Giải pháp thị trường nhằm phát triển thương mại sản phẩm sơn trên thị trường miền Bắc (lấy công ty TNHH sơn KOVA làm đơn vị nghiên cứu - Pdf 25

Tóm lược
Hiện nay, các đô thị, trung tâm thương mại, khu công nghiệp,… đã và đang phát
triển nhanh cả về số lượng và chất lượng nhằm đáp ứng sự phát triển kinh tế - xã hội
của cả nước. Toàn quốc hiện có 755 đô thị với tỉ lệ đô thị hóa đạt khoảng 30%. Sau khi
Nghị định 02 có hiệu lực, nhiều khu đô thị mới, khu nhà ở với hệ thống hạ tầng kỹ
thuật và hạ tầng xã hội sẽ xuất hiện. Cùng đó, ngành xây dựng cũng phát triển kéo theo
nhu cầu về sơn tăng lên.
Trên thị trường miền Bắc, nhiều hãng sơn ngoại có lợi thế cạnh tranh cao ( chất
lượng cao, sản phẩm đa dạng, màu sắc phong phú,….) nên tiêu thụ sơn nội trở nên khó
khăn hơn. Các doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm 40% thị phần . Trước tình hình khó
khăn đó, việc tìm ra những giải pháp thị trường nhằm phát triển thương mại sản phẩm
sơn càng được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn không chỉ nhằm thúc đẩy thương mại
phát triển mà còn tăng cường quảng bá thương hiệu. Với để tài “ Giải pháp thị trường
nhằm phát triển thương mại sản phẩm sơn trên thị trường miền Bắc (lấy công ty
TNHH sơn KOVA làm đơn vị nghiên cứu)” đã tập trung nghiên cứu những lý thuyết
liên quan tới thương mại và phát triển thương mại, thị trường sản phẩm sơn. Từ những
nghiên cứu thực trạng đánh giá tổng quan những thành công và hạn chế trong phát
triển thương mại sản phẩm sơn đưa ra nhưng giải pháp thị trường nhằm mở rộng hơn
nữa qui mô, nâng cao hiệu quả thương mại trong thời gian tới.
i
Lời cảm ơn
Trong quá trình học tập tại trường đại học Thương Mại, em đã nhận được sự giúp
đỡ rất nhiệt tình của các thầy cô giáo và bạn bè. Trong thời gian thực tập tại công ty
TNHH sơn KOVA và làm luận văn em đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô và
các cô chú trong công ty
Em xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các thầy cô giáo trong trường đại học Thương
Mại. Đặc biệt, em xin gửi lới cảm ơn đến cô giáo Th.S Vũ Thị Hồng Phượng, giáo
viên trực tiếp hướng dẫn em trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp và viết luận văn
tốt nghiệp
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới tập thể cán bộ công nhân viên trong công ty đã
cung cấp những tài liệu cần thiết, giúp đỡ em trong việc điều tra nghiên cứu, dạy cho

vực trong xã hội đã có sự chuyển biến đáp ứng yêu cầu của sự phát triển này.
Xây dựng là ngành góp phần vào công cuộc chuyển mình của đất nước, được thể
hiện rõ qua những công trình, cơ sở hạ tầng cho xã hội là bộ mặt của đất nước. Ngoài
ra, nó là nền tảng cho các ngành sản xuất vật chất cũng như phi vật chất, phù hợp với
quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá của nước ta hiện nay.
Các công trình xây dựng không thể hoàn hảo nếu thiếu công đoạn sơn bởi nhu
cầu thẩm mỹ và tính năng của sơn đang được người tiêu dùng lựa chọn. Theo một số
chuyên gia nhận định, thị trường sơn là mảnh đất màu mỡ cho các DN ở lĩnh vực này.
Tuy nhiên, không nhiều DN VN chen chân được vào thị trường hấp dẫn này.
Kinh tế Việt Nam đã và đang phát triển mạnh, các công trình xây dựng mọc lên
khắp nơi. Hơn nữa, việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ thúc đẩy nhà đầu tư nước ngoài
đầu tư vào đây nhiều hơn. Từ đó kéo theo hàng loạt các nhu cầu về xây dựng văn
phòng, cao ốc, khách sạn , đặc biệt ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng,
Đây là sự kích cầu mạnh mẽ cho thị trường vật liệu xây dựng nói chung và thị trường
sơn nói riêng. Tiềm năng phát triển của thị trường xây dựng Việt Nam lớn nên nhu cầu
về sơn tăng song hạn chế chung trong phát triển thương mại sản phẩm sơn trên thị
trường này là thiếu vốn để mở rộng hoạt động kinh doanh, đầu tư cho việc nghiên cứu
phát triển mẫu mã sản phẩm, nâng cao chất lượng và tính năng cho sản phẩm, gặp khó
khăn về việc mở rộng thị trường. Ngoài ra, lượng sơn tiêu thụ ở Việt Nam còn thấp,
mới chỉ đạt từ 0,6 – 0,7 lít/người/năm (năm 2007), sơn ngoại vẫn chiếm ưu thế. Các
thương hiệu “ngoại” như Nippon, 4 oranges, ICI, Jotun,…chiếm đa số
Trước tình hình đó, việc tìm ra những giải pháp thị trường nhằm phát triển
thương mại sản phẩm càng được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn.
Công ty TNHH sơn KOVA được thành lập năm 1998. Công ty chuyên nghiên
cứu, sản xuất, phân phối và thi công các loại sơn cho xây dựng, công nghiệp, sơn giao
thông, chất chống thấm và dầu bôi trơn làm nguội cho ngành cơ khí. Nếu nhìn tổng
1
quát trên thị trường sơn thì thị phần về sơn của công ty sơn KOVA chiếm một tỷ lệ
khoảng 23 – 25% thị phần miền Bắc, và doanh thu chủ yếu là trên thị trường Hà Nội.
Các tỉnh thành Hải Phòng, Nam Định, cũng đã có những đại lý và văn phòng đại

+ Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng tới phát triển thương mại sản phẩm sơn
trọng tâm tập trung vào các nhân tố liên quan tới thị trường tiêu thụ của sản phẩm.
- Về không gian:
+ Đơn vị nghiên cứu: Công ty TNHH sơn KOVA
+ Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động thương mại sản phẩm sơn của công ty
TNHH sơn KOVA tập trung trên thị trường miền Bắc nhưng chủ yếu tập trung nghiên
cứu trên thị trường Hà Nội.
+ Về thời gian : Khảo sát, phân tích thực trạng thị trường phát triển thương mại
sản phẩm sơn của công ty TNHH sơn KOVA trong 5 năm 2006 - 2010. Các giải pháp
đưa ra nhằm áp dụng cho giai đoạn từ nay đến năm 2011.
1.5. Kết cấu luận văn tốt nghiệp.
Kết cấu luận văn gồm 4 chương :
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển thương mại sản phẩm sơn.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng phát
triển thương mại sản phẩm trên thị trường miền Bắc.
Chương 4: Kết luận và đề xuất một số giải pháp thị trường nhằm phát triển
thương mại sản phẩm sơn trên thị trường miền Bắc.
3
CHƯƠNG 2
TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIẢI PHÁP THỊ
TRƯỜNG NHẰM PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI SẢN PHẨM SƠN
2.1. Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản
2.1.1. Khái niệm phát triển thương mại
Phát triển thương mại là sự gia tăng về quy mô, tốc độ tăng trưởng của thương
mại, chuyển dịch cơ cấu thương mại, sử dụng có hiệu quả nguồn lực thương mại nâng
cao hiệu quả hoạt động thương mại theo hướng phát triển bền vững.
Phát triển thương mại sản phẩm bao gồm sự gia tăng về quy mô, tốc độ tăng
trưởng thương mại nhanh và liên tục, gắn với chuyển dịch cơ cấu thương mại phù hợp,
nhằm nâng cao hiệu quả thương mại hướng vào các mục tiêu phát triển bền vững, đáp

Tóm lại, hiệu quả thương mại phản ánh mối quan hệ so sánh giữa kết quả đạt
được từ hoạt động kinh doanh với chi phí bỏ ra hay nguồn lực sử dụng để đạt kết quả
đó. Hoạt động thương mại đạt hiệu quả cao khi nó tối thiểu hóa được chi phí sản xuất
kinh doanh và tối đa hóa lợi nhuận.
Nâng cao hiệu quả thương mại là việc gây dựng tầm quan trọng của sản phẩm
trên thị trường làm cho thị phần của sản phẩm ngày càng lớn trên thị trường, đóng góp
nhiều vào tổng sản phẩm quốc dân. Đồng thời cũng phải quan tâm đến việc sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực về vốn và lao động.
- Phát triển thương mạị hướng tới mục tiêu phát triển bền vững: Phát triển bền
vững là sự phát triển hài hòa giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa thiên
nhiên và con người, giữa tự nhiên và nhân tạo, giữa hiện tại và tương lai. Sự phát triển
đó nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện tại nhưng không làm phương hại đến phát
triển của xã hội tương lai.
Phát triển thương mại sản phẩm không chỉ quan tâm đến lợi ích kinh tế mà cũng
cần quan tâm đến lợi ích về môi trường, xã hội nhằm giảm thiểu ô nhiễm và những tác
dụng không tốt tới sức khỏe của người tiêu dùng.
2.1.2. Những nét khái quát về sản phẩm sơn
a. Khái niệm
Sản phẩm Sơn là một hỗn hợp đồng nhất, trong đó chất tạo màng liên kết với các
chất màu tạo màng liên tục bám trên bề mặt vất chất. Hỗn hợp được điều chỉnh với
một lượng phụ gia và dung môi tùy theo tính chất của mỗi loại sản phẩm .
5
b. Sơn bao gồm các thành phần chính như sau:
- Chất tạo màng: là các hợp chất polyme hữu cơ hay còn gọi là nhựa (resin). Một
số loại nhựa tan trong nước như latex hay acrylic, một số loại nhựa khác chỉ tan trong
dung môi hữu cơ như epoxy, nhựa alkyd.
- Phụ gia: là chất tổ hợp trong sơn để tăng cường một số tính năng của màng sơn.
Các chất phụ gia bao gồm: chất hóa dẻo, chất làm khô, chất chống bọt, chống rêu mốc,
chất dàn, chất chống lắng v.v
- Bột màu: được sử dụng để tạo màu sắc, tạo độ phủ, tăng các tính năng cơ học

Xét tới góc độ vi mô, chỉ tiêu về quy mô được thể hiện bởi doanh thu tiêu thụ và
sản lượng tiêu thụ.
• Sản lượng tiêu thụ: Đây là nhân tố tích cực và ảnh hưởng mạnh mẽ đến doanh
nghiệp trong từng thời kỳ nhất định. Trong trường hợp giá cả không thay đổi nếu khối
lượng hàng hóa tiêu thụ tăng lên thì lợi nhuận cũng tăng lên và ngược lại.
 Tốc độ tăng sản lượng tiêu thụ =
)1(
)1(

−−
nQ
nQQn
× 100
Trong đó: Qn là sản lượng tiêu thụ của năm n
Q(n-1) là sản lượng tiêu thụ của năm trước đó
Tốc độ tăng sản lượng tiêu thụ chính là sự biểu hiện của sự phát triển thương
mại. Nếu tốc độ tăng sản lượng tiêu thụ dương thì chứng tỏ Qn > Q(n-1), sản lượng
tiêu thụ hàng hóa tăng so với năm trước. Sản lượng tiêu thụ hàng hóa tăng nghĩa là
thời gian sản phẩm trong quá trình lưu thông bị giảm xuống, hàng hóa nhanh đi vào
khâu tiêu dùng hơn.
• Doanh thu tiêu thụ: Doanh thu tiêu thụ là lượng tiền mà doanh nghiệp thu
được do thực hiện buôn bán hàng hóa trên thị trường trong một thời gian xác định.
 Tốc độ tăng doanh thu tiêu thụ của năm n so với năm (n – 1) là:
t =
100
)1()1(
×
×
×−×
−−

7
Ngoài chỉ tiêu về số lượng, phát triển thương mại còn được phản ánh qua chỉ
tiêu chất lượng. Từ các chỉ tiêu gia tăng về số lượng ta nhận định được chất lượng
phát triển thông qua tốc độ tăng trưởng thương mại, sự dịch chuyển cơ cấu của sản
phẩm và thị trường.
•Tốc độ tăng trưởng: Thông qua chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng ta sẽ thấy được
tốc độ mở rộng quy mô thương mại và thương mại phát triển ổn định hay không ổn
định qua các năm.
Tốc độ tăng trưởng hàng năm: g = 100% ×
)1(
)1(

−−
nQ
nQQn
Trong đó, g: Tốc độ tăng trưởng hàng năm
Qn: Qui mô thương mại năm nghiên cứu
Q(n-1): Qui mô thương mại trước năm nghiên cứu
• Sự dịch chuyển về cơ cấu: sự dịch chuyển về cơ cấu sản phẩm là sự thay đổi
về tỷ trọng các loại sản phẩm tiêu thụ. Để phát triển thương mại thì tỷ trọng các sản
phẩm có hàm lượng chất xám cao, công nghệ cao có xu hướng ngày càng tăng lên,
giảm dần những mặt hàng thô, những mặt hàng mang tính thủ công và những loại sản
phẩm không thân thiện với môi trường.
2.2.3. Nhóm chỉ tiêu hiệu quả thương mại
Hiệu quả thương mại là phạm trù phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được
với chi phí bỏ ra của quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. Thực chất, đó là
trình độ sử dụng các nguồn lực trong thương mại nhằm đạt tới những mục tiêu đã xác
định.
Biểu thức chung của hiệu quả thương mại: H =
C

phát triển thương mại do đó phải biết cách kết hợp, sử dụng chúng sao cho hợp lý đem
lại hiệu quả tối ưu nhất cho doanh nghiệp.
Phát triển kinh tế hài hòa với phát triển về mặt xã hội, môt trường. Phát triển
thương mại để giải quyết các vấn đề về xã hội như việc làm, mức sống, chất lượng
cuộc sống, rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng,…
Ngoài ra, phát triển thương mại sản phẩm phải gắn liền với việc bảo vệ môi
trường, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giảm thiểu các phế thải nhằm lành mạnh
hóa môi trường. Khai thác tài nguyên thiên nhiên như thế nào hợp lý đảm bảo
không cạn kiệt, có thể tái tạo…
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển thương mại sản phẩm sơn trên thị
trường miền Bắc
2.3.1. Nhóm nhân tố vĩ mô
a. Yếu tố kinh tế
Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng tới phát triển thương mại: Tốc độ tăng trưởng kinh
9
tế, tỷ lệ lạm phát, mức thu nhập bình quân, lãi suất ngân hàng.
Lạm phát tăng cao và kéo dài, thị trường ngoại hối có nhiều biến động sẽ có những
ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế nói chung và ngành sơn nói riêng. Những
tác động chủ yếu bao gồm: Giá cả tăng mạnh sẽ làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh,
ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất sơn và toàn bộ nền
kinh tế.
Lạm phát cao làm giảm giá trị đồng tiền trong nước. Khi các mức giá cả trong
tương lai khó dự đoán hơn thì các kế hoạch chi tiêu và tiết kiệm hợp lý sẽ trở nên khó
thực hiện hơn. Người dân ngày càng lo ngại về việc sức mua trong tương lai của họ bị
giảm xuống và mức sống của họ cũng vì vậy mà kém đi. Lạm phát cao khuyến khích
các hoạt động đầu tư mang tính đầu cơ trục lợi hơn là đầu tư vào các hoạt động sản
xuất. Lạm phát cao sẽ làm giảm nhu cầu tiêu dùng, thay đổi cơ cấu chi tiêu của người
dân từ đó ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của các DN.
Nhìn chung, các doanh nghiệp sản xuất sơn trong nước hiện đang cần vốn để mở
rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư cải tiến máy móc thiết bị và công nghệ để có thể cạnh

bằng các văn bản luật pháp như: luật thương mại, luật doanh nghiệp,…các pháp luật
này làm nền tảng, cơ sở cho các hoạt động kinh doanh thương mại sản phẩm vì nó
thúc đẩy hoặc hạn chế các hoạt động kinh doanh này. Nếu nội dung của pháp luật
không rõ ràng, chậm ban hành thông tư hướng dẫn thực hiện… sẽ gây đình trệ cho
việc phát triển thương mại sản phẩm. Trong đó có phát triển thương mại sản phẩm
sơn.
d. Yếu tố công nghệ kỹ thuật
Trong quá trình sản xuất kinh doanh. Sử dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất
kinh doanh có thể đạt được mức sản lượng cao hơn với vẫn cùng với một số lượng đầu
vào về lao động hoặc vốn. Dưới tác động của khoa học và công nghệ, các nguồn lực
sản xuất được mở rộng, làm biến đổi chất lượng nguồn lực lao động. Cơ cấu lao động
chuyển từ lao động giản đơn là chủ yếu sang lao động bằng máy móc, có kỹ thuật, có
trí tuệ, nhờ đó nâng cao năng suất lao động của doanh nghiệp. Khoa học và công nghệ
tạo điều kiện chuyển từ phát triển kinh tế theo chiều rộng sang phát triển kinh tế theo
chiều sâu. Phát triển kinh tế theo chiều rộng là sự tăng trưởng nhờ vào việc gia tăng
các yếu tố đầu vào của sản xuất như vốn, lao động, phát triển kinh tế theo chiều sâu,
nghĩa là thực hiện tăng trưởng kinh tế dựa trên việc nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu
tố sản xuất, nâng cao chất lượng hiệu quả thương mại, hướng tới tăng doanh thu, nâng
cao chất lượng sản phẩm.
11
Hiện nay máy móc, thiết bị và công nghệ ở các nhà máy sơn trang bị mới còn ít
và chưa đồng bộ, năng suất và chất lượng chưa cao. Các công nghệ mới mà thế giới đã
đưa vào sản xuất từ 20 năm nay như công nghệ sản xuất sơn có thành phần bột đóng
rắn bằng tia cực tím, sơn phủ nước – silicol…hiện nước ta còn chưa có. Ngoài ra, công
nghệ sản xuất sơn và thiết bị thi công như thiết bị làm sạch bề mặt, thiết bị sấy,…cũng
chưa được đầu tư sản xuất. Trong khi các doanh nghiệp nước ngoài với công nghệ sản
xuất tiên tiến, hiện đại nên chất lượng sơn và năng suất lao động cao, khả năng cạnh
tranh với các doanh nghiệp sản xuất sơn trong nước lớn.
Mục tiêu cuối cùng của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận. Muốn vậy các
doanh nghiệp phải sản xuất những mặt hàng có nhu cầu lớn, tối thiểu hóa chi phí các

giảm, kéo theo cung giảm và cầu tăng, ngược lại nếu cung nhỏ hơn cầu thì giá cả sẽ
tăng làm cho cung tăng và cầu giảm; nếu cung bằng cầu thì giá cả sẽ cân bằng, ổn
định. Doanh nghiệp cần nắm bắt chính xác quan hệ cung cầu để sản xuất hàng hóa đáp
ứng kịp thời nhu cầu của thị trường từ đó có thể tiến đến mục tiêu nâng cao hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp.
Quy luật cạnh tranh: Thị trường ngày càng biến động, tính cạnh tranh ngày càng
gay gắt và quyết liệt cũng là nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Để tồn tại và tạo lập vị thế của mình trên thương trường, doanh nghiệp phải
luôn có ý thức tự hoàn thiện, tự làm mới sản phẩm của mình để thu hút khách hàng,
mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Sản phẩm của doanh nghiệp càng phù hợp với
sở thích và thị hiếu của người tiêu dùng bao nhiêu thì càng được ưa chuộng bấy nhiêu,
qua đó sức mua sẽ tăng lên thúc đẩy hoạt động thương mại phát triển.
b. Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp
Là các yếu tố bên trong doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể tác động vào để
làm ảnh hưởng tới việc đẩy mạnh tiêu thụ, bao gồm các yếu tố cơ bản sau:
- Tài chính: vốn là yếu tố tiên quyết đối với mọi hoạt động kinh doanh nói chung
và hoạt động thương mại sản phẩm sơn nói riêng, bởi vì có vốn doanh nghiệp mới có
thể tiến hành mua các máy móc thiết bị, nhà xưởng, nguyên nhiên vật liệu cũng như
thuê nhân công để tiến hành hoạt động kinh doanh của mình. Vốn cũng là yếu tố quyết
định qui mô và kế hoạch phát triển bởi thông thường, doanh nghiệp có vốn lớn thì
doanh nghiệp đó có lợi thế hơn trong việc phát triển thị trường, nâng cao chất lượng,
số lượng sản phẩm tiêu thụ, cải tiến quá trình sản xuất kinh doanh.
Trong giai đoạn đầu tư phát triển chiếm lĩnh thị phần, nó tác động trực tiếp tới
phát triển thương mại của DN. Nếu một DN có tiềm lực tài chính vững mạnh thì sẽ
giúp cho chiến lược phát triển thương mại được tiến hành nhanh chóng, dễ dàng và đạt
13
kết quả cao. Ngược lại, nếu DN gặp phải những khó khăn về tài chính thì hoạt động
phát triển thương mại cũng khó có thể triển khai được, dẫn đến không đạt được những
chỉ tiểu đã đề ra về doanh thu và lợi nhuận.
- Tiềm lực con người: là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động sản xuất kinh

- Mở rộng quy mô kinh doanh cho doanh nghiệp: Thị trường càng lớn thì hàng
hóa tiêu thụ càng nhiều, còn thị trường bị thu hẹp hay doanh nghiệp bị mất thị trường
thì doanh nghiệp sẽ suy thoái, không thể tồn tại lâu. Thị trường phản ánh tình hình
kinh doanh của doanh nghiệp. Nhìn vào thị trường sẽ thấy được tốc độ, mức độ tham
gia vào thị trường của doanh nghiệp cũng như quy mô sản xuất kinh doanh.
- Giúp doanh nghiệp phát triển ổn định, tăng thị phần, nâng cao vị thế của mình
trên thị trường trong nước và trên thế giới. Gia nhập WTO chúng ta có nhiều thuận lợi
nhưng đồng thời cũng có nhiều thách thức lớn. Chúng ta phải cam kết mở cửa thị
trường vì thế có rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài vào thị trường trong nước, các
doanh nghiệp trong nước luôn phải đối mặt với các đối thủ cạnh tranh tầm cỡ, có lợi
thế về nhiều mặt. Do vậy, muốn tồn tại và phát triển thì các doanh nghiệp phải không
ngừng củng cố và phát triển thị trường của mình, nâng cao vị thế của mình. Tạo chỗ
đứng vững chắc trên thị trường. Khi sản phẩm của doanh nghiệp được nhiều người
tiêu dùng lựa chọn thì uy tín của doanh nghiệp càng tăng và càng tạo thuận lợi cho sự
phát triển của doanh nghiệp.
- Nhằm làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp: Thị trường phát triển và mở rộng,
doanh nghiệp tạo được chỗ đứng và lợi thế trên thị trường, sản phẩm đáp ứng được
nhu cầu của người tiêu dùng. Do vậy sản lượng tiêu thụ tăng và qua đó làm tăng lợi
nhuận cho doanh nghiệp. Mặt khác, mục đích của nhà sản xuất kinh doanh là thu lợi
nhuận thông qua việc đem bán, kinh doanh những sản phẩm, dịch vụ mà khách hàng
cần chứ không phải kinh doanh cái mà doanh nghiệp có nên họ luôn cố gắng xác định
nhu cầu của khách hàng qua các yếu tố của thị trường như cung, cầu, giá cả…Thị
trường luôn khách quan, các doanh nghiệp muốn đạt được thành công đều phải thích
ứng cùng thị trường để đạt được mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận. Có nhiều cách để gia
tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp như nâng giá trong điều kiện mức bán ra không
đổi…nhưng cách đó rất khó thực hiện khi nhiều sản phẩm cạnh tranh nhau trên thị
trường. Do đó muốn gia tăng lợi nhuận thì cách tốt nhất là doanh nghiệp phải tiêu thụ
thêm nhiều hàng hóa, nghĩa là phải mở rộng được thị trường.
- Trên cơ sở nghiên cứu giải pháp thị trường công ty nâng cao khả năng thích
ứng với thị trường của các sản phẩm do mình sản xuất ra và tiến hành tổ chức tiêu thụ

hưởng tới phát triển thương mại sản phẩm sơn và từ đó đưa ra các giải pháp thị trường
nhằm phát triển thương mại sản phẩm sơn trên các khía cạnh: đảm bảo sự mở rộng về
quy mô, nâng cao chất lượng và đảm bảo tính hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp.
16
2.5. Phân định nội dung nghiên cứu của đề tài
Phát triển thương mại sản phẩm sơn có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong điều kiện
hiện nay. Tuy nhiên thực tế phát triển thương mại mặt hàng này còn nhiều hạn chế đặc
biệt là trên thị trường miền Bắc do đó việc tìm ra các giải pháp thị trường nhằm phát
triển thương mại sản phẩm sơn trên thị trường miền bắc trong đó có công ty TNHH sơn
KOVA là hết sức cấp thiết. Đề tài nghiên cứu các vấn đề về phát triển thương mại nói
chung và phát triển thương mại sản phẩm sơn tại công ty TNHH sơn KOVA nói riêng.
Đề tài chủ yếu tập trung vào các vấn đề sau:
- Nêu lên một số khái niêm cơ bản về khái niệm phát triển thương mại, mô tả sơ
lược về sản phẩm sơn, chỉ ra vai trò của thị trường đối với phát triển thương mại mặt
hàng sơn trong việc mở rộng quy mô và tăng lợi nhuận doanh nghiệp. Tổng hợp các
chỉ tiêu đánh giá phát triển thương mại bao gồm chỉ tiêu về quy mô( sản lượng và
doanh thu tiêu thụ, tốc độ tăng doanh thu…), chỉ tiêu chất lượng( tốc độ tăng trưởng,
sự chuyển dịch cơ cấu sản phẩm và thị trường, nhóm chỉ tiêu hiệu quả ). Tìm hiểu các
nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thương mại sản phẩm sơn như các nhân tố vĩ mô
( kinh tế, xã hội, chính trị, pháp luật, khoa học kỹ thuật) và các nhân tố vi mô như các
yếu tố về thị trường, nhân tố bên trong doanh nghiệp, Tất cả các nội dung trên được
trình bày trong chương 2 là cơ sở để tìm hiểu thực trạng ở chương 3.
- Phân tích thực trạng tình hình hoạt động kinh doanh và phát triển thị trường đối
với mặt hàng sơn nói chung và mặt hàng sơn tại công ty TNHH sơn KOVA nói riêng
theo các chỉ tiêu về tăng trưởng thương mại, cơ cấu sản phẩm, cơ cấu thị trường. Ảnh
hưởng của nhân tố môi trường đến phát triển thương mại sản phẩm sơn như nhân tố thị
trường, yếu tố giá cả, yếu tố cạnh tranh, chính sách quản lý nhà nước đối với thị
trường sản phẩm sơn. Nội dung này được trình bày trong chương 3, từ đây ta có được
cái nhìn tổng quát nhất về thực trạng phát triển sản phẩm sơn trên thị trường miền Bắc.
- Các định hướng mục tiêu phát triển thị trường sản phẩm sơn. Những thành công

Phương pháp được sử dụng để so sánh dữ liệu giữa các thời kỳ khác nhau
hoặc so sánh hoạt động thương mại sản phẩm sơn của công ty với các đối thủ cạnh
tranh để đánh giá sự phát triển thương mại sản phẩm sơn trên thị trường nội địa
trong giai đoạn hiện nay.
b. Phương pháp chỉ số
18
Các chỉ số được sử dụng để đánh giá sự tăng lên hoặc giảm xuống, tỷ trọng, thị
phần tiêu thụ sản phẩm sơn của DN trên các thị trường nội địa về mặt quy mô qua đó
đánh giá được các vấn đề phát triển thương mại trong hiện tại, và dự báo phát triển
thương mại sản phẩm này trong tương lai.
c. Phương pháp khác
Phương pháp chủ yếu sử dụng các phần mền chuyên dụng bằng máy vi tính và
công nghệ thông tin, đồ thị, biểu đồ để từ đó có thể phân tích, đánh giá thực trạng và
dự báo tương lai về thương mại sản phẩm sơn.
3.2. Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng của các nhân tố môi trường
đến phát triển thương mại sản phẩm sơn trên thị trường miền Bắc
3.2.1. Đánh giá tổng quan tình hình phát triển thương mại sản phẩm sơn trên
thị trường miền bắc
a. Đối với các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm sơn nói chung
- Về quy mô: Quy mô thương mại sản phẩm sơn trên thị trường Miền Bắc ngày
càng mở rộng. Tốc độ sản lượng tiêu thụ tăng nhanh qua các năm
Biểu đồ 3.1. Sản lượng tiêu thụ sơn trên thị trường miền Bắc
Năm 2008 sản lượng tiêu thụ sơn đạt 198.000 tấn, đến năm 2010 sản lượng tiêu
thụ sơn đạt 365.000 tấn. Năm 2009 sản lượng tiêu thụ đạt 257.000 tấn tăng 59.000 tấn
so với năm 2008(198.000 tấn), với tốc độ tăng sản lượng tiêu thụ 29,8%. Năm 2010,
nhu cầu xây dựng tăng cao sản lượng sơn cung ứng trên thị trường Miền Bắc đạt
365.000 tấn tăng so với năm trước 108.000 tấn tương ứng với tốc độ tăng sản lượng
19
tiêu thụ 42%. Ngoài ra số lượng doanh nghiệp kinh doanh và sản xuất sản phẩm sơn
cũng không ngừng tăng theo thời gian. Năm 2002 có 27 doanh nghiệp – năm 2004: 50

20

Trích đoạn Ảnh hưởng cuả nhân tố môi trường đến phát triển thương mại sản phẩm sơn của công ty TNHH sơn KOVA Khái quát về công ty TNHH sơn KOVA Kết quả điều tra trắc nghiệm Kết quả phân tích dữ liệu thứ cấp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status