Phân tích và định giá sự biến động của giá dầu bằng phương pháp mô hình hóa - Pdf 25

Chuyên đề thực tập Đại học Kinh tế Quốc dân
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG DẦU 3
1. Thị trường dầu thế giới 3
1.1 Lịch sử biến động của giá dầu trên thế giới giai đoạn trước năm 1981 3
2 . Thực trạng về thị trường dầu Việt Nam 14
2.1. Tổng quan thị trường xăng dầu Việt Nam 14
2.1.2. Giai đoạn từ năm 2000 đến trước thời điểm Nhà nước công bố chấm dứt bù
giá, vận hành giá xăng dầu theo cơ chế thị trường 17
2.1.3. Giai đoạn từ cuối năm 2008 đến nay 19
2.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới thị trường dầu Việt Nam 20
O Q 22
Đồ thị 4: Biểu diễn đường cầu dầu mỏ trên thị trường thế giới 22
2.3 Đánh giá tác động của giá xăng dầu đối với nền kinh tế Việt Nam 31
Nguyễn Thị Ngọc Toán tài chính 50
Chuyên đề thực tập Đại học Kinh tế Quốc dân
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. CAPM: Mô hình định giá tài sản vốn
2. FED: cục dự trữ liên bang( Hoa kỳ)
3. ECB: ngân hàng trung ương Châu Âu
4. OECD: tổ chưc hợp tác và phát triển kinh tế
5.OPEC: tố chức các nước xuất khẩu dầu lửa
6.CPI: chỉ số giá tiêu dùng
7. APT: lý thuyết định giá cơ lợi
8. OLS: hồi quy bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất
Nguyễn Thị Ngọc Toán tài chính 50
Chuyên đề thực tập Đại học Kinh tế Quốc dân
DANH MỤC ĐỒ THỊ, BẢNG BIỂU
Bảng 1: Giá các sản phẩm dầu thế giới sáng ngày 02/11/2009
Bảng2: Giá bình quân sản phẩm dầu nửa đầu tháng 11.2010 so với cùng kỳ tháng
10.2010

Bảng 20: Thông số thống kê của chuỗi số liệu R
j
Bảng 21: Thông số thống kê của chuỗi số liệu R
m
Bảng 22. Thông số thống kê của chuỗi số liệu R
f
Bảng 23. Đồ thị hàm tự tương quan cho (R
j
– R
f
)
Bảng 24. Đồ thị tự tương quan cho (R
m
– R
f
)
Bảng 25. Kết quả ước lượng mô hình gốc.
Nguyễn Thị Ngọc Toán tài chính 50
Chuyên đề thực tập Đại học Kinh tế Quốc dân
Bảng 26. Kết quả ước lượng khi thêm biến AR(1).
Bảng 27. Kết quả ước lượng khi thêm biến AR(1) và Inf.
Đồ thị 1: Biểu đồ giá dầu thế giới tính từ ngày 3/12/2007 đến ngày 15/12/2008 dựa
trên giá dầu kỳ hạn đóng cửa tại thị trường New York.
Đồ thị 2. Biến động giá xăng dầu và các sự kiện tác động giai đoạn 1986 - 2011.
Đồ thị 3: Biểu diễn đường cung xăng dầu trên thị trường thế giới
Đồ thị 4: Biểu diễn đường cầu dầu mỏ trên thị trường thế giới
Đồ thị 5: Biểu diễn đường cung - cầu dầu mỏ trên thị trường thế giới
Đồ thị 6: Biểu diễn ảnh hưởng của các yếu tố phi kinh tế
Đồ thị 7: Biểu đồ lược tả ảnh hưởng của việc tăng giá xăng dầu
Đồ thị 8: Mối quan hệ giữa lợi nhuận chứng khoán và β

Pricing Model). Mô hình trên đã được kiểm định tại nhiều nước thế giới và khá
thành công.
Nguyễn Thị Ngọc Toán tài chính 50
1
Chuyên đề thực tập Đại học Kinh tế Quốc dân
3.Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô hình đầu tư tài chính để hiểu rõ bản chất và điều kiện áp
dụng kết hợp với nghiên cứu các kết quả thực nghiệm trước đó trên thế giới để vận
dụng vào thị trường dầu mỏ. Sử dụng mô hình định giá định sản tài chính một cách
chuyên sâu và những kiến thức về kinh tế lượng cần thiết. Ngoài ra nghiên cứu còn
sử dụng một số phương pháp thống kê cơ bản.
4.Số liệu của mô hình
Nghiên cứu dựa trên mẫu dữ liệu quan sát là chỉ số Dow Jone Oil & Gas
Index của sàn giao dịch chứng khoán New York, lãi suất của trái phiếu chính phủ
Anh kì hạn 12 tháng và giá dầu thô thế giới từ 27/12/2010 đến 24/02/2012.
5. Kết quả mong đợi
Em hi vọng sau khi tìm hiểu, phân tích về sự biến động của giá dầu thì sẽ
giúp em có cái nhìn bao quát hơn về thị trường dầu mỏ ở Việt Nam, từ đó có những
giải pháp kiểm soát ảnh hưởng sự biến động giá xăng dầu thế giới đối với các
doanh nghiệp Việt Nam
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài kết cấu gồm hai chương:
Chương 1: Tổng quan về thị trường dầu
Chương 2: Ứng dụng mô hình CAPM vào phân tích và định giá giá dầu
Em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo tận tình của GS-TS Nguyễn Quang
Dong đã giúp em phát triển và hoàn thành đề tài này. Và em xin gửi lời cảm ơn đến
toàn thể các anh chị ban Tổng hợp- Viện chiến lược và phát triển đã giúp em hiểu
sâu thêm thực tế tình hình thị trường dầu.
Mặc dù vậy, do còn có những hạn chế nhất định trong kiến thức và kinh
nghiệm thực tiễn nên chuyên đề của em không tránh khỏi sai sót và nhầm lẫn. Em

dạng về dầu của các quốc gia trên khắp thế giới. Trong khi các nguồn tài nguyên
thiên nhiên không thể tái sinh ngày càng cạn kiệt và những nguồn năng lượng khác
chưa thay thế được vai trò, vị trí chiến lược của dầu mỏ thì nhu cầu về dầu mỏ vẫn
Nguyễn Thị Ngọc Toán tài chính 50
3
Chuyên đề thực tập Đại học Kinh tế Quốc dân
ngày càng tăng với một số lượng lớn các giao dịch mua bán dầu giữa các quốc gia,
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên thế giới.
Thứ hai,đây là thị trường hết sức nhạy cảm với những biến động về kinh tế,
văn hóa, chính trị trên toàn cầu từ đó dẫn đến những biến động trên thị trường dầu
mỏ. Chỉ cần xảy ra sự bất ổn định về mặt chính trị của một trong những nước xuất
khẩu dầu như là sự căng thẳng về chính trị tại Nigieria, các hoạt động phá hoại của
lực lượng chống đối tại Iraq hay sự bất ổn các nguồn cung từ Nga (vụ Yukos) đều
có thể làm chao đảo thị trường dầu mỏ mà kết quả là sự tăng giá dầu lên mức kỷ lục
vào tháng 10/2004.
Thứ ba, thị trường dầu bị chi phối bởi một số các nước xuất khẩu dầu lửa, đây
là các quốc gia xuất khẩu dầu chủ yếu trên thế giới, bao gồm các nước OPEC. Ngày
nay nguồn cung cấp dầu mỏ đã không chỉ tập trung ở khu vực Trung Đông mà còn
ở nhiều nơi khác như:ngoài khơi Angola, Biển Bắc
Từ những năm 1948 đến cuối năm 1957: Đây là giai đoạn chứng kiến sự ổn
định của giá dầu mỏ. Giá dầu dao động trong khoảng từ 2,50 USD đến 3,00 USD.
Nó tăng từ 2,5 USD năm 1948 lên 3 USD năm 1957, nếu tính theo giá năm 2006,
thì tương đương là 17 USD và 18 USD.Từ các năm 1958 đến 1971: Giá dầu ổn định
ở mức 3 USD/thùng ( theo giá 2006 là 17 USD).
Từ những năm 1972-1974: Vào năm 1972, giá dầu thô đạt khoảng
3USD/thùng và cuối năm 1974 đã tăng gấp 4 lần lên mức 12 USD.Cuộc chiến The
Yom Kippur War nổ ra bằng một cuộc tấn công vào Israel bởi Syria và Ai cập vào
ngày 5/10/1973, trong đó Mỹ và nhiều nước phương tây khác đã ủng hộ Israel.
Từ năm 1975 đến 1978: giá dầu trên thế giới không có nhiều biến động, giao
động từ mức 12,21 USD đến 13,55 USD. Khi tính thêm cả lạm phát thì giá dầu

2006 là 20 USD) vào giữa năm 1986. Tuy giá dầu giảm nhưng doanh thu của Ả rập
xê út vẫn không thay đổi do sản lượng tăng đã bù đắp giá giảm. Vào 12/1986, giá
dầu đứng ở mức 18 USD/thùng.
Từ 1987 đến 1998: Giá dầu giảm từ mức 18 USD đầu năm 1987 xuống mức
dưới 15 USD năm 1988. Giá dầu tăng mạnh từ năm 1988 đến năm1990 (đạt trên 20
USD/thùng) do OPEC đã duy trì mức sản lượng thấpcùng với sự bất ổn gắn với
cuộc tấn công của Iraq vào Kuwait là khởi nguồn cho cuộc chiến tranh vùng
Nguyễn Thị Ngọc Toán tài chính 50
5
Chuyên đề thực tập Đại học Kinh tế Quốc dân
vịnh.Thế giới và nhất là các nước ở Trung Đông đã có quan điểm cứng rắn hơn với
Saddam Hussein khi tấn công Kuwait so với khi tấn công Iran. Tuy nhiên từ sau
1990, do OPEC tăng liên tục sản lượng và nhất là sau cuộc chiến tranh vùng vịnh
giải phóng Kuwait, giá dầu bước vào thời kỳ giảm giá liên tục và ở mức gần 15
USD năm 1994. Sau đó chu kỳ giá lại tăng lên, nền kinh tế Mỹ phát triển mạnh và
khu vực Châu Á Thái Bình Dương tăng trưởng nhanh. Từ 1990 đến 1997, mức tiêu
thụ dầu thế giới tăng lên ngưỡng 6,2 triệu thùng/ngày trong đó mức tiêu thụ của các
nước châu Á đóng góp 300.000 thùng/ngày cho mức tăng thêm và đã góp phần làm
cho giá dầu tăng trở lại và tiếp tục tăng mạnh và 1997. Sự giảm sút sản lượng của
Nga cũng góp phần làm tăng giá dầu thô. Giữa năm 1990 và 1996,sản lượng của
Nga đã giảm 5 triệu thùng/ngày.Giá dầu tăng lên không k€o dài được lâu và kết
thúc vào năm 1998 khi OPEC đã cố tình làm ngơ hoặc đánh giá thấp tác động của
khủng hoảng kinh tế châu Á.
Vào tháng 12/1997, OPEC tăng hạn ngạch thêm 2.5 triệu thùng/ngày (10%)
có hiệu lực từ ngày 1/1/1998. Sự phát triển nhanh của nền kinh tế các nước châu Á
đã bị chặn lại. Vào năm 1998,mức tiêu thụ dầu của châu Á Thái Bình Dương đã
giảm lần đầu từ năm 1982.Giá dầu rơi vào vòng xoáy giảm giá khi mà mức tiêu thụ
thấp đi liền với mức sản lượng cao hơn từ OPEC. Trước hoàn cảnh đó, OPEC đã
giảm hạn ngạch 1,25 triệu thùng/ngày vào tháng 4 và tiếp đó là 1,335 triệu
thùng/ngày vào tháng 7. Giá tiếp tục giảm đến hết tháng 12/1998 và đạt ở mức 12

cho sản lượng dầu nước này giảm mạnh nhanh chóng. Trước khi cuộc đình công nổ
ra, Venezuela chưa bao giờ có thể khôi phục mức sản lượng trước đó và luôn đứng
ở mức thấp hơn 900.000 thùng/ngày so với mức cao nhất là 3,5 triệu thùng/ngày.
OPEC tăng sản lượng lên thêm 2,8 triệu thùng/ngày vào tháng 1 và tháng 2/2003.
Vào 19/3/2003,sản lượng dầu của Venezuela bắt đầu được khôi phục thì cuộc tấn
công quân sự vào Iraq đã nổ ra. Trong hoàn cảnh đó, trữ lượng dầu ở Mỹ và các
quốc gia OECD vẫn đạt ở mức thấp. Do sự phát triển mạnh của nền kinh tế, nhu
cầu dầu từ Mỹ và các nước châu Á đã tăng một cách chóng mặt.Vì vậy,sự giảm sản
lượng ở Iraq và Venezuela được bù đắp bởi việc tăng sản lượng ở các nước thành
viên khác tuy nhiên vẫn khiến cho mức sản lượng dầu tiềm năng có khả năng sản
Nguyễn Thị Ngọc Toán tài chính 50
7
Chuyên đề thực tập Đại học Kinh tế Quốc dân
xuất giảm. Vào giữa năm 2002, sản lượng dầu tiềm năng đạt 6 triệu thùng/ngày và
giữa năm 2003 đã giảm xuống dưới 2 triệu thùng.
1.4 Giai đoạn 2004 đến nay
Nhu cầu tiêu thụ dầu trên thế giới giai đoạn này là rất lớn ( 80 triệu
thùng/ngày) là nguyên nhân chính làm cho giá dầu vượt quá khoảng giá 40-50
USD/thùng. Một yếu tố quan trọng khác dẫn tới sự tăng lên của giá dầu đó là sự
phát triển liên tục và nhanh chóng của các nền kinh tế châu Á đi liền với sự tiêu thụ
dầu của các quốc gia này và sự suy yếu của đồng USD. Năm 2005,các trận bão
nhiệt đới đã gây ra tổn thất cho hệ thống lọc dầu của Mỹ và các nước khác, bên
cạnh đó là việc chuyển từ sử dụng hỗn hợp Ête, Butila và Metal sang việc sử dụng
công nghệ ethanol cũng góp phần vào sự tăng giá dầu thô.Một trong những lý do
quan trọng nhất dẫn đến sự tăng lên của giá dầu đó là mức dự trữ dầu ở các nước
tiêu thụ dầu và đặc biệt là ở Mỹ. Trước khi khả năng sản xuất thặng dư thì dự trữ
dầu vẫn là một công việc rất tốt dùng để dự đoán giá dầu trong ngắn hạn.Tuy nhiên
OPEC đã không công khai trong một vài năm do liên quan tới chính sách việc quản
lý dự trữ dầu thô quốc tế. Một trong các lý do mà OPEC cắt giảm sản lượng vào
tháng 11/2006 và 2/2007 là việc dự trữ dầu của các nước thuộc tổ chức phát triển

nghiệp trong khi đó con số này cùng kỳ năm ngoái là từ 12 đến 22%. Với các nước
châu Âu, sản xuất công nghiệp giảm 0,1%. Anh và Mexico là hai nước xuất khẩu
dầu, giảm tương ứng 1,9% và 4,7%.Tất cả các nền kinh tế lớn ngoài Mỹ thuộc Tổ
chức phát triển và hợp tác kinh tế OECD cùng với Mêxicô chiếm 13,7% kim ngạch
xuất khẩu của Mỹ. Các chỉ số tiêu biểu của nền kinh tế OECD tính trong xu hướng
6 tháng đã tăng trưởng 7,5% vào đầu năm 2004, trong khi đó vào tháng 4/2008, chỉ
số này giảm 0,5%.
Như vậy giá dầu tăng cao đã ảnh hưởng tới rất nhiều nền kinh tế, làm giảm
tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp. Và ngành công nghiệp đã có cơ chế tự điều
chỉnh bằng việc giảm sản lượng và dẫn đến giảm nhu cầu dầu.
Sau khi tăng liên tục từ giữa năm 2007, giá dầu thô đã gây sốc khi khởi đầu năm
2008 bằng việc lần đầu tiên trong lịch sử đạt mốc 100 USD/thùng (03/01/2008) -
mốc giá chưa từng có kể từ khi mặt hàng này được đưa vào giao dịch kỳ hạn tại thị
Nguyễn Thị Ngọc Toán tài chính 50
9
Chuyên đề thực tập Đại học Kinh tế Quốc dân
trường New York năm 1983. Kể từ đó, giá dầu thế giới liên tiếp lập kỷ lục để rồi
sau đó lại phá vỡ và tiếp tục đạt kỉ lục mới là 110 USD/ thùng (03/03/2008). Thị
trường dầu mỏ trở nên nóng hơn bao giờ hết khi cứ tiếp tục leo thang.Tính từ đầu
năm 2008, giá vàng đen đã tăng lên hơn 50%.

 !
"#$%&'()!&"*+, /0"$1
Có thể nói năm 2008 là năm mà thế giới đã chứng kiến mức trồi sụt giá dầu
mỏ lớn đến vậy chỉ trong một khoảng thời gian tương đối ngắn. Đây là một năm lịch
sử của thị trường dầu thô, khi mà giá “vàng đen” đạt đỉnh cao ở mức 147, 27 USD
vào tháng 7, rồi sau đó rớt một mạch hơn 100 USD/thùng, tương đương với mức
giảm hơn 70%, trong vòng 4 tháng, về ngưỡng 40USD/thùng.
Sau khi đã lập kỷ lục cao là 147,27 USD/thùng vào năm 2008, giá dầu giảm
xuống mức thấp nhất chỉ 32,70 USD/thùng vào ngày 20/1/2009 và đạt mức trung

nhẹ giao tháng 11/2010 tại New York tăng từ 1,83 USD lên 83,08 USD/thùng và
giá dầu Brent Biển Bắc giao tháng 12/2010 tại London tăng từ 1,92 USD lên 84,37
USD/thùng.Dù vậy, giá dầu thô lại giảm nhẹ tại thị trường châu Á trong phiên ngày
19/10, do những quan tâm về đà hồi phục kinh tế Mỹ đè nặng lên tâm lý giới đầu tư.
Tại sàn giao dịch điện tử Singapore chiều cùng ngày , giá dầu ngọt nhẹ giao tháng
11/2010 giảm từ 34USD/ thùng xuống 82, 74 USD/thùng.
Nguyễn Thị Ngọc Toán tài chính 50
11
Chuyên đề thực tập Đại học Kinh tế Quốc dân
239:;<42567)!140=(>$%
1
Hiện tại thì giá dầu thô cùng với các sản phẩm từ xăng dầu vẫn biến động
không ngừng. Giá dầu thô tại thị trường New York (Mỹ) đã tăng lên gần mức 86
USD/ thùng trong phiên giao dịch ngày 30/11. Cho đến cuối năm 2010 giá dầu sẽ
vẫn tiếp tục tăng do nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng khi mà thời tiết ở các nước
Bắc Mỹ ngày càng lạnh hơn .
Nguyễn Thị Ngọc Toán tài chính 50
12
Chuyên đề thực tập Đại học Kinh tế Quốc dân
1?@A=((4 $B(?!0&8CD1
E,F-@5"-441-G
Nguyễn Thị Ngọc Toán tài chính 50
13
Chuyên đề thực tập Đại học Kinh tế Quốc dân
2 . Thực trạng về thị trường dầu Việt Nam
11HI;!"*+@AFB,!7
Cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ bao cấp, tập trung sang nền kinh
tế thị trường có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước, hoạt động phân phối xăng dầu
cũng đã trải qua các giai đoạn tương ứng, từ việc cung cấp theo định lượng, áp dụng
mức giá thống nhất do Nhà nước quy định trong từng giai đoạn khác nhau đến mua

định giá tối đa; doanh nghiệp tự quyết định giá bán buôn, bán lẻ trong phạm vi giá
tối đa. Nhà nước xác định rõ mức độ chịu đựng của nền kinh tế để xác định giá tối
đa; việc điều chỉnh giá tối đa trong giai đoạn này chỉ diễn ra khi tất cả các công cụ
điều tiết đã sử dụng hết.
Sử dụng công cụ thuế nhập khẩu được như một van điều tiết để giữ mặt
bằng giá tối đa, không tạo ra siêu lợi nhuận và các doanh nghiệp cũng không phát
sinh lỗ sau một chu kỳ kinh doanh.
Phụ thu là một trong các công cụ bổ sung cho thuế nhập khẩu khi mức thuế
nhập khẩu đã được điều chỉnh tăng hết khung,đưa vào Quỹ Bình ổn giá do Nhà
nước quản lý.
Lệ phí giao thông thu được từ năm 1994 cũng được hình thành từ nguyên
tắc tận thu cho ngân sách Nhà nước trong điều kiện cho ph€p, là khoản thu cố định
và sau này đổi tên là phí xăng dầu.
Đặc điểm lớn nhất của giai đoạn này là: nhờ quy định của Nhà nước về giá
chuẩn, các doanh nghiệp đầu mối được điều chỉnh giá bán xăng dầu nhập khẩu
thuộc nguồn ngoại tệ tự huy động từ doanh nghiệp xuất khẩu,nhằm đảm bảo quyền
lợi cho họ thông qua tỷ giá phù hợp nên đã huy động được số ngoại tệ nhập khẩu
lên gần 60% nhu cầu xăng dầu cho nền kinh tế sau khi không còn nguồn xăng dầu
theo Hiệp định.
Nhờ chủ trương không áp dụng cơ chế bù giá cho các đối tượng sử dụng
xăng dầu thông qua doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu tạo ra điều kiện quyết định
để Việt Nam có thể tự cân đối được ngoại tệ nhập khẩu xăng dầu ngay cả khi nguồn
ngoại tệ tập trung của Nhà nước từ dầu thô chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ hơn 50% so với
tổng nhu cầu ngoại tệ nhập khẩu xăng dầu lúc đó.
Nguyễn Thị Ngọc Toán tài chính 50
15
Chuyên đề thực tập Đại học Kinh tế Quốc dân
Giai đoạn này cũng là thời kỳ giá xăng dầu trên thế giới ở mức đáy (dầu thô
chỉ ở mức trên 10 USD/thùng), tương đối ổn định nên với cơ chế giá tối đa, Nhà
nước đã hoàn thành mục tiêu đề ra, cụ thể là (1)/ Cân đối cung - cầu được đảm bảo

Trong khi đó, từ đầu những năm 2000, giá xăng dầu thế giới đã có những biến
động thay đổi căn bản; mặt bằng giá mới đựơc hình thành và liên tiếp bị phá vỡ để
xác lập mặt bằng mới trong các năm tiếp. Do tiếp tục thực hiện chính sách bù giá
cho người tiêu dùng thông qua doanh nghiệp nhập khẩu khi cố gắng giữ mức giá
nội địa ở mức thấp vì thế số tiền ngân sách bù giá ngày càng gia tăng, từ 1000 tỷ
(năm 2000) lên 22 nghìn tỷ đồng năm 2008; ngoại trừ yếu tố trượt giá thì đây cũng
là một tốc tộ tăng quá nhanh; chưa có đánh giá nào đề cập đến khía cạnh này song
x€t đơn thuần trên số liệu, nếu đầu tư bỏ ra hàng ngàn tỷ đồng cho các dự án phát
triển cơ sở hạ tầng kinh doanh xăng dầu thì đã có thể tạo lập một hệ thống kinh
doanh xăng dầu lớn và hiện đại, có khả năng cạnh tranh khi thị trường xăng dầu mở
cửa trong tương lai gần.
Cũng trong giai đoạn này, sau khi cuộc chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ 2 nổ ra;
giá xăng dầu đã bắt đầu dịu lại song cũng đã hình thành một mặt bằng mới; trước
nguy cơ không thể cân đối ngân sách cho bù giá xăng dầu, Thủ tướng Chính phủ đã
ban hành Quyết định số 187/2003/QĐ-TTg ngày 15/9/2003 về kinh doanh xăng
dầu.
Cho đến thời điểm này, sự đổi mới cơ chế quản lý, chủ yếu là quản lý giá dầu
theo Quyết định 187 vẫn được coi là mạnh mẽ nhất với các tư tưởng cơ bản bao
gồm:
- Nhà nước đã xác định giá định hướng; doanh nghiệp đầu mối có quyền điều
chỉnh tăng giá bán trong phạm vi + 10% (đối với xăng) và + 5% (đối với các mặt
hàng dầu).
- Hình thành 2 vùng giá bán đó là giá bán tại vùng xa cảng nhập khẩu, doanh
nghiệp được cộng vào giá bán một phần chi phí vận tải nhưng tối đa không vượt
quá 2% so với giá bán ở vùng gần cảng nhập khẩu.
Nguyễn Thị Ngọc Toán tài chính 50
17
Chuyên đề thực tập Đại học Kinh tế Quốc dân
- Chỉ được thay đổi giá định hướng khi các yếu tố cấu thành giá thay đổi lớn,
Nhà nước không còn công cụ điều tiết, đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng - Nhà

chế điều hành và lợi ích mà Nhà nước mang lại cho nhân dân nên thường xuyên có
phản ứng tiêu cực sau mỗi lần điều chỉnh giá (kể cả tăng và giảm),do vậy chưa tạo
được sự đồng thuận trong xã hội; thẩm lậu xăng dầu qua biên giới ngày càng phức
tạp, khó kiểm soát; Nhà nước thất thu ngân sách kể cả lúc giá thấp và cao hơn nước
lân cận do thẩm lậu xăng dầu qua đường biên giới.
Từ năm 2005 đến cuối năm 2007 thì giá xăng dầu trong nước biến động tăng
nhưng mức tăng này vẫn thấp hơn so với thị trường thế giới là do có chính sách trợ
giá bù lỗ của Nhà Nước. Việc tăng giá do Nhà Nước quyết định và công bố. Hệ quả
rất xấu của cơ chế bù giá xăng dầu k€o dài (mà người tiêu dùng vẫn hiểu là bù lỗ
cho doanh nghiệp đầu mối) là việc khó chấp nhận điều chỉnh tăng giá,cả mức rất
thấp và phản ứng mạnh trước các thông tin doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu
không có hiệu quả mà luôn được Nhà nước bù lỗ.
Cũng cần khẳng định rằng, khi Nhà nước bảo đảm đủ cân đối ngoại tệ cho
nhập khẩu xăng dầu thì mới có thể áp dụng biện pháp bù giá. Đây là điểm khác biệt
so với giai đoạn trước, khi nguồn ngoại tệ từ dầu thô và các nguồn dự trữ tập trung
khác của Nhà nước đã lớn.
2.1.3. Giai đoạn từ cuối năm 2008 đến nay
Có thể nói, giai đoạn này tuy ngắn nhưng đã bộc lộ nhiều bất cập của cơ chế
điều hành giá và thuế xăng dầu. Việc tiếp tục can thiệp giá và áp dụng cơ chế điều
hành trong điều kiện giá xăng dầu thế giới biến động nhanh chóng theo hai xu
hướng ngược nhau đã dẫn đến nghịch lý là: trong thời kỳ giá thế giới đã giảm, Nhà
nước vẫn phải bỏ một số tiền bù giá tương đương, thậm chí còn cao hơn so với giai
đoạn giá thế giới tăng đỉnh điểm; phân khúc số tiền bù giá cho các giai đoạn trong
năm 2008 có thể thấy rõ nhận định này (khoảng 12 ngàn tỷ /11 ngàn tỷ).
Mốc quan trọng là vào 25/02/2008, giá xăng dầu được Nhà Nước cho thả nổi
theo giá thị trường. Theo nghị đinh 55 thì giá xăng dầu được giao cho doanh nghiệp
tự chủ trong kinh doanh. Từ thời điểm này,doanh nghiệp nhập khẩu, kinh doanh
xăng dầu nhận quyền, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp và người dân phải chấp
Nguyễn Thị Ngọc Toán tài chính 50
19

Nguyễn Thị Ngọc Toán tài chính 50
20
Chuyên đề thực tập Đại học Kinh tế Quốc dân
dầu lửa. Đây là các quốc gia sản xuất dầu chủ yếu trên thế giới, bao gồm những
nước thuộc nhóm OPEC (The Organization of Petroleum Exporting Contries)-Tổ
chức các nước xuất khẩu dầu mỏ thế giới được thành lập ngày 14/9/1960 tại
Bagdhad (thủ đô Iraq), lúc đầu gồm nước Venezuela, Saudi Arabia, Iraq, Iran, và
Kuwait. Quata kết nạp vào năm 1961; Indonexia và Lybia (1962); Tiểu vương quốc
các nước Arab thống nhất (1967); Algeria (1969); Nigeria (1971). Ecuado gia nhập
1973 nhưng xin rút lui năm 1992. Gabon nhập năm 1975 nhưng xin rút lui năm
1994. OPEC đã chuyển tổng hành dinh từ Geneva (Thụy Sĩ) đến Vienna (Áo) vào
ngày 01/09/1965. Hiện nay ,khối OPEC có 7 nước thuộc khối Ảrập độc quyền kiểm
soát, chi phối thị trường dầu lửa trên thế giới, tự do áp đặt giá dầu. Trong các nước
thành viên có 11 nước Hồi giáo chiếm 75% trữ lượng dầu và trữ lượng khí đốt trong
tổng trữ lượng dầu khí của toàn cầu. Cơ quan năng lượng quốc tế IEA- International
Enegy Agency, đã công bố danh sách 10 nước XK nhiều dầu thô nhất và 10 nước
NK nhiều nhất vào 9/2002.
Ngày nay nguồn cung cấp dầu không chỉ tập trung ở Trung Đông mà còn nhiều nơi
như ngoài khơi Angola, Biển Bắc…Các nước ngoài khối OPEC cung cấp khoảng
40% sản lượng dầu mỏ thế giới. Những nước Non-OPEC (không nằm trong OPEC)
xuất khẩu dầu mỏ làm ảnh hưởng không nhỏ đến thị trường dầu thế giới : đứng đầu
là Canada, tiếp đến là Anh, Mexico, Na Uy, Trung Quốc,Nga, Mỹ, Đan Mạch,
Congo, Việt Nam, Azerbaijan, Brunei, Romania và Peru,… Khi diễn ra biến động
chính trị ở những quốc gia dầu mỏ cũng làm giá dầu biến động. Chẳng hạn cuộc
chiến Iraq hoặc những xáo trộn ở Nigenia, khả năng Iran (nắm giữ 10% trữ lượng
dầu thế giới) bị quốc tế áp đặt lệnh trừng phạt về vấn đề hạt nhân … khiến giá giầu
từ giữa năm 2005 biến động mạnh, có ngày vượt qua mức 70 USD/thùng (trong khi
mức giá bình quân được giữ ở mức 25 -28 USD/thùng từ hàng chục năm qua)
Đường cung thị trường dầu mỏ biểu hiện trên đồ thị, là đường có độ dốc lên từ trái
qua phải, biểu thị khi giá tăng thì lượng cung cũng tăng lên theo.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status