Họ và tên SV: Đỗ Thị Hiên
Lớp : CD12C
Điện thoại : 0973 649 844 Email:
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài : Hoàn thiện hoạt động quảng cáo cho sản phẩm dịch vụ quảng cáo
của Công ty cổ phần quảng cáo và truyền thông Nil trên thị trường nội địa.
Chương I: Tổng quan nghiên cứu đề tài.
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Trong tình hình nền kinh tế biến đổi từng ngày, doanh nghiệp nào nắm bắt
được cơ hội và có sức cạnh tranh cao sẽ dành được thành công. Muốn như vậy
doanh nghiệp cần xác định một vị trí, một chỗ đứng trong thị trường, xây dựng
cho mình một hình ảnh riêng biệt và rõ nét, đó chính là hoạt động “xây dựng
thương hiệu”, quảng cáo là một trong những hoạt động trọng trong quá trình
quảng bá, truyền thông và tạo dựng thương hiệu cho bất kỳ một doanh nghiệp
nào trên thị trường.
Quảng cáo là một trong những ngành dịch vụ mới có mặt ở Việt Nam
trong trong thời gian không lâu. Đây là lĩnh vực gắn bó chặt chẽ với nền kinh tế
thị trường tự do cạnh tranh, nơi mà hàng hóa trở nên phong phú về chất lượng
và số lượng, các nhu cầu thị trường ngày càng được đáp ứng bởi nhiều nhà cung
cấp. Cùng với sự phát triển của xã hội ngày nay, quảng cáo là một trong những
nhu cầu và công cụ hết sức cần thiết trong quá trình hình thành, phát triển và tồn
tại của một sản phẩm nói riêng và của một doanh nghiệp nói chung. Quảng cáo
giúp cho nhà sản xuất tăng nhu cầu đối với sản phẩm, tăng sức mua, nâng cao
thị phần.
Trong công ty thương mại, quảng cáo là một yếu tố cảu xuacs tiến thương
mại hỗn hợp – một công cụ marketing – mix, là một phương tiện để đạt tới các
chiến lược chung marketing như: lợi nhuận, thế lực và sự an toàn trong kinh
1
doanh. Tuy vậy, trình độ chuyên môn của các doanh nghiệp quảng cáo trong
nước đang là một hạn chế không nhỏ. Mặt khác, trình độ nhận thức của các
doanh nghiệp sản xuất hàng hóa, dịch vụ chưa bắt kịp với tốc độ phát triển của
quảng cáo, tác động của quảng cáo đến hoạt đông kinh doanh của công ty.
Phân tích thực trạng và đánh giá hoạt động quảng cáo của Công ty.
Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quảng cáo của Công
ty.
Cũng qua nghiên cứu, nâng cao năng lực của bản thân, củng cố kiến thức
cơ bản về chuyên ngành, lý luận cơ bản về quảng cáo, nâng cao khả năng tự
nghiên cứu, kỹ năng phân tích dữ liệu của bản thân.
1.4. Phạm vi nghiên cứu.
- Về không gian: Phạm vi nghiên cứu tập trung giới hạn trong thị trường
nội địa, đặc biệt là khu vực miền Bắc.
- Về thời gian: Do khả năng có hạn nên đề tài xin được trình bày thực trạng
và tác động của hoạt động quảng cáo đến Công ty trong thời gian từ 2008
đến 2010.
- Đối tượng nghiên cứu: hoạt động quảng cáo cho các sản phẩm dịch vụ
quảng cáo của công ty như: quảng cáo ngoài trời…
1.5. Một số khái niệm và phân định nội dung của quảng cáo.
1.5.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò và vị trí của quảng cáo.
1.5.1.1. Khái niệmvà vai trò của quảng cáo.
Theo Hiệp hội Marketing Mỹ (AMA) đã đưa ra khái niệm về quảng cáo
như sau: Quảng cáo là bất cứ loại hình nào của sự hiện diện không trực tiếp của
hàng hóa, dịch vụ hay tư tưởng hành động mà người ta phải trả tiền để nhận biết
người quảng cáo.
Theo Philipkotler khái niệm về quảng cáo như sau: Quảng cáo là mọi hình
thức trình bày gián tiếp và khuyếch trương ý tưởng, hàng hóa dịch vụ được
người bảo trợ nhất định trả tiền.
3
Vai trò của quảng cáo.
Đối với doanh nghiệp:
Trong nền kinh tế thị trường, quảng cáo có vai trò vô cùng quan trọng đối
với các công ty kinh doanh, nhất là trong giai đoạn đầu kinh doanh hoạc công ty
Hình 1.5: Mô hình quảng cáo thương mại (5M).
1.5.2.1. Xác định rõ mục tiêu quảng cáo (Mission).
Một kế hoạch quảng cáo phải bắt đầu từ việc xác định rõ mục tiêu mà
doanh nghiệp nhắm đến: Doanh nghiệp muốn tạo nhận thức cho khách hàng về
nhãn hiệu, muốn thông tin về sự có mặt của sản phẩm mới trên thị trường, muốn
thuyết phục khách hàng của mình về thuộc tính đặc trưng của sản phẩm hay
muốn nhắc nhở khách hàng về sự thỏa mãn của họ trong quá khứ… Các mục
tiêu này sẽ quyết định cách thức quảng cáo và phong cách quảng cáo – là quảng
cáo thông tin hay quảng cáo thuyết phục, quảng cáo so sánh hay quảng cáo nhắc
nhở.
1.5.2.2. Xác định ngân sách quảng cáo (Money).
Sau khi xác định xong các mục tiêu quảng cáo, công ty có thể bắt tay vào
xây dưng ngân sách quảng cáo cho từng sản phẩm của mình. Khi xác định ngân
sách quảng cáo cần phải căn cứ vào mục tiêu và nhiệm vụ, bởi vì nó đòi hỏi
người quảng cáo xác định những mục tiêu cụ thể của chiến dịch quảng cáo rồi
sau đó ước tính chi phí của những hoạt động cần thiết để đạt mục tiêu đó. Ngân
sách quảng cáo nhiều hay ít sẽ quyết định đến việc lựa chon phương tiện quảng
5
Xác định
mục tiêu
Quyết định
ngân sách
Phát triển
thông điệp
Kế hoạch hóa
phương tiện
Đánh
giá hiệu
quả
quảng
6
Quá trình này tùy thuộc vào phạm vi, tần suất, cường độ quảng cáo, loại
hình quảng cáo
1.5.2.5. Đo lường, đánh giá hiệu quả quảng cáo (Measurement)
Đánh giá tác động của quảng cáo để xác định thông điệp quảng cáo có
đến đúng đối tượng mà doanh nghiệp mong muốn hay không, họ đã tiếp nhận
thông điệp đó như thế nào và tác động của thông điệp đến nhận thức, hành vi và
thói quen mua sắm của họ. Qua đó, các doanh nghiệp có phương hướng duy trì
hay điều chỉnh kế hoạch quảng cáo trong tương lai. Tuy nhiên, quan điểm về
hiệu quả quảng cáo không phải mọi doanh nghiệp đều nhận thức đúng đắn. Tác
động của quảng cáo phải đánh giá qua hai mặt: hiệu quả về kinh tế (doanh số
bán, thị phần, số lượng đơn đặt hàng…) và hiệu quả truyền thông (mức độ quan
tâ, ưa thích quảng cáo…).
Nhưng hiện nay việc đánh giá hiệu quả của quảng cáo vẫn chưa đo lường
được vì nó thường mang tính khái quát cao. Tuy nhiên việc đánh giá hiệu quả
quảng cáo trước và sau khi quảng cáo cũng có tấc dụng rất lớn, nó giúp các nhà
hoạt động marketing thực hiện tốt chương trình quảng cáo và thu hút được sự
chú ý của khách hàng.
Chương II: Đánh giá tổng quan về tình hình hoạt động quảng cáo của Công
ty cổ phần truyền thông Nil.
2.1. Phương pháp nghiên cứu.
2.1.1. Phương pháp thu thập dữ liệu.
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp.
Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp nhân viên của Công ty ở từng
phong ban, thu thập ý kiến, nhận xét của khách hàng về các dịch vụ của công ty
trên internet.
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp.
Nội dung là tập hợp các số liệu có liên quan và cần thiết cho quá trình
phân tích tác động của quảng cáo đến kết quả kinh doanh của công ty.
7
lĩnh vực chính:
- Chuyên kinh doanh trong lĩnh vực quảng cáo Biển tấm lớn ngoài trời,
băng rôn…(dịch vụ cho thuê vị trí quảng bá hình ảnh và sản phẩm của các
công ty… thông qua hình thức biển tấm lớn, băng rôn… trên các tuyến
đường quốc lộ và các tuyến đường trên nội thành tại tất cả các tỉnh thành
trên toàn quốc).
- Dịch vụ kiến trúc, dịch vụ quy hoạch đô thị và kiến tạo cảnh quan.
- Dịch vụ thiết kế chuyên ngành.
- Kinh doanh dịch vụ quảng cáo.
- Xây dựng các công trình quảng cáo.
- Đại diện quảng cáo cho một số đầu báo, tạp chí lớn, đài truyền hình trung
ương và các địa phương.
- Tổ chức sự kiện, hội chợ triển lãm, sản xuất phim quảng cáo.
- Xây dựng thương hiệu cho các doanh nghiệp – các sản phẩm, tư vấn
marketing và thực hiện chiến lược quảng cáo chuyên nghiệp cho nhiều
doanh nghiệp lớn.
2.2.1.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy.
Hình 2.2: sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty.
9
Giám đốc
Phó giám đốc
Phòng
hành
chính
– nhân
sự
Phòng
dự án
Phòng
thiết
4 Thuế TNDN 131,12 204,56 481,06 156,02% 235,17%
5 LNST 393,35 631,66 1 443,17 160,58% 228,47%
(Nguồn: Phòng tài chính – kế toán)
Bảng 2.2: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty trong 3 năm gần đây.
Tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty từ năm 2008 đến năm 2010
có sự tăng trưởng khá mạnh. Mức tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận năm 2009
không cao: doanh thu tăng 11,49%, lợi nhuận tăng 60,58% so với năm 2008.
Điều này do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, tình hình kinh
btees nói chung khá khó khăn và tình hình ngành quảng cáo cũng rất khó khăn
do các công ty đều cắt giảm tối đa chi phí.
Đến năm 2010, Công ty tăng trưởng mạnh: doanh thu tăng 36,85%, lợi
nhuận tăng 128,47% so với năm 2009. Điều này cho thấy tình hình hoạt động
10
kinh doanh của Công ty đang phát triển tốt và có chiều hướng tăng mạnh vào
những năm tiếp theo.
2.2.2. Thực trạng hoạt động quảng cáo của Công ty.
2.2.2.1. Phân tích mục tiêu quảng cáo.
Công ty cổ phần quảng cáo truyền thông Nil mới có mặt trên thị trường
được 3 năm, do vậy, công ty đề ra mục tiêu quảng cáo là mục tiêu thông tin và
mục tiêu thuyết phục.
Mục tiêu thông tin: các hình thức quảng cáo của công ty nhằm thông tin
cho khách hàng biết về sản phẩm, dịch vụ quảng cáo của công ty, tính năng, dặc
điểm của sản phẩm cũng như các chính sách ưu đãi nhằm khơi gợi nhu cầu của
khách hàng về sản phẩm, dịch vụ của công ty.
Mục tiêu thuyết phục: quảng cáo nhằm xây dựng nhu cầu chọn lọc đối với
các thương hiệu khác. Bên cạnh đó, thuyết phục khách hàng rằng Công ty sẽ
cung cấp những dịch vụ tốt nhất và thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng kèm
theo sự tối thiểu hóa chi phí. Từ đó, giúp khách hàng tin tưởng và sử dụng sản
phẩm dịch vụ của công ty.
Việc xác định rõ mục tiêu quảng cáo giúp công ty giới thiệu được sản
quan hệ thân quen này và những khách hàng mới tự tìm đến doanh nghiệp là rất
ít. Do vậy, công ty nên chú trọng đầu tư cho hoạt động quảng cáo trên một số
phương tiện khác nhằm đạt hiệu quả cao hơn.
Công ty thực hiện quảng cáo trên internet, giới thiệu thông tin sơ lược về công
ty, đăng thông tin quảng cáo trên một số trang web:
Đồng thời cũng xây dựng website riêng của công ty nhưng chưa thực sự
hoàn thiện, cần bổ sung và hoàn thiện hơn để khách hàng có thể tìm kiếm và
nắm bắt nhiều thông tin hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.
Quảng cáo trên internet là phương tiện quảng cáo hữu ích, tiết kiệm chi phí lại đi
kèm được những hình ảnh minh họa cụ thể giúp khách hàng dễ hình dung hơn
12
về sản phẩm, dịch vụ mà công ty đang cung cấp nhưng công ty chưa thực hiện
quảng cáo hiệu quả trên phương tiện này.
Và quảng cáo B2B. Đối tượng của loại hình quảng cáo này là các doanh
nghiệp chứ không phải người tiêu dùng. Công ty hầu như không có nhu cầu tiếp
cận với công chúng mà chỉ thông qua các công ty, tổ chức, doanh nghiệp sử
dụng dịch vụ của họ và những nhà cung ứng, cộng tác với công ty. Đối với công
ty, quảng cáo trên truyền hình hoặc radio tốn khà nhiều chi phí trong khi hiệu
quả lạ không cao. Do đối tượng khách hàng của công ty là khách hàng tổ chức
nên thay vào đó, công ty dùng direct mail giới thiệu hồ sơ năng lực của công ty
hoặc những mẩu tin tự giới thiệu trên các tạp chí thương mại, tạp chí
marketing…
Bên cạnh đó, công ty còn thực hiện quảng cáo trên chính những dịch vụ
mà công ty đang cung cấp. Ví dụ, khi hệ thống billboard chưa có khách hàng
thuê quảng cáo thì công ty cho in thông tin về công ty trên đó.
Tuy nhiên những hình thức này chỉ mang tính chất nhỏ lẻ chứ chưa có kế hoạch
truyền thông, quảng cáo cụ thể và công ty vẫn tìm kiếm khách hàng chủ yếu dựa
vào các mối quan hệ trong kinh doanh. Chính vì vậy, việc kế hoạch hóa phương
tiện quảng cáo là chưa có. Mà kế hoạch hóa phương tiện quảng cáo là một quá
trình rất quan trọng, nó là quá trình hướng các thông điệp quảng cáo đến đúng
thu trong công việc.
3.1.2. Những hạn chế còn gặp phải.
Ngân sách đầu tư cho các hoạt động quảng cáo khá hạn chế.
Trong quá trình quảng cáo, Công ty chưa có kế hoạch hóa các phương
tiện quảng cáo nên việc sử dụng các phương tiện quảng cáo chưa đạt được hiệu
quả cao.
Công ty chỉ chú trọng đến cách thức quảng cáo truyền miệng thông qua
những mối quan hệ trong kinh doanh mà chưa có sự quan tâm đúng mức tới các
hình thức quảng cáo cũng rất hiệu quả khác như quảng cáo ngoài trời, quảng cáo
trên các phương tiện công cộng và internet… Quảng cáo của Công ty trên những
14
biển quảng cáo lớn ngoài trời chỉ có số điện thoại liên hệ nên chưa gây được sự
chú ý từ phía công chúng cũng như chưa cung cấp được cho khách hàng những
thông tin về sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp đang cung ứng. Quảng cáo trên
internet còn ít, ngay cả trang web của Công ty cũng chưa hoàn thiện nên sẽ gây
khó khăn cho các khách hàng trong việc tìm kiếm thông tin về các sản phẩm,
dịch vụ của Công ty ma khách hàng đang có nhu cầu.
Quảng cáo trên báo, tạp chí còn hạn chế.
Sau các chương trình quảng cáo, công ty chưa tiến hành đánh giá hiệu quả
quảng cáo. Điều này sẽ khiến cho các chương trình quảng cáo sau sẽ tiếp tục
mắc phải những lỗi như những chương trình trước đó làm cho hiệu quả quảng
cáo sẽ giảm đi với chi phí bỏ ra cao.
Hoạt động nghiên cứu thị trường và đối thủ cạnh tranh của Công ty còn
nhiều yếu kém. Cụ thể là công ty chưa bao giờ tiến hành các cuộc nghiên cứu
chính thức có quy mô, có định hướng lâu dài để nắm bắt xu hướng biến đổi của
thị trường. Chưa tiến hành nghiên cứu thị trường để tìm hiểu nhu cầu của khách
hàng mà các bộ phận chức năng tự tìm kiếm khách hàng cho mình nên thông tin
về khách hàng chưa được đầy đủ chỉ qua sự đánh giá chủ quan của nhân viên
công ty.
Nguồn nhân sự không ổn định, mức độ thạo việc của nhân viên còn kém.
ngoài trời mà Công ty sẵn có. Vì đây là dịp nhu cầu quảng cáo của các doanh
nghiệp tăng cao, do vậy Công ty cũng nên tính toán ngân sách hợp lý để có
những dự án quảng cáo cho sản phẩm dịch vụ của công ty trước những dịp này.
Vì vậy, cần có một kế hoạch phân bổ ngân sách hợp lý cho các hoạt động quảng
này đạt hiệu quả tối ưu trong một thời gian và không gian xác định.
3.2.2. Lựa chọn, thiết kế thông điệp quảng cáo.
Hình 3.2.2: Quy trình xác định nội dung thông điệp quảng cáo.
16
Hình thành chủ
đề quảng cáo.
Chọn phương
pháp thể hiện
Hình thành nội
dung thông điệp
Ngoài việc sử dụng slogan “Khởi tạo giá trị”, Công ty cũng nên làm mới
thương hiệu của mình thông qua thông điệp gửi gắm đến khách hàng của mình.
Việc xác định nội dung thông điệp quảng cáo có thể theo quy trình như hình 3.2.
- Hình thành chủ đề quảng cáo: Khách hàng là nguồn cung cấp những ý
tưởng hay về dịch vụ cho Công ty. Công ty không nên chỉ dựa vào ý tưởng chủ
quan của mình mà nên tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các đối tác chiến
lược và khách hàng thân thiết. Qua đó, có thể giúp Công ty có được những gợi ý
quan trọng trong việc xây dựng nội dung thông điệp.
- Chọn phương pháp thể hiện: Quảng cáo và truyền thông là dịch vụ vô
hình nên để truyền tải nội dung thông điệp Công ty có thể sử dụng hình ảnh mô
phỏng hay minh họa cho sản phẩm, dịch vụ của công ty. Hoặc có thể dẫn ra
những thăm dò, những nhận xét, những chương trình mà công ty đã thực hiện
hay những đối tác lớn của Công ty để chứng tỏ năng lực của Công ty.
- Hình thành nội dung thông điệp theo kênh đã chọn: Nội dung quảng cáo
phải phù hớp với từng vùng, miền. Ngoài việc tạo nên cảm xúc tốt cho khách
hàng, tạo ra cho họ thấy những giá trị hay hiệu quả kinh tế khi họ sử dụng sản
dịch vụ mà công ty đang cung cấp đến đúng đối tượng khách hàng, đồng thời,
gợi mở nhu cầu khách hàng, giúp khách hàng nắm bắt rõ thông tin về công ty để
có những phản hồi nhanh chóng và chính xác nhất.
Về trang web của công ty cần phải hoàn chỉnh giao diện đẹp, ấn tượng,
thuận tiện đối với người sử dụng.thương xuyên quản lý và cập nhập thêm thông
tin sản phẩm và tin tức thường xuyên lên Web. Xây dựng kho dữ liệu hình ảnh
vị trí và sản phẩm, các hoạt động của công ty để khách hàng có thể tìm hiểu
thông tin cần thiết, đầy đủ và chi tiết hơn.
Thực hiện quảng cáo trên các website đăng tin rao vặt có uy tín cũng như các
trang báo điện tử được nhiều người đọc như: vnexpress.net, vietnamnet.vn…
Thiết kế, quảng cáo hình ảnh của Công ty trên những biển quảng cáo lớn
ngoài trời, biển hộp đèn trong hệ thống biển quảng cáo mà công ty sẵn có. Thiết
kế biển quảng cáo trên các phương tiện công cộng như xe bus, tàu hỏa, các trung
18
tâm thương mại… hay trên bao bì sản phẩm… để thu hút được nhiều khách
hàng tiềm năng hơn.
Công ty nên xây dựng những mẩu tin quảng cáo trên báo, đài địa phương
và khu vực vì phương tiện này có vòng luân chuyển nhỏ, lặp đi lặp lại thường
xuyên nên có hiệu quả tốt ở khu vực nhất định.
Một số hình thức quảng cáo khác như: quảng cáo qua điện thoại, quảng
cáo trên các báo, tạp chí được nhiều doanh nghiệp quan tâm như: Thời báo kinh
tế, Hà Nội mới, Việt Nam news, Diễn đàn doanh nghiệp… Vì tập khách hàng
của Công ty là khách hàng tổ chức nên Công ty cần xác định các hình thức
quảng cáo hướng đúng vào đối tượng này để đạt hiệu quả cao.
- Thời điểm quảng cáo: Thời điểm tung quảng cáo ra thị trường có ảnh
hưởng không nhỏ tới thành công của chương trình. Sản phẩm của Công ty là
dịch vụ có nhu cầu theo kế hoạch kinh doanh của các Công ty trong ngành sản
xuất, dịch vụ và thương mại. Mà các mặt hàng này có nhu cầu mạnh nhất vào
các dịp lễ, tết nên các doanh nghiệp thường có nhu cầu quảng cáo mạnh nhất
trong dịp này. Vì vậy, công ty cần phải đón đầu nhu cầu, tiến hành quảng cáo
Tìm hiểu rõ về khách hàng trước khi gặp gỡ trao đổi, khi khách hàng có
nhu cầu phải tìm hiểu được cụ thể khách hàng có nhu cầu ở khu vực nào, thời
điểm cụ thể sẽ triển khai là khi nào, mục đích chính muốn quảng cáo là gì (giới
thiệu sản phẩm mới; mở rộng thị trường; yểm trợ kế hoạch marketing; giới thiệu
văn phòng giao dịch mới, nhà máy mới…) từ đó có kế hoạch tư vấn khách hàng
hợp lý.
Cần có kế hoạch tìm hiểu cập nhật sự thay đổi của luật (luật quảng cáo;
luật thương mại…) liên quan đến hoạt động của công ty (việc này phải được
giao cụ thể cho 1 nhân viên phụ trách).
3.2.5.2. Nhân lực.
Cần có một tiêu chuẩn và quy trình tuyển dụng rõ ràng để có được đội
ngũ nhân viên có năng lực.
20
Sự chú ý Thích thú
Quyết định
mua
Hành động
mua
Đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn và khả năng giải quyết công việc
một cách linh hoạt cho nhân viên. Đồng thời, rèn luyện cho nhân viên có kỹ
năng giao tiếp và khả năng thuyết trình tốt.
Cần có kế hoạch giữ chân nhân viên (bằng chế độ đãi ngộ hợp lý) khi
nhận thấy họ có khả năng đáp ứng tốt yêu cầu công việc và có kế hoạch đào tạo
những nhân viên chưa đủ năng lực đáp ứng yêu cầu công việc. Dứt khoát trong
việc đào thải những nhân viên không đủ năng lực để tìm kiếm nhân sự mới đủ
năng lực thay thế.
Quy định rõ ràng thành văn bản về tác phong, thái độ làm việc của nhân
viên. Để tạo được “bản sắc văn hoá” của Tập đoàn qua phong cách, tác phong
và thái độ làm việc của nhân viên (thái độ của các nhân viên trong công ty, thái
độ của nhân viên với bạn hàng, đối tác và khách hàng).