LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan chuyên đề này hoàn toàn do em tự viết không sao
chép ở bất cứ nguồn nào. Số liệu được sử dụng trong bài cũng hoàn toàn là số
liệu thực tế.Nếu có bất kỳ sai phạm nào em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Sinh viên
Vũ Duy Tùng
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NS : ngân sách
NSNN : ngân sách nhà nước
DN : doanh nghiệp
DNNN : doanh nghiệp nhà nước
CNH-HĐH : công nghiệp hóa-hiện đại hóa
XHCN : xã hội chủ nghĩa
UBND : ủy ban nhân dân
HĐND : hội đồng nhân dân
TDTT : thể dục thể thao
GD-ĐT : giáo dục đào tạo
GDP : tổng sản phẩm quốc nội
FDI : vốn đầu tư nước ngoài
LỜI NÓI ĐẦU
Ngân sách nhà nước, một bộ phận quan trọng trong nền tài chính quốc
gia, một công cụ hữu hiện mà các quốc gia vẫn sử dụng trong quá trình vận
động và tồn tại của mình. Chính vì vậy, nhiệm vụ quản lý ngân sách nhà nước
là nhiệm vụ hàng đầu của mỗi quốc gia và nước ta cũng không loại trừ. Quốc
hội đã thông qua về luật NSNN và điều hành ngân sách nhà nước trong đó có
đề ra mục tiêu hàng đầu đó là: “Quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia,
xây dựng NSNN lành mạnh, củng cố kỷ luật tài chính, sử dụng tiết kiệm, có
hiệu quả tiền của NN; tăng tích luỹ để thực hiện CNH – HĐH đất nước theo
hướng XHCN, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống
nhân dân; đảm bảo quốc phòng, an ninh, đối ngoại” .
khoản thu, chi của nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết
định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của nhà nước”.
NSNN được cơ quan lập pháp của ban hành, là hệ thống mối quan hệ
giữa nhà nước và xã hội trong quá trình nhà nước huy động và sử dụng các
nguồn tài chính nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của mình. Nó bao
gồm: quan hệ kinh tế giữa NSNN với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh,
các đơn vị hành chính sự nghiệp, các tầng lớp dân cư, thị trường tài chính và
hoạt động tài chính đối ngoại với các quốc gia khác. Bản chất ngân sách gắn
liền với bản chất chính trị và bản chất giai cấp cầm quyền, thông qua ngân
5
sách nhà nước nhà nước sẽ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích
thích phát triển sản xuất đồng thời chống độc quyền.
1.1.2.Thu Ngân sách nhà nước
Để thực hiện chức năng của mình, Nhà nước phải huy động một bộ phận
nguồn tài chính của xã hội tập trung và NSNN. Nhà nước dung quyền lực của
mình để tập trung một bộ phận của tổng sản phẩm quốc dân làm nguồn thu để
thực hiện nhiệm vụ của mình.Thu NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát
sinh trong quá trình nhà nước sử dụng quyền lực chính trị để thực hiện việc
phân phối các nguồn tài chính dưới hình thức giá trị nhằm hình thành quỹ tiền
tệ nhà nước.
Chính vì vậy, Thu NSNN là “toàn bộ các khoản tiền được tập trung vào
tay nhà nước để hình thành quỹ NSNN đáp ứng cho các nhu cầu chi tiêu của
nhà nước” với mục tiêu là cân bằng thu và chi.
Các nguồn thu chính của NSNN bao gồm:
-Thu từ các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước: Thu từ sản xuất,
thu từ lưu thông – phân phối hàng hoá, thu từ hoạt động dịch vụ.
-Thu từ nguồn thu ngoài nước: thu từ vay nợ và viện trợ ngoại quốc.
Theo luật NSNN, thu NSNN bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí;
các khoản từ hoạt động kinh tế của nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ
-Trả nợ vay nước ngoài, lãi vay nước ngoài.
1.1.4.Cân Đối NSNN
Cân đối NSNN là một nguyên tắc quan trọng trong quản lý NSNN và
hiện nay trên thế giới đang tồn tại hai luồng quan điểm cân đối thu, chi NSNN
Đầu tiên, đó là quan điểm thu được bao nhiêu chi bấy nhiêu. Quan điểm
này gắn liền với hệ số an toàn cao, giảm thiểu được nguy cơ suy thoái cho nền
kinh tế nhưng lại đi kèm với nhược điểm không thể tránh khỏi ở những nước
có nền kinh tế kém phát triển hay tăng trưởng kinh tế chậm là liệu thu ít thì
tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ ra sao?
Quan điểm thứ hai chính là quan điểm phát hành thêm tiền và đi vay để
phát triển nguồn thu cho ngân sách.
*>Ưu điểm của quan điểm này là:
-Đáp ứng nhu cầu thiếu hụt của NSNN
-Tạo điều kiện phát triển nguồn thu cho quốc gia
*>Tuy vậy, biện pháp trên hết sức mạo hiểm
-Đối với việc phát hành tiền để bù đắp chi ngân sách sẽ trở thành một
loại “thuế vô hình” đánh vào nguồn thu nhập của cư dân đồng thời đi kèm
theo nó là làm phát, tiền lương đông cứng hay chậm tăng.
-Đối với việc vay để tăng thu đi kèm theo sau là biệc phải có trách
nhiệm hoàn trả cả vốn và lãi khi đến kỳ hạn đồng thời nếu sử dụng nguồn vốn
vay không hiệu quả thì gánh nặng với nước ngoài sẽ ngày càng gia tăng.
8
1.2 Vai trò của ngân sách nhà nước
1.2.1 Vai trò tiêu dùng
Vai trò này xuất phát từ bản chất kinh tế của Ngân sách nhà nước, để
đảm bảo cho hoạt động của nhà nuớc trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã
hội đòi hỏi phải có những nguồn tài chính nhất dịnh. Những nguồn tài chính
này được hình thành từ các khoản thu thuế và các khoản thu ngoài thuế . Ðây
là vai trò lịch sử của Ngân sách nhà nuớc mà trong bất kỳ chế độ xã hội nào,
cơ chế kinh tế nào ngân sách nhà nuớc đều phải thực hiện.
hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, nhà nước phải có một chính sách
phân phối lại thu nhập hợp lý nhằm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu
nhập trong dân cư.Ngân sách nhà nuớc là công cụ tài chính hữu hiệu đuợc nhà
nuớc sử dụng để điều tiết thu nhập, với các sắc thuế nhu thuế thu nhập luỹ
tiến, thuế tiêu thụ đặc biệt …một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách mặt khác
lại điều tiết một phần thu nhập của tầng lớp dân cư có thu nhập cao. Bên cạnh
công cụ thuế, với các khoản chi của ngân sách nhà nước như chi trợ cấp, chi
phúc lợi cho các chương trình phát triển xã hội: phòng chống dịch bệnh, phổ
cập giáo dục tiểu học, dân số và kế hoạch hoá gia đình… là nguồn bổ sung
thu nhập cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp .
Các vai trò trên của Ngân sách nhà nước cho thấy tính chất quan trọng
của Ngân sách nhà nước, với các công cụ của nó có thể quản lý toàn diện và
có hiệu quả đối với toàn bộ nền kinh tế .
10
1.3 Quản lý ngân sách Tỉnh
1.3.1 Nội dung phân cấp quản lý ngân sách của Trung Ương đối với Tỉnh
Phân định nguồn thu và các khoản chi của mỗi cấp ngân sách là nội
dung cơ bản của phân cấp quản lý ngân sách nhằm tạo điều kiện về tài chính
cho chính quyền nhà nước các cấp tham gia vào quá trình tổ chức, huy dộng,
phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nuớc để thực hiện các
chức năng nhiệm vụ xác định. Khi phân cấp quản lý ngân sách cần phải tuân
thủ các nguyên tắc cơ bản sau:
- Ðảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách trung ưong và vị trí độc lập
của ngân sách địa phương trong hệ thống ngân sách nhà nước thống nhất.
- Xác định cụ thể trách nhiệm và quyền hạn thu chi giữa các cấp ngân sách.
- Ðảm bảo sự hợp lý và công bằng giữa các địa phương.
*Phân định thu:
Các phương pháp thực hiện phân phối nguồn thu giữa các cấp ngân
sách:
- Phương pháp thu đủ chi đủ: nội dung của phương pháp này là toàn bộ
Quản lý ngân sách nhà nước là một quá trình liên kết từ khâu lập dự toán,
kế hoạch hoá tổ chức thực hiện động viên phối hợp hoạch toán, kiểm tra. Mục
tiêu của quản lý ngân sách nhà nước trước hết là giải quyết các vấn đề liên
quan đến quản lý và điều hành quản lý nhà nước. Quản lý thống nhất nền tài
chính quốc gia, xây dựng ngân sách nhà nước lành mạnh, củng cố kỷ luật tài
chính, sử dụng tiết kiệm có hiệu quả tiền của nhà nước, tăng tích luỹ để thực
hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân
12
đảm bảo quốc phòng an ninh đối ngoại theo mục tiêu mà luật ngân sách nhà
nước đã đề ra.
Quản lý ngân sách nhà nước là hoạt động của người quản lý có mục đích
rõ ràng, mang tính trí tuệ và sáng tạo cao. Hoạt động quản lý ngân sách cấp
tỉnh có hiệu quả là điều kiện tiền đề liên kết các hoạt động của tỉnh theo một
cỗ máy hoạt động nhịp nhàng, thống nhất đồng thời còn giúp các thành phố,
huyện, xã trực thuộc có thể sử dụng ngân sách một cách có hiệu quả.Nó giúp
tăng tính minh bạch, tránh thất thoát tài sản công cho nhà nước, chi sai
nguyên tắc, làm giảm gánh nặng tài chính cho ngân sách trung ương. Mục
tiêu của quản lý ngân sách tỉnh là phải thực hiện động loạt nhịp nhàng từ khâu
dự toán, kế hoạch hoá, tổ chức thực hiện, tổ chức động viên, phối hợp, điều
chỉnh, hạch toán và kiểm tra tạo tính hiệu quả trong hoạt động quản lý.
1.3.3 Các nguyên tác quản lý ngân sách Tỉnh
•Nguyên tắc thống nhất: Nhà nước chỉ có một ngân sách tập hợp tất cả
cá khoản thu, chi và phải có sự thống nhất về hệ thống ngân sách, các báo
biểu, mẫu biểu tài chính.
•Nguyên tắc đầy đủ, toàn bộ của ngân sách nhà nước. Nguyên tắc này
được đưa ra nhằm chống lại tình trạng để ngoài ngân sách các khoản thu, chi
thu, chi ngân sách nhà nước gây lãng phí trong quá trình chi tiêu của chính phủ.
•Nguyên tắc cân đối ngân sách: Quốc hội quyết định dự toán ngân sách
và phân bổ ngân sách nhà nước; phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước.
giao thông, chi kiến thiết thị chính, ban bồi thường giải phóng mặt bằng, trạm
khuyến nông)
-Chi sự nghiệp môi trường
-Chi sự nghiệp văn xã (sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp đào tạo, văn hoá
thông tin thể dục thể thao, công tác xã hội)
-Quản lý hành chính (hội đồng nhân dân và các cơ quan hành chính, các
cơ quan đoàn thể, cơ quan đảng)
-Chi khác
-Chi quân sự - an ninh (công an, quân sự)
*Chi đầu tư phát triển là những khoản chi có thời hạn tác động dài, bao
gồm: chi đầu tư các dự án phát triển, chi chuyển giao vốn đầu tư cho các
doanh nghiệp nhà nước hoặc các địa phương, chi dự trữ cho mục đích đầu tư,
chi viện trợ, đầu tư cho nước ngoài…
Chi trả khác bao gồm: chi cho vay (cho vay các tổ chức nhà nước, cho
vay nước ngoài…) và trả nợ gốc (trả nợ trong nước, trả nợ ngoài nước).
Chi hỗ trợ ngân sách (chi lương kế toán xã, chi lương y tế xã, chi trợ cấp
cân đối, chi trợ cấp cân đối khác).
1.3.4.3 Lập dự toán, xét duyệt và quyết toán ngân sách Tỉnh
Mục tiêu của giai đoạn này là để xác định nhiệm vụ động viên, phân
phối tối ưu các nguồn vốn nhằm bảo đảm tính vững chắc, tính khả thi của
ngân sách.
*Lập ngân sách (lập dự toán ngân sách)
15
Hàng năm vào thời điểm qui định trước khi năm tài chính bắt đầu
Chính phủ và Bộ tài chính ra thông báo về yêu cầu, nội dung và hướng dẫn
lập dự toán ngânsách cho các ngành, các cấp. Các đơn vị căn cứ vào hướng
dẫn của bộ tài chính lậpdự toán ngân sách cho đơn vị mình dựa trên hệ thống
luật, định hướng phát triểnkinh tế xã hội của năm kế hoạch và các chính sách,
định mức tài chính.
Các Bộ và Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành tổng hợp dự toán ngân
toán thu chi ngân sách của các đơn vị trực thuộc, lập quyết toán thu chi ngân
sách thuộc phạm vi mình quản lý gởi cho cơ quan tài chính cùng cấp. Cơ
quan tài chính các cấp ở địa phương xét duyệt quyết toán thu chi ngân sách
của các cơ quan cùng cấp, thẩm tra quyết toán ngân sách cấp dưới, tổng hợp
lập quyết toán ngân sách dịa phương trình uỷ ban nhân dân cùng cấp để uỷ
ban nhân dân cùng cấp xem xét trình hội đồng nhân dân cùng cấp phê chuẩn
và gởi cho Bộ tài chính.
Bộ tài chính xem xét và tổng hợp quyết toán thu chi ngân sách của các
bộ, ngành ở trung ương, kiểm tra xem xét quyết toán ngân sách của các địa
phương, sau đó tổng hợp và lập tổng quyết toán ngân sách nhà nuớc trình
Chính phủ để Chính phủ đệ trình Quốc hội. Quốc hội sau khi nghe báo cáo
kiểm tra của cơ quan Tổng kiểm toán quốc gia sẽ xem xét và phê chuẩn tổng
quyết toán ngân sách nhà nuớc.
17
1.3.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý ngân sách Tỉnh
1.3.5.1 Chính trị xã hội
Hệ thống chính trị quốc gia ảnh hưởng lớn đến định mức thu và khoán
chi trong hệ thống quản lý ngân sách nhà nước. Trong cơ chế thị trường đòi
hỏi việc quản lý ngân sách nhà nước phải áp dụng theo hướng tinh giảm bộ
máy quản lý nhằm hướng đến hiệu quả. Để phù hợp với xu thế phát triển của
nền kinh tế thị trường ngân sách nước ta được áp dụng bao gồm bốn cấp:
Ngân sách trung ương, ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách
cấp xã.
Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước cần phải coi trọng những yếu tố
cơ bản kinh tế, tránh sự tham gia của nhà nước trong hoạt động kinh tế làm
bóp méo kinh tế, quy luật giá trị và quy luật cung - cầu. Nhà nước chỉ tham
gia quản lý thực hiện, khắc phục khuyết điểm của nền kinh tế thị trường, phân
hoá giàu nghèo. Luật thu ngân sách năm 1932 ở Mỹ đã tăng các loại thuế đặc
biệt là thuế đánh vào người tiêu dùng có thu nhập thấp và trung bình, thể hiện
sự quan tâm đến thâm hụt ngân sách và ủng hộ chính sách “giảm chi tiêu
của hệ thống thuế và các khoản chuyển giao thu nhập (trợ cấp của chính phủ).
Khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, thuế tự động giảm xuống, các khoản chuyển
giao tự động tăng lên. Trong khi các phản ứng tự động này góp phần ổn định
nền kinh tế, chúng lại làm cho ngân sách bị thâm hụt. Chính sách nghiêm ngặt
đòi hỏi chính phủ phải tăng thuế hay cắt giảm chi tiêu vào thời kỳ suy thoái.
-Thứ hai, người ta có thể sử dụng thâm hụt hoặc thặng dư ngân sách để
giảm thiểu sự biến dạng của những tác động kích thích do hệ thống thuế tạo
19
ra. Mức thuế cao gây ra tổn thất cho xã hội vì nó cản trở hoạt động kinh tế.
Mức thuế càng cao, tổn thất xã hội của thuế càng lớn. Người ta có thể giảm
đến mức tối thiểu tổng tổn thất xã hội do thuế gây ra bằng cách giữ cho mức
thuế cao trong một số năm và thấp trong các năm khác. Các nhà kinh tế học
gọi chính sách này là san bằng mức thuế. Để giữ cho mức thuế không thay
đổi, người ta phải chấp nhận thâm hụt trong những năm thu nhập bất thường
và chi tiêu cao bất thường.
-Thứ ba, người ta có thể sử dụng thâm hụt ngân sách để chuyển gánh
nặng thuế của thế hệ hiện tại sang cho các thế hệ tương lai. Ví dụ, một số nhà
kinh tế lập luận rằng, nếu thế hệ hiện tại phải phát động chiến tranh bảo vệ đất
nước, chống lại sự xâm lược của nước ngoài và đảm bảo nền dân chủ, tự do
cho đất nước, thì các thế hệ tương lai được lợi. Để buộc những nguời thụ
hưởng tương lai phải trả một phần chi phí, thế hệ hiện tại có thể tài trợ cho
chiến tranh bằng cách chấp nhận thâm hụt ngân sách. Chính phủ có thể trả lại
số nợ vay trong chiến tranh bằng cách đánh thuế vào thế hệ tiếp theo.
20
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ
NGÂN SÁCH TỈNH QUẢNG NINH
2.1 Giới thiệu chung về tình hình Kinh tế Văn hòa Xã hội Tỉnh Quảng Ninh
Quảng Ninh có toạ độ địa lý khoảng 106
o
26' đến 108
Nghành công nghiệp của tỉnh đạt mức tăng trưởng khá và ổn định. Các
nghành công nghiệp mũi nhọn như than, nhiệt điện, xi măng vẫn tăng trưởng
với mức độ ổn định. Tuy nhiên giá trị sản xuất công nghiệp qua các năm vẫn
chưa tăng một cách đáng kể năm 2008 ước đạt 20.000 tỷ năm 2009 ước đạt
21.000 tỷ năm 2010 ước đạt 23.000 tỷ. Trong đó công nghiệp trung ương vẫn
chiếm tỷ trọng cao nhất còn công nghiệp địa phương và công nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài tuy tăng trưởng mạnh nhưng vẫn chiếm tỷ trọng thấp.Công
nghiệp địa phương phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh bởi tỉnh
là một tỉnh giàu tài nguyên có nguồn nhân lực dồi dào và còn có biên giới
giáp với Trung Quốc. Ngành công nghiệp tỉnh còn gặp một vấn đề nghiêm
trọng đó là thiếu điện. Hệ thống mạng lưới điện tuy vẫn luôn được nâng cấp
và đầu tư nhưng sản lượng điện vẫn chưa đạtcông suất thiết kế.Tình trạng
thiếu điện đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động sản xuất kinh doanh cũng
như đời sống người dân.
Nghành nông lâm nghiệp và thủy sản tuy có tăng trưởng nhưng không
đáng kể. Nghành trồng trọt tuy có giảm về diện tích nhưng sản lượng vẫn tăng
điều này chứng tỏ tỷ trọng trong nghành nông nghiệp có tăng.Cò về chăn nuôi
vì gặp phải khá nhiều dịch bệnh và giá cả vât tư tăng cao nên sản lượng của
nghành có xu hướng sụt giảm qua các năm nhưng không nhiều và đang có
dấu hiệu hồi phục .Về lâm nghiệp tỉnh đã nỗ lực thực hiện các biện pháp bảo
vệ rừng và trồng rừng nhưng nạn lâm tặc vẫn hoành hành làm diện tích rừng
có xu hướng giảm dần qua các năm. Ngành thủy sản có tốc độ phát triển khá
cao nhờ thời tiết thuận lợi năm 2009 tăng 37% so với năm 2008 đến năm
2010 sản lượng đánh bắt tăng 77%. Tuy sản lượng đánh bắt tăng nhưng tỉnh
22
lại phải đối mặt với một vấn đề đó là sự cạn kiệt tài nguyên biển. Nhìn chung
sự phát triển của nghành nông lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh qua các năm
2008-2010 chưa thực sự tốt.
Khối nghành dịch vụ gặp nhiều khó khăn trong tình hình kinh tế suy
thoái, khủng hoảng. Tình hình xuất nhập khẩu không được tốt năm 2009 cán
Tỉnh Quảng Ninh có dân số vào khoảng 1.200.000 người và hơn 22 dân
tộc tỉnh có đường biên giới khá dài cộng thêm đường bờ biển dài nên tình
hình xã hội khá phức tạp.
Về giáo dục tỉnh không ngừng quan tâm và đầu tư nên trong các năm
qua nghành giáo dục đã đạt được những kết quả rõ nét.Tỷ lệ trường đạt chuẩn
quốc gia không ngưng tăng qua các năm, năm 2008 đạt 20% đến năm 2010 tỷ
lệ này đã tăng lên 29.5 % .Chất lượng giáo dục đại trà giáo dục mũi nhọn giáo
dục toàn diện tiếp tục được giữ vững và nâng cao.Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp của tỉnh
tính đến năm 2010 đạt 98,64% lọt vào top 10 tỉnh có tỷ lệ đỗ tốt nghiệp cao
nhất cả nước. Nghành giáo dục của tỉnh cũng dẫn đầu 15 tỉnh trung du miền
núi phía bắc.Đội ngũ giáo viên cũng không ngừng được đào tạo và nâng cao
trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Nhìn chung nghành giáo dục của tỉnh vẫn giữ
vững và phát huy tốt những thành quả đã đạt được.
Về y tế cơ sỏ vật chất được đầu tư đổi mới bệnh viện tỉnh được mở
rộng và nâng cấp tăng số phòng bênh và trang thiết bị đáp ứng được nhu cầu
của người dân. Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, dân số, kế
hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc trẻ em được quan tâm hơn, nhiều mặt
đạt được kết quả tích cực, đã cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu Hội đồng Nhân
dân tỉnh giao.Việc luân chuyển cán bộ y tế và đẩy mạnh xã hội hóa đã góp
24
phần nâng cao năng lực và chất lượng khám chữa bệnh, nhất là ở tuyến tỉnh
và tuyến huyện. Đến nay, 100% số xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về
y tế xã (năm 2009 là 76,3%); số giường bệnh trên 1 vạn dân đạt 36 giường,
vượt 6 giường so với kế hoạch. Việc khám, chữa bệnh bằng công nghệ cao
được nghiên cứu, ứng dụng thành công ở một số bệnh viện. Đã hình thành
mạng lưới kiểm nghiệm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm quốc gia.
Về thể dục thể thao tiếp tục có bước phát triển mạnh, đã tổ chức được
gần 300 giải thể thao cấp huyện và cấp ngành, 05 lớp đào tạo hướng dẫn viên
trọng tài và cán bộ thể thao cấp cơ sở, tham gia 05 giải thể thao phong trào
toàn quốc đạt 42 huy chương các loại (8 vàng, 19 bạc, 15 đồng); tham gia gần