
với tốc độ tăng thu nhập, còn chi tiêu cho hàng tiêu dùng cao cấp có tốc độ tăng
nhanh hơn.
Cùng với quy luật tiêu thụ sản phẩm E.Engel, quy luật tăng năng suất lao
động của A.Fisher cũng làm rõ xu hướng chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế qua việc
phân bố lao động. Trong quá trình phát triển, việc tăng cường sử dụng máy móc và
các phương thức canh tác mới đã tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động. Kết
quả là, để đảm bảo lương thực, thực phẩm cho xã hội sẽ không cần đến lực lượng
lao động như cũ, có nghĩa là tỉ lệ lao động trong nông nghiệp sẽ giảm đi. Ngược
lại, tỉ lệ lao động thu hút vào công nghiệp sẽ ngày càng tăng do tính co giãn về nhu

Việc phân phối sản phẩm trong nền kinh tế được đặc trưng bằng quan hệ tỉ lệ:
Xi = Xi1 +Xi2 +...+Xin + Yi (i = 1,2,...,n) (1)
trong đó:
Xi: tổng sản phẩm của ngành i
Xij: khối lượng sản phẩm ngành i tiêu dùng cho sản phẩm ngành j với tư cách là
chi phí trung gian.
Yi: khối lượng sản phẩm cuối cùng của ngành i.
Tổng số ij phản ánh khối lượng sản phẩm ngành i sẽ tiếp tục chế biến trong các
ngành sản xuất, lượng sản phẩm này được gọi là sản phẩm trung gian. Sản phẩm
cuối cùng (Yi) là những sản phẩm được đưa ra khỏi sản xuất hàng năm được dùng
Líp: KÕ ho¹ch 44
10
§Ò ¸n m«n häc Ph¹m Ngäc Quang
để bù đắp hao mòn, sử dụng cho tiêu dùng, tích luỹ và khối lượng chênh lệch xuất-
nhập khẩu.
Khi xây dựng mô hình Vào-Ra người ta thường giả thiết rằng khối lượng sản
phẩm của ngành i tiêu dùng cho ngành j tỉ lệ thuận với khối lượng sản phẩm của
ngành j:
Xị = aij Xj (i,j = 1,2,...,n) (2)
trong đó aij là hao phí trực tiếp sản phẩm ngành i để sản xuất ra một đơn vị sản
phẩm ngành j - được gọi là hệ số hao phí trực tiếp. Hợp nhất phương trình (1) và
(2) sẽ có:
Xi = aij Xj + Yi (i=1,2,...,n)
Như vậy, để xác định cơ cấu ngành của nền kinh tế người ta thường dựa vào kế
hoạch của sản phẩm cuối cùng của các ngành với hệ số hao phí trực tiếp phù hợp
với trình độ kỹ thuật của từng ngành.
2.2. Các yếu tố tác động đến cơ cấu ngành
Sự hình thành cơ cấu ngành thực chất là kết quả của việc phân phối các yếu tố
đầu vào và cách thức tổ chức sản xuất. Nói chung, trong mỗi ngành càng có nhiều
vốn, nhiều lao động, kỹ thuật tiên tiến, tổ chức sản xuất ngày càng khoa học thì

Líp: KÕ ho¹ch 44
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status