Sử dụng mô hình var vào hoạt động quản lý rủi ro tại ngân hàng á châu – chi nhánh hà nội - Pdf 25

Chuyên đề thực tập Khoa Toán Kinh tế
MỤC LỤC
SV: Nguyễn Hữu Tuyến Lớp Toán tài chính 50
Chuyên đề thực tập Khoa Toán Kinh tế
DANH MỤC HÌNH, BẢNG
HÌNH:
SV: Nguyễn Hữu Tuyến Lớp Toán tài chính 50
Chuyên đề thực tập Khoa Toán Kinh tế
LỜI NÓI ĐẦU
Thị trường chứng khoán Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ và thu hút rất
nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước. Các nhà đầu tư có thể là các cá nhân hay các tổ
chức, và họ tham gia vào thị trường theo những cách tiếp cận khác nhau. Nhiều nhà đầu
tư ưa thích rủi ro, nhiều nhà đầu tư e ngại rủi ro, có nhà đầu tư thụ động và chủ động.
Tuy nhiên tất cả các nhà đầu tư cá nhân hay tổ chức đều với một mục tiêu là thu được lợi
nhuận cao và với mức rủi ro thấp nhất.
Trong thời gian hiện nay, với sự biến động của thị trường thì việc đầu tư cổ phiếu
khá nhiều rủi ro. Vì vậy việc thiết lập một danh mục cổ phiếu đầu tư là rất quan trọng.
Mục đích củc việc đầu tư theo danh mục là giảm thiểu rủi ro bằng việc đa dạng hóa danh
mục đầu tư. Dựa trên cơ sở các tài sản đầu tư, nhà đầu tư lập một danh mục đầu tư bao
gồm các tài sản khác nhau. Trên nguyên tắc là “không bỏ trứng vào một giỏ”, các nhà
đầu tư tạo ra một danh mục có rủi ro thấp nhất, đó là rủi ro của thị trường (rủi ro hệ
thống). Khi đó, nhà đầu tư vẫn đạt được ở tại mức lợi nhuận kỳ vọng. Vì vậy, nhà đầu tư
luôn cố gắng tạo ra một danh mục tối ưu.
Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hiện nay đã mang đến cho thị trường
bất động sản một vị thế mới, một diện mạo mới. Chính vì vậy mà trên thị trường chứng
khoán hiện nay thì các cổ phiếu của ngành bất động sản đang khá được quan tâm và đầu
tư với những tên tuổi có thương hiệu của các công ty bất động sản mạnh. Tuy nhiên với
sự biến động chung của thì trường thì cổ phiếu bất động sản là loại cổ phiếu ”nhạy cảm”
đầu tư vào các loại chứng khoán các công ty ngành bất động sản cũng mang lại nhiều rủi
ro cho các nhà đầu tư.
Tầm quan trọng đối với lập và quản lý danh mục đầu tư đối với nhà đầu tư chính là

của danh mục là một công cụ quản lý chính các cam kết của ban giám đơcs điều hành
các quỹ đầu tư
Còn với danh mục đầu tư chứng khoán được hiểu là một nhóm các tài sản chứng
khoán cổ phiếu, trái phiếu, hoặc một số chứng khoán phái sinh như quyền chọn, hợp
đồng tương lai…do một nhà đầu tư hoặc một tổ chức nắm giữ theo một tỷ lệ nào đó của
các tài sản trong danh mục.
Có nhiều cách để biểu hiện một danh mục đầu tư nhưng cách thuận lợi nhất là thể
hiện dưới dạng tỷ trọng các tài sản đầu tư trong danh mục. Ví dụ có danh mục P :
( w
1
,w
2
, …,w
n
) với
1
w 1
n
i
i
=
=

,W
i
là tỷ trọng tài sản thứ i
Trong chuyên đề này chúng ta chỉ nghiên cứu về danh mục đầu tư chứng khoán và
gọi tắt là danh mục đầu tư.
SV: Nguyễn Hữu Tuyến Lớp Toán tài chính 50
5

+) r
t
: Lợi suất của tài sản đầu tư trong thời kỳ t
+) D
t
: Thu nhập từ tài sản mà nhà đầu tư nhận được trong thời kỳ t
+) P
t
: Giá trị của tài sản ở cuối thời kỳ t
+) P
t-1
: Giá trị của tài sản đầu tư ở cuối thời kỳ (t-1)
Ví dụ:
Lợi suất của cổ phiếu X là thu nhập có được từ việc đầu tư cổ phiếu và được biểu
thị bằng tỷ lệ giữa thu nhập và giá trị vốn bỏ ra. Lợi nhuận từ đầu tư cổ phiếu bao gồm:
Cổ tức được hưởng từ cổ phiếu và lợi vốn – tức là lợi tức có được do chứng khoán tăng
giá. Giả sử cho D
t
= 3 ;P
t
=30; P
t-1
=28 thì ta suy ra lợi suất của cổ phiếu này sẽ là:
1
1
( )
t t t
t
t
D P P

Mỗi một loại tài sản ( chứng khoán ) lại mang một lợi suất đầu tư riêng. Chính vì
vậy lợi suất đầu tư ước tính của một danh mục đầu tư chứng khoán là bình quân gia
quyền của lợi suất thu được của mỗi chứng khoán trong danh mục đầu tư đó
Công thức tính lợi suất của danh mục đầu tư:
1
w
n
p i i
i
r r
=
=

Lợi suất kỳ vọng của danh mục đầu tư:
1
w
n
p i i
i
r r
=
=

Trong đó:
+) r
p
:Lợi suất của danh mục đầu tư
+) r
i
: Lợi suất của tài sản i

hơn hoặc cao hơn tỷ suất lợi nhuận mong đợi.
Việc chấp nhận mức rủi ro nào là tùy thuộc vào mỗi nhà đầu tư. Một số nhà đầu tư
chấp nhận mức rủi ro cao với kỳ vọng sẽ nhận được mức lợi tức cao; nhưng cũng có
những nhà đầu tư chỉ muốn chấp nhận nhứng mức rủi ro thấp và do vậy cũng chỉ hưởng
mức lợi tức kỳ vọng thấp. Chính vì thế mà chúng ta thường thấy rằng có một số người
chỉ đầu tư vào các loại trái phiếu chính phủ, chứng chỉ tiền gửi…với độ an toàn cao
nhưng chỉ mang lợi tức thấp. Trong khi đó thì một số người sẵn sang đầu tư vào cổ phiếu
hoặc các chứng khoán phái sinh (quyền chọn, hợp đồng tương lai …với kỳ vọng nhận
được lợi tức cao. Tuy nhiên vì chúng lại mang rủi ro cao nên không gì có thể đảm bảo
mức lợi tức cao này sẽ trở thành hiện thực.
Để đo lường rủi ro của danh mục đàu tư ta thường dung phương sai hoặc độ lệch
chuẩn của lợi suất thu được. Không giống lợi suất, việc xác định độ lệch chuẩn của danh
mục đầu tư rất phức tạp do ảnh hưởng của yếu tố hiệp phương sai, tức là mức độ quan hệ
rủi ro của các chứng khoán trong danh mục đầu tư. Phương sai giữa lợi suất của hai tài
sản là chỉ tiêu đo lường mức độ quan hệ tuyến tính giữa hai chứng khoán.
Công thức tính phương sai của danh mục đầu tư:
2 2 2 2
,
1 , 1
w 2 w w
N N
p i i i j i j
i i j
σ σ σ
= =
= +
∑ ∑
với i

j

Sự đa dạng hóa danh mục đầu tư là nhu cầu của mọi nhà đầu tư, ngay cả khi giá cả
chứng khoán được định giá đúng nhưng mỗi chứng khoán vẫn có thể chứa đựng những
rủi ro tiềm ẩn và rủi ro này có thể giảm thiểu thông qua đa dạng hóa danh mục đầu tư.
Danh mục đầu tư là lĩnh vực quan trọng trong phân tích thị trường tài chính vì nó
đề cập tới các nguyên tắc, phương pháp đầu tư theo danh mục một cách có hiệu quả.
Nắm vững các nguyên tắc để vận dụng linh hoạt trong thực tiễn là tiền đề thành công
của nhà đầu tư trên thị trường tài chính đầy biến động. Có rất nhiều nghiên cứu lý luận
cũng như thực tiễn về lĩnh vực quản lý danh mục và được tổng hợp lại trong môn học ‘’
lý thuyết về danh mục đầu tư’’
Nhà đầu tư thường tiến hành đầu tư theo danh mục nhằm đa dạng hóa để giảm
thiểu rủi ro. Một danh mục lại gồm nhiều tài sản bởi vậy thông tin cần thiết ban đầu để
làm căn cứ thiết lập danh mục gồm:
+) Giá hoặc lợi suất của từng tài sản
+) Mối quan hệ giữa giá hoặc lợi suất của các tài sản dự kiến có trong danh mục
Đối với nhà đầu tư trên thị trường, đầu tư chứng khoán là một hoạt động đầu tư
mang lại lợi nhuận cao. Tuy nhiên đầu tư vào chứng khoán lại hàm chứa rủi ro cao. Khi
nhà đầu tư thực hiên đầu tư đơn lẻ vào một cổ phiếu, rủi ro rất lớn. Vì vậy, nhà đầu tư
cần thiết phải xác định một danh mục đầu tư cho phù hợp với mức chấp nhận rủi ro của
mình do các nhu cầu sau:
Thứ nhất: Đầu tư chứng khoán theo danh mục vẫn đảm bảo được các yêu cầu của
nhà đầu tư về lợi suất. Bên cạnh đó nhà đầu tư có thể điều chỉnh danh mục ohuf hợp với
lợi suất yêu cầu.
Thứ 2: Đầu tư bằng danh mục đầu tư giúp nhà đầu tư có thể đa dạng hóa danh mục
SV: Nguyễn Hữu Tuyến Lớp Toán tài chính 50
9
Chuyên đề thực tập Khoa Toán Kinh tế
và giảm thiểu rủi ro.
2.Vai trò của danh mục đầu tư với các tổ chức kinh doanh
Các tổ chức kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán nhằm mục đích
thu được nguồn lợi nhuận từ hoạt động đầu tư chứng khoán. Vì vậy trong khi thị trường

tối ưu với rủi ro khi đầu tư là thấp nhất hoặc lợi nhuận khi đầu tư là cao nhất.
Gọi X là khoản tiền ban đầu của nhà đầu tư, giả sử trong danh mục có N loại tài
sản (được đánh số thứ tự từ 1 đến N)
Tương ứng x là khoản tiền mà nhà đầu tư đầu tư vào tài sản i trong danh mục có N
loại tài sản và S là giá của tài sản i tại thời điểm mà nhà đầu tư quyết định thực hiện đầu
tư. Ta có :
X
i
= S
i
k
i

∑ ∑
= =
==
N
i
N
i
iii
kSxX
1 1
Đặt w
i
=
X
x
i
( i =

i
1i
w
= 1.
I.2. Đặc điểm của danh mục đầu tư
Danh mục đầu tư là một tổ hợp các tài sản khác nhau trong hoạt động đầu tư của
nhà đầu tư. Danh mục đầu tư biểu hiện sự phân bổ các tài sản đầu tư nhằm mục đích đạt
được lợi nhuận trong dài hạn là cao nhất với mức rủi ro là thấp nhất. Trong quá trình đầu
tư, nhà đầu tư có thể thay đổi tỉ trọng của tài sản nhằm đạt lợi nhuận cao nhất. Ví dụ như
nhà đầu tư nhận thấy triển vọng về một tài sản nào đó tốt trong tương lai, nhà đầu tư có
thể tăng tỉ trọng của tài sản đó trong danh mục và ngược lại là giảm tỉ trọng của tài sản
nào đó trong danh mục nếu nhà đầu tư nhận thấy triển vọng của tài sản đó thấp, thậm chí
có thể loại bỏ tài sản đó trong danh mục.
Việc lập ra danh mục đầu tư tốt, có lợi cho nhà đầu tư đòi hỏi nhà đầu tư phải có
một kiến thức thị trường tốt, có khả năng dự đoán đón đầu xu thế để nắm bắt thời cơ qua
đó có những điều chỉnh phù hợp cho danh mục đầu tư của mình. Trên thực tế, các danh
mục của các nhà đầu tư là tương đối khác nhau, việc xây dựng danh mục đầu tư dựa vào
rất nhiều yếu tố như : tâm lý nhà đầu tư, thông tin mà mỗi nhà đầu tư có được, tình hình
tài chính của nhà đầu tư, xu thế của thị trường, mức chấp nhận rủi ro của nhà đầu tư….
Việc chấp nhận rủi ro cũng tùy vào tâm lý của nhà đầu tư. Trên thị trường thì có
thể xuất hiện nhà đầu tư e ngại rủi ro, nhà đầu tư ưa thích rủi ro và nhà đầu tư bàng
quang với rủi ro. Các nhà đầu tư ưa thích rủi ro thì có thể chấp nhận mức rủi ro cao hơn
bình thường với mục đich kì vọng thu được lợi nhuận cao hơn so với các nhà đầu tư e
ngại rủi ro. Chính vì thế mà đối tượng tài sản mà các nhà đầu tư nhắm tới khác nhau, nhà
đầu tư e ngại rủi ro thường chọn các tài sản có rủi ro thấp như trái phiếu, các nhà đầu tư
ưa thích rủi ro thì lại thường chọn các tài sản có rủi ro cao như cổ phiếu.
SV: Nguyễn Hữu Tuyến Lớp Toán tài chính 50
12
Chuyên đề thực tập Khoa Toán Kinh tế
Tính chất của nhà đầu tư cũng ảnh hưởng đến danh mục đầu tư. Nhà đầu tư cá

13
Chuyên đề thực tập Khoa Toán Kinh tế
Thông qua tìm hiểu thị trường cà phân tích sơ bộ dựa trên những thông tin đại
chung hoặc thông tin riêng có được, nhà quản lý lọc sơ bộ số cổ phiếu dựa trên những
yêu cầu, hiểu biết và mục tiêu của khách hàng.
 Lực chọn danh mục đầu tư
Với nhóm chứng khoán tiềm năng đã được lựa chọn ở trên, nhà quản lý có thể tập
trung thu thập và phân tích thông tin chi tiết hơn và sử dụng các mô hình phù hợp để lựa
chọn danh mục tối ưu cho khách hàng. Trong quá trình lọc chứng khoán thành phần, nhà
quản lý cũng nên chú trọng phân tán rủi ro bằng cách đa dạng hóa danh mục. Ví dụ, nhà
đầu tư có thể kết hợp chứng khoán theo sự đối trọng về mức độ rủi ro (các chứng khoán
có tần suất dao động lớn kết hợp với các chứng khoán có tần suất dao động nhỏ), đối
trọng giữa những ngành có đặc điểm sản xuất kinh doanh độc lập với nhau…Việc đa
dạng hóa danh mục giúp cho nhà đầu tư tránh được rủi ro hệ thống khi trong danh mục
xuất hiện quá nhiều (hoặc toàn bộ) chứng khoán có cùng một tập tính vận động. Sau khi
chọn danh mục tối ưu cho khách hàng quản lý cần chọn chiến lược quản lý danh mục
phù hợp.
 Điều chỉnh danh mục
Khi các điều kiện trên thị trường thay đổi hoặc khi mục tiêu nhà đầu tư thay đổi
thì cần phải điều chỉnh danh mục cho phù hợp với điều kiện mới. Việc điều chỉnh danh
mục thực hiện trên cơ sở các tiêu chí đầu tư đã đề ra. Trong quá trình theo dõi diễn biến
thị trường, thông tin thường xuyên được cập nhật và phân tích để đảm bảo phát hiện kịp
thời được những biến động bất thường của thị trường và của chứng khoán thành phần
trong danh mục. Trong trường hợp các tiêu chí đầu tư đạt mức hoặc bị vi phạm, nhà
quản lý cần tìm hiểu xác định nguyên nhân của biến động và thông báo kịp thời cho
khách hàng nhằm tiến hành chỉnh sửa tiêu chí đầu tư, thanh lý danh mục hoặc cắt lỗ.
Tuy nhiên, việc chỉnh sửa tiêu chí đầu tư chỉ biến động lớn và bất thường, nhà quản lý
nên theo dõi sát sao diễn biến thị trường thay vì chỉnh sửa những tiêu chí đã đặt ra.
 Đánh giá việc thực thi danh mục:
Theo thỏa thuận trong hợp đồng với khách hàng, kết quả thực thi danh mục sẽ

sản khác số đông thì khi đó có thể điều chỉnh danh mục để kiếm lời. Nhà đầu tư có thể
sử dụng các phương pháp đã có để lập danh mục đầu tư tối ưu đối với các tài sản cơ sở
đã chọn
I.3.3.3. Chiến lược quản lý bán chủ động
SV: Nguyễn Hữu Tuyến Lớp Toán tài chính 50
15
Chuyên đề thực tập Khoa Toán Kinh tế
Chiến lược quản lý thụ động đơn thuần chỉ có tác dụng đa dạng hoá danh mục,
không có tác dụng phòng tránh rủi ro hệ thống. Để danh mục đạt được các mục tiêu đề
ra và phòng tránh được cả rủi ro hệ thống, các nhà quản lý danh mục một mặt thiết lập
danh mục theo phương pháp thụ động, một mặt quản lý danh mục theo phương pháp chủ
động. Chiến lược này gọi là quản lý bán chủ động.
I.3.4. Quy trình quản lý danh mục
I.3.4.1. Phân tích thái độ đối với rủi ro của nhà đầu tư
Nhà quản lý trước khi lập danh mục cho khách hàng bên cạnh thông tin về một số
đặc điểm của khách hàng (mục tiêu đầu tư, chu kỳ đầu tư, sở thích, nhu cầu thanh
khoản ) cần có thông tin về mức độ chấp nhận rủi ro của họ. Nắm được các thông tin
trên nhà quản lý mới có thể lập danh mục tối ưu đáp ứng lợi ích cho khách hàng đồng
thời làm căn cứ điều chỉnh danh mục. Mặt khác lợi ích của khách hàng cũng tác động
đến việc đánh giá thực hiện danh mục. Để thu thập thông tin khách hàng, các công ty tư
vấn đầu tư thường đưa ra các bảng hỏi liên quan tới các thông tin cần thiết, thái độ đối
với rủi ro của nhà đầu tư chi phối quyết định đầu tư của họ. Ta sẽ đề cập đến phương
pháp ước lượng hệ số chấp nhận rủi ro R
T
của khách hàng (nhà đầu tư).
Với giả thiết
- Lợi suất các tài sản phân bố chuẩn
- Nhà đầu tư e ngại rủi ro với hệ số chấp nhận rủi ro R
T
là hằng số

P
r r
H
σ

=
Hình 1: Đường biên hiệu quả
Vì P là hiệu quả nên P sẽ là tổ hợp lồi của F và S với các tỷ trọng: w
S
và (1- w
S
),
suy ra:
S S
w (1 w )
P S f
r r r
= + −
2 2 2
S
w
P S
σ σ
=
Từ hai biểu thức trên, thực hiện biến đổi ta được:
2
2 2
2
( )
( )

2
T
( )
1
R
2( )
S f
P f S
r r
r r
σ

=

Suy ra:
2
S
2w
S
T
S f
R
r r
σ
=

Như vậy nếu biết danh mục hiệu quả S trong cấu thành danh mục P nhà đầu tư lựa
SV: Nguyễn Hữu Tuyến Lớp Toán tài chính 50
Lợi suất kỳ vọng
Biên hiệu quả

( , )
P P P P
T
U r r
R
σ σ
= −
Lập và giải bài toán sau:
Xác định danh mục P sao cho
2
1
Max
P P
T
r
R
σ
 
− →
 ÷
 
với các điều kiện:
i
1
i
1
2
w .
w 1
W'.V.W

phiếu của Chính phủ, của chính quyền địa phương, của doanh nghiệp.
Các tài sản được gộp chung vào nhóm phải thoả mãn: lợi suất của chúng phải
SV: Nguyễn Hữu Tuyến Lớp Toán tài chính 50
18
Chuyên đề thực tập Khoa Toán Kinh tế
tương quan dương khá cao. Sau đó sử dụng mô hình kinh tế lượng để lựa chọn tài sản
đại diện cho nhóm. Khi đó ta sẽ có K tài sản mà K << N và bài toán được đơn giản hoá
đi rất nhiều.
Không biết hệ số chấp nhận rủi ro của nhà đầu tư
Nhà đầu tư sẽ đặt ra mức lợi suất yêu cầu
P
r
, khi này nhà quản lý có thể xác định
danh mục hiệu quả P cho nhà đầu tư trên biên hiệu quả nhờ việc giải hệ thức:
P T T T f
r =w r +(1-w )r
với wT là tỷ trọng danh mục tiếp tuyến T trong danh mục P.
b. Trường hợp quản lý chủ động
Với chiến lược quản lý chủ động thông tin về biến động giá của tài sản hết sức
quan trọng vì nắm bắt được thông tin này nhà quản lý có thể sử dụng các phương pháp
ước lượng theo cách thức của mình. Trên cơ sở phân tích các ước lượng của các đặc
trưng tài sản họ chủ động chọn nhóm tài sản để đầu tư và thường xuyên theo dõi hoạt
động của thị trường để kịp thời điều chỉnh nhận định của họ về thị trường.
Nếu nhà quản lý nhận thấy thị trường có xu hướng “Bull” (đi lên) khác với số đông
thì họ sẽ điều chỉnh danh mục (điều chỉnh hệ số
β
của danh mục) theo nguyên tắc
tăng hệ số
β
của danh mục bằng cách bán các hệ số tài sản có hệ số

j
1
i i
2
w
w w
p
i ij
j
T
C
U
r
R
σ
=


= − −
∂ ∂

. Ta có “Quy tắc điều chỉnh”: Hoán chuyển tài sản
theo danh mục, bán các tài sản có lợi ích ròng cận biên thấp và mua các tài sản có lợi ích
ròng cận biên cao, cho đến khi đối với mọi cặp tài sản (i,j) ta có :
i j
w w
U U
∂ ∂
=
∂ ∂

giá hiệu quả của danh mục đầu tư. Phương pháp đánh giá này khai triển từ mô hình định
giá tài sản vốn (CAPM) cũng do chính ông ta lập nên, về mặt lý luận tập trung xoay
quanh đường tuyến tính biểu diễn thị trường vốn (CML). Phương pháp Sharpe đánh giá
hiệu quả của danh mục thông qua hệ số ký hiệu S. S càng lớn thì danh mục càng hiệu
quả, vì thước đo rủi ro là độ lệch chuẩn nên phương pháp này đánh giá kết quả quản lý
danh mục trên cơ sở cả lợi suất đầu tư lẫn mức độ đa dạng hóa.
•So sánh hai phương pháp Treynor và Sharpe
Đối với những danh mục đa dạng hóa hoàn hảo thì cả hai phương pháp đều mang
lại kết quả đánh giá tương tự vì rủi ro tổng thể của danh mục đa dạng hóa hoàn hảo
bằng chính rủi ro hệ thống của nó. Đối với những danh mục có độ đa dạng hóa không
hoàn hảo thì dùng phương pháp Treynor sẽ cho kết quả đánh giá xếp hạng cao hơn so
với phương pháp Sharpe. Mọi sự khác biệt trong kết quả xếp hạng đều do sự khác nhau
về mức độ đa dạng hóa của danh mục. Điểm bất lợi của cả hai phương pháp trên là ở
chỗ chúng đưa ra một kết quả xếp hạng tương đối chứ không phải là tuyệt đối.
2. Các lý thuyết áp dụng trong quản lý danh mục
2.1. Lý thuyết lựa chọn tài sản đầu tư
2.2. Lý thuyết mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận
2.2.1. Lợi nhuận của danh mục đầu tư
Lợi nhuận là thu nhập nhập hay số tiền kiếm được từ khoản đầu tư. Lợi nhuận kì
vọng của một danh mục đầu tư là trung bình có trọng số của các lợi nhuận kì vọng của
từng tài sản hay chứng khoán cá biệt trong danh mục đầu tư. Trong số ở đây chính là tỉ
trọng của từng loại chứng khoán cá biệt trong danh mục đầu tư. Gọi Ep(R) là lợi nhuận
kì vọng của danh mục đầu tư, công thức tính lợi nhuận kì vọng của danh mục đầu tư như
sau
E
P
(R) =
1
W ( )
m

tư”. Theo đó, việc đầu tư nên được thực hiện qua nhiều tài sản vốn khác nhau thành một
danh mục đầu tư sao cho tổng mức rủi ro trên toàn bộ danh mục sẽ được giới hạn nhỏ
lại. Tại Mỹ, ý tưởng đầu tư theo phương pháp đầu tư theo danh mục hình thành từ câu
ngạn ngữ “không nên bỏ tất cả trứng vào một rổ”. Bằng việc đặt các quả trứng vào trong
nhiều rổ, rủi ro của toàn bộ danh mục đầu tư sẽ thật sự thấp hơn rủi ro của các tài sản
riêng lẻ đã cấu thành nên danh mục đầu tư chung đó. Trên thực tế đã xảy ra rất nhiều
trường hợp khi thêm một tài sản có tính rủi ro vào danh mục đầu tư sẽ làm giảm được rủi
ro của toàn danh mục đầu tư. Khi hai hoặc nhiều chứng khoán tham gia cấu thành một
danh mục thì mỗi cặp hai chứng khoán sẽ có những tương tác với nhau tạo ra một kết
quả chung cho cả danh mục. Đây chính là nền móng cho nguyên lý đa dạng hóa danh
mục đầu tư.
SV: Nguyễn Hữu Tuyến Lớp Toán tài chính 50
22
Chuyên đề thực tập Khoa Toán Kinh tế
Rủi ro của những chứng khoán riêng lẻ trong danh mục đầu tư cần phải được đo
lường trong hiệu quả tác động của chúng đối với danh mục đầu tư tổng thể. Thực tế đã
chứng minh rằng, các chứng khoán có xu hướng rủi ro trái ngược với xu hướng rủi ro
ban đầu là những yếu tố làm giảm thiểu rủi ro có hiệu quả. Đây là cơ sở cho việc xác
định thước đo rủi ro của từng chứng khoán khi đưa chúng vào danh mục đầu tư. Như ta
đã biết, mỗi một chứng khoán tiềm ẩn hai loại rủi ro: hệ thống và không hệ thống. Rủi ro
hệ thống là yếu tố do thị trường gây ra làm ảnh hưởng đến tất cả các chứng khoán có
trên thị trường. Do vậy, rủi ro hệ thống là yếu tố khó có thể tránh được một khi nó đã
xảy ra. Ngược lại, rủi ro không hệ thống của một chứng khoán có nguyên nhân từ chính
công ty phát hành chứng khoán đó, do vậy có thể đo lường được chúng bằng biện pháp
đa dạng hóa danh mục đầu tư. Khi một chứng khoán được đưa vào một danh mục đầu tư
thì rủi ro của nó sẽ tương tác với các chứng khoán khác trong danh mục để tạo ra rủi ro
của cả danh mục. Mức độ rủi ro của toàn danh mục cao hay thấp sẽ tùy thuộc vào sự
tương tác này. Nếu trong danh mục càng có nhiều khả năng giảm thiểu rủi ro.
SV: Nguyễn Hữu Tuyến Lớp Toán tài chính 50
23

Rủi ro tổng thể
δ
n
(số lượng chứng khoán)
24
Chuyên đề thực tập Khoa Toán Kinh tế
Khi các nguồn tài nguyên khan hiếm được phân phối để sử dụng một cách tốt nhất
thì thị trường được coi là hiệu quả về mặt phân phối. Điều này có nghĩa là chỉ những
người trả giá cao nhất cho các tài nguyên đó mới được quyền sử dụng chúng. Đối với thị
trường vốn và thị trường chứng khoán, vai trò của phân của nó là phân phối các nguồn
vốn có thể đầu tư sao cho hiệu quả nhất.
Thị trường được coi là hiệu quả về mặt lao động khi chi phí giao dịch trong thị
trường đó được quyết định theo quy luật cạnh tranh. Nói cách khác, thị trường này được
đặt trong một môi trường cạnh tranh giữa các nhà tiếp thị và các nhà môi giới (không
phải lợi nhuận độc quyền) thông qua các hoạt động của mình. Khi chi phí giao dịch bằng
không thì thị trường được coi là hiệu quả. Tuy nhiên trên thực tế thì tình trạng người vận
hành thị trường không được hưởng lợi là không thể có nên thị trường không hiệu quả về
mặt hoạt động.
Thị trường được coi là hiệuquả về mặt thông tin nếu thị giá hiện hành phản ảnh đầy
đủ và tức thời tất cả các thông tin có ảnh hưởng tới thị trường.
Tuy ba mặt cấu thành này của thị trường hiệu quả có sự gắn bó và phụ thuộc lẫn
nhau nhưng trong lý thuyết của thị trường hiệu quả người ta đã giả định là thị trường
chứng khoán có hiệu quả về mặt phân phối và hoạt động. Vì vậy, chúng ta chỉ xét thị
trường này trong điều kiện hiệu quả về mặt thông tin. Khi nói đén thị trường hiệu quả thì
đồng nghĩ với quan điểm là thị trường hiệu quả về mặt thông tin.
Từ đó, giả thiết về thị trường hiệu quả được phát biểu như sau:” Thị trường hiệu
quả là thị trường trong đó giá cả của chứng khoán đã phản ánh đầy đủ tức thời tất cả các
thông tin hiện có trên thị trường”. Khi giả thiết này đúng có nghĩa là giá cả chứng khoán
được xác định tại mức công bằng và phản ánh đầy đủ thông tin hiện có trên thị trường.
Nếu giá được xác lập một cách hợp lý thì việc giá tăng hay giảm là do và chỉ do nó phản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status