CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Mỳ ăn liền là sản phẩm khá quen thuộc với người tiêu dùng trên thế giới
và cả Việt Nam. Xuất xứ từ Nhật Bản nhưng hiếm có mặt hàng nào được "nội
địa hóa" nhanh và có tốc độ "phủ sóng" mạnh như mỳ ăn liền, đến mức khó có
thương hiệu nhập khẩu nào trong thời gian gần đây có thể len chân chiếm lĩnh
thị trường. Chính vì thế cuộc chạy đua giành giật thị trường tiêu thụ sản phẩm
mỳ ăn liền ngày càng sôi động và khá hấp dẫn.
Việt Nam được xem là một trong những quốc gia tiêu thụ mỳ ăn liền
nhiều nhất châu Á. Theo thống kê chưa đầy đủ thì hiện nay trên thị trường có
hơn 50 doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh mỳ ăn liền, chưa kể có sự tham gia
của các đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Trong cuộc đua về chủng loại và giá cả,
các sản phẩm của Vina Acecook (100% vốn Nhật Bản) đang dẫn đầu với
khoảng 65% thị phần. Ngay sau đó là Asia Food (100% vốn trong nước) chiếm
hơn 20% thị phần với các thương hiệu Gấu Đỏ, Hello, Vifood, Hảo Hạng,
Osami, mới đây là Trứng Vàng. Tại các siêu thị, trung tâm thương mại, cửa
hàng, chợ, sản phẩm mì gói của Vina Acecook, Asia Food, Vifon, Uni-
President, Massan, Miliket… đang chiếm lĩnh hơn 90% thị phần với hàng trăm
nhãn hiệu khác nhau. Đó là chưa kể hàng chục nhãn hàng nước ngoài đang hiện
diện khắp nơi, tạo sự phong phú cho thị trường cả về bao bì, mẫu mã lẫn giá cả.
Mì ăn liền tuy không phải là một thị trường mới mẻ nhưng với môi trường
cạnh tranh, công bằng, chắc chắn phần thắng sẽ nghiêng về các doanh nghiệp có
sự đầu tư bài bản, biết lắng nghe và đưa ra những sản phẩm phù hợp với thị hiếu
cũng như thu nhập người mua. Trên thực tế, cuộc chiến quanh gói mì ăn liền
mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu.
Là một doanh nghiệp nhỏ sản xuất và kinh doanh mỳ ăn liền trên thị
trường nội địa. Nhà máy mỳ Hapro thộc tổng công ty thương mại Hà Nội cũng
chịu ảnh hưởng không nhỏ tác động bởi các yếu tố của thị trường. Trong quá
trình thực tập tại nhà máy, em nhận thấy sản phẩm mỳ ăn liền là sản phẩm chủ
lực của nhà máy nhưng việc phát triển thương mại sản phẩm này vẫn còn chưa
tương xứng với tiềm năng. Thị trường sản phẩm mỳ ăn liền của nhà máy còn
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm mục tiêu về lý luận và mục tiêu thực
tiễn.
2
Mục tiêu lý luận: Thông qua nghiên cứu vấn đề phát triển thương mại sản
phẩm mỳ ăn liền trên thị trường nội địa, nghiên cứu đề tài nhằm mục đích hệ
thống hóa các vấn đề lý thuyết về phát triển thương mại sản phẩm như khái
niệm, bản chất, các chỉ tiêu đánh giá, các nhân tố ảnh hưởng để làm cơ sở cho
việc nghiên cứu giải pháp thị trường nhằm phát triển thương mại sản phẩm mỳ
ăn liền.
Mục tiêu thực tiễn: Áp dụng các lý luận trên, những nghiên cứu của đề tài
là cơ sở đưa ra các giải pháp liên quan đến thị trường trên tầm vi mô và vĩ mô
nhằm phát triển thương mại sản phẩm mỳ ăn liền trên thị trường nội địa mà cụ
thể là nhà máy mỳ Hapro. Cũng thông qua quá trình nghiên cứu về thực trạng đề
tài phát hiện những vấn đề cấp bách trong thực tiễn giúp doanh nghiệp có thể
đưa ra các giải pháp thích hợp cho hoạt động kinh doanh
1.4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về nội dung: phát triển thương mại sản phẩm mỳ ăn liền bao hàm nhiều
nội dung: Sự gia tăng về quy mô, sự nâng cao chất lượng thương mại, hiệu quả
thương mại, kết hợp hài hoà giữa các mục tiêu kinh tế - xã hội và môi trường.
Tuy nhiên, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu sự phát triển thương mại sản phẩm
mỳ ăn liền trên khía cạnh gia tăng về quy mô và chất lượng thương mại.
Về đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu của đề tài là mỳ ăn liền.
Tuy nhiên, mì ăn liền nói chung được phân chia thành 2 nhóm sản phẩm: gốc mì
(mì đóng gói) và gốc gạo (miến, bún, phở, cháo đóng gói). Đề tài chỉ tập trung
nghiên cứu đến nhóm “gốc mì” Kuksu của nhà máy mỳ Hapro.
Về mặt không gian: Do điều kiện về thời gian và năng lực bản thân còn
nhiều hạn chế cũng như yêu cầu của một luận văn nên đề tài chỉ nghiên cứu chỉ
tập trung vào giải pháp thị trường nhằm phát triển thương mại sản phẩm mỳ ăn
liền của nhà máy mỳ Hapro.
Về mặt thời gian: đề tài đưa ra giải pháp thị trường nhằm phát triển
tác động lên đối tượng là các sản phẩm, vật thể hữu hình nhưng có quy mô nhỏ
hơn và chỉ giới hạn trên lãnh thổ một quốc gia.
Phát triển thương mại sản phẩm mỳ ăn liền trên thị trường nội địa là tất cả
các hoạt động phát triển thương mại sản phẩm trên thị trường nội địa nhằm cho
lĩnh vực thương mại sản phẩm mỳ ăn liền ngày càng được mở rộng về quy mô,
tăng về chất lượng, nâng cao về hiệu quả và phát triển một cách bền vững.
Bản chất của sự phát triển thương mại:
Các hoạt động nhằm phát triển thương mại thì phải đảm bảo làm cho lĩnh
vực này có sự mở rộng về quy mô, sự thay đổi về chất lượng, nâng cao tính hiệu
quả kinh tế và đảm bảo phát triển bền vững hoặc cả bốn vấn đề trên.
- Sự mở rộng về quy mô thương mại: các hoạt động làm cho thương mại
có sự mở rộng về quy mô nghĩa là làm cho lĩnh vực thương mại có sự gia tăng
sản lượng tiêu thụ qua đó gia tăng giá trị thương mại và có sự mở rộng về thị
trường tiêu thụ. Phát triển thương mại sản phẩm nào đó xét về mặt quy mô là tạo
đà cho sản phẩm bán được nhiều hơn, quay vòng nhanh hơn, giảm thời gian
trong lưu thông, sản phẩm được đưa ra nhiều thị trường mới, người tiêu dùng
mới.
5
- Lĩnh vực thương mại phải có sự thay đổi về chất lượng: Không chỉ tăng
về mặt số lượng mà các hoạt động phát triển thương mại cũng phải quan tâm về
mặt chất lượng nghĩa là phải làm thế nào để lĩnh vực thương mại có sự dịch
chuyển cơ cấu hàng hóa, dịch vụ theo hướng tăng những hàng hóa, dịch vụ có
chất lượng tốt, hàm lượng chất xám cao, mẫu mã đẹp, sang trọng…phải có sự
thâm nhập và khai thác tốt hơn thị trường cũ của sản phẩm nhằm tối đa hóa lợi
nhuận và phát triển thị trường sản phẩm theo chiều sâu.
- Phát triển thương mại gắn liền với việc nâng cao hiệu quả kinh tế của
thương mại. Nâng cao hiệu quả kinh tế thương mại nói chung và hiệu quả kinh
tế của lĩnh vực thương mại sản phẩm nói riêng là việc sử dụng tất cả các biện
pháp tác động tới kết quả hoặc chi phí hoặc cả hai đại lượng trên nhằm làm cho
hoạt động thương mại sản phẩm có kết quả tăng, chi phí giảm, kết quả tăng mà
- Phân loại theo khối lượng: 85g, 82g, 80g, 75g, 70g, 65g, 60g.
- Phân loại theo hương vị: mỳ sate, mỳ gà quay, mỳ thập cẩm, mỳ kim
chi, mỳ tôm, mỳ hải sản, mỳ chay hương nấm, mỳ Ragu…
- Phân loại theo cách đựng: mỳ gói, mỳ ly, mỳ cốc, mỳ bát…
Ưu điểm của mỳ ăn liền
Sản phẩm mỳ ăn liền được ưa chuộng của người sử dụng vì nó có các ưu
điểm nổi bật sau:
Đứng về khía cạnh dinh dưỡng, đây là loại sản phẩm có giá trị dinh dưỡng
cao do được chế biến từ bột mỳ và phụ gia có chứa các chất dinh dưỡng như
protein, lipit, vitamin, khoáng. Như vậy, về cơ bản sản phẩm mỳ ăn liền nói
chung có chứa tương đối đầy đủ chất dinh dưỡng cơ bản.
Ngoài ra mỳ ăn liền còn có các ưu điểm khác như: quá trình bảo quản mỳ
tương đối đơn giản, vận chuyển nhanh gọn, dễ sử dụng, dễ chế biến… bên cạnh
đó giá cả theo nhiều phân khúc cũng giúp sản phẩm này có mặt ở nhiều tầng lớp
thu nhập khác nhau
2.2. Một số lý thuyết về phát triển thương mại sản phẩm
2.2.1. Các chỉ tiêu đánh giá phát triển thương mại sản phẩm trên thị trường
nội địa.
2.2.1.1. Dựa vào quy mô.
Để đánh giá sự phát triển thương mại sản phẩm trên thị trường nội địa thì
tiêu chí dễ nhận thấy nhất đó là sự gia tăng về qui mô thương mại thể hiện ở các
1
7
chỉ tiêu cụ thể là tổng giá trị thương mại sản phẩm, sản lượng, doanh thu tiêu thụ
sản phẩm trong các hoạt động thương mại nội địa.
- Tổng giá trị thương mại sản phẩm: Tổng giá trị thương mại sản phẩm trên thị
trường nội địa là toàn bộ doanh thu bán lẻ hàng hoá trên thị trường của các cơ sở sản
xuất kinh doanh bao gồm: doanh thu bán lẻ của các cơ sở sản xuất kinh doanh
thương mại; doanh thu bán lẻ của các cơ sở sản xuất và nông dân trực tiếp bán ra trên
Trong đó: PV
0
là giá trị thương mại sản phẩm được tính theo giá so sánh
PV
ti
là giá trị thương mại sản phẩm i được tính theo giá năm t
P
0i
là giá so sánh của các loại sản phẩm i được tiêu thụ trên thị trường nội địa
P
ti
là giá của các loại sản phẩm i được tiêu thụ trên thị trường nội địa năm thứ t
Q
ti
là sản lượng tiêu thụ các loại sản phẩm i trên thị trường nội địa ở năm thứ t
Khi PV tăng lên theo các năm, các quý hoặc các tháng nghĩa là quy mô
thương mại sản phẩm trên thị trường nội địa tăng lên.
Tổng giá trị thương mại sản phẩm càng cao tức là quy mô thương mại sản
phẩm càng được mở rộng, là một tín hiệu tốt đối vơi phát triển thương mại sản
phẩm.
- Sản lượng tiêu thụ: Ngoài chỉ tiêu trên thì quy mô thương mại còn được
phản ánh qua sản lượng tiêu thụ hàng hóa trên thị trường nội địa. Nếu sản lượng
tiêu thụ của sản phẩm tăng lên nghĩa là thời gian sản phẩm trong quá trình lưu
thông bị giảm xuống, hàng hóa nhanh đi vào khâu tiêu dùng hơn.
- Tốc độ tăng trưởng : là tỷ lệ gia tăng giá trị thương mại sản phẩm năm
sau so với năm trước. Chỉ tiêu này được tính như sau:
G =
01
dân do được tiêu dùng những sản phẩm tốt trên thị trường.
Ngoài ra để đo lường chất lượng phát triển thương mại người ta còn quan
tâm đến sự dịch chuyển cơ cấu thị trường và sự chuyển dịch về phương thức
phân phối sản phẩm. Tăng dần tỷ trọng sản phẩm sang các thị trường mục tiêu,
từ những thị trường cũ sang những thị trường mới hơn và ngày càng thâm nhập
sâu vào thị trường mới.
2.2.1.3. Dựa vào chỉ tiêu hiệu quả thương mại
Hiệu quả thương mại sản phẩm trên thị trường nội địa được thể hiện qua
các chỉ tiêu cụ thể sau:
- Mức đóng góp của thương mại sản phẩm vào GDP: Nếu mức đóng góp
của lĩnh vực thương mại sản phẩm vào GDP càng lớn thì cho thấy thương mại
sản phẩm này có vị trí và vai trò quan trọng trong nền kinh tế, góp phần tăng
trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập quốc dân, ổn định đời sống kinh tế xã hội.
- Tỷ suất lợi nhuận: Lợi nhuận là mục tiêu kinh tế cao nhất là điều kiện tồn
tại của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường. Nó là phần chênh
lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí. Lợi nhuận trong hoạt động thương mại
9
dịch vụ cũng vậy nó là phần chênh lệch giữa doanh số thu về từ việc bán hàng
hóa và chi phí để có được hàng hóa đó. Tỷ suất lợi nhuận là phần trăm giữa lợi
nhuận thu được của người sản xuất kinh doanh thương mại và chi phí họ phải bỏ
ra ban đầu để có được hàng hóa kinh doanh, hoặc là phàn trăm giữa lợi nhuận
thu được của người sản xuất kinh doanh thương mại so với doanh thu mà họ đạ
được. Tỷ suất lợi nhuận trong lĩnh vực thương mại sản phẩm càng lớn chứng tỏ
sự hoạt động này ngày càng có hiệu quả. Mặt khác lợi nhuận nhiều sẽ thu hút
nhiều nhà đầu tư hơn sẽ làm cho hoạt động thương mại sản phẩm trở nên sôi
động hơn nhưng cũng tạo ra nhiều khó khăn hơn, tính cạnh tranh trên thị trường
sẽ khốc liệt hơn.
- Hiệu quả trong sử dụng các nguồn lực thương mại:
Nguồn lực thương mại được hiểu là tất cả các yếu tố tài nguyên thiên
nhiên, vốn, công nghệ, nhân lực là những yếu tố và điều kiện khách quan để tạo
gắn liền với việc bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp, giảm thiểu việc gây ô nhiễm
môi trường, giảm thiểu các phế thải nhằm lành mạnh hóa môi trường.
2.2.2. Các nhân tố môi trường ảnh hưởng đến phát triển thương mại sản
phẩm trên thị trường nội địa.
Phát triển thương mại sản phẩm chịu nhiều ảnh hưởng của các nhân tố
khác nhau. Chúng tác động đến phát triển thương mại trên nhiều phương diện,
nhiều hướng tới quy mô thương mại, chất lượng của phát triển thương mại, cũng
như hiệu quả thương mại. Để có được sự phát triển thương mại một cách bền
vững, chúng ta cần xác định, đánh giá một cách đầy đủ ảnh hưởng của các nhân
tố này tới quá trình phát triển thương mại sản phẩm. Tuỳ theo các cách tiếp cận
khác nhau mà người ta có thể phân chia các nhân tố ảnh hưởng này ra thành
những nhóm khác nhau.
2.2.2.1. Nhóm nhân tố thuộc về thị trường
Các nhân tố thuộc về thị trường ảnh hưởng đến phát triển thương mại sản
phẩm trên thị trường nội địa bao gồm:
- Sở thích, thị hiếu tiêu dùng của người dân: sở thích và thị hiếu có ảnh
hưởng lớn đến cầu sản phẩm trên thị trường nội địa. Sở thích và thị hiếu của
người tiêu dùng phụ thuộc vào tập tính tiêu dùng, vào thu nhập, vào quan điểm
của mọi người. Càng hàng hóa được bày bán trên thị trường càng phù hợp với sở
11
thích, thị hiếu bao nhiêu thì càng được ưu chuộng bấy nhiêu, qua đó sức mua sẽ
tăng lên thúc đẩy hoạt động thương mại phát triển.
- Quy mô, cơ cấu thị trường: quy mô và cơ cấu của thị trường là các nhân
tố xuất phát từ cung sản phẩm. Nhân tố này quy định số lượng các sản phẩm
được bày bán trên thị trường, mẫu mã, chủng loại của sản phẩm, quy định sự đa
dạng và phong phú của thị trường sản phẩm, đồng thời nói về quy mô, cơ cấu thị
trường cũng là nói về thị phần chiếm lĩnh của hàng hóa, sản phẩm trên thị
trường so với các loại khác, thể hiện thị phần độc chiếm lớn hay nhỏ.
- Các nhân tố thuộc về cơ cấu thị trường tiêu thụ nội địa, đặc thù riêng của
các khu vực thị trường: nhân tố về cơ cấu thị trường tiêu thụ nội địa giúp phân
Giá cả của hàng hóa là một trong số các nhân tố chủ yếu tác động đến tiêu
thụ, giá được coi là vũ khí cạnh tranh trên thị trường vì vậy giá cả phải hợp lý.
Nếu giá phù hợp sẽ kích thích cầu tiêu thụ, đồng thời cũng mang lại cho doanh
nghiệp hiệu quả trong kinh doanh. Qua đó, tăng sản lượng tiêu thụ đồng thời
làm tăng quy mô, hiệu quả thương mại sản phẩm. Nếu giá quá cao sẽ làm giảm
cầu về hàng hóa, qua đó làm giảm số lượng tiêu thụ doanh nghiệp kinh doanh
sản phẩm gặp khó khăn hơn trong việc thu hồi vốn, kinh doanh không hiệu quả.
Như vậy giá bán quá cao làm giảm quy mô, hiệu quả thương mại.
Chất lượng hàng hóa do sản xuất tạo ra và các doanh nghiệp có xu hướng
tạo ra những hàng hóa có chất lượng ngày một tốt hơn, nhiều tính năng hơn. Và
chất lượng của hàng hóa ảnh hưởng đến khâu tiêu dùng sản phẩm vì người mua
trước khi mua hàng phải xem khả năng đáp ứng của hàng hóa với nhu cầu của
họ. Chính vì vậy, chất lượng hàng hóa ảnh hưởng tới việc phát triển thương mại
sản phẩm: chất lượng hàng hóa tốt, cầu cao hơn, lúc đầu làm tăng quy mô
thương mại, sau đó làm dịch chuyển cơ cấu thương mại và đồng thời làm tăng
hiệu quả thương mại và ngược lại.
Mạng lưới phân phối là toàn bộ các kênh phân phối mà doanh nghiệp thiết
lập và sử dụng trong phân phối hàng hóa. Mạng lưới phân phối càng lớn và rộng
khắp thì sản phẩm sẽ nhanh đến tay người tiêu dùng hơn và tiếp xúc được gần
với khách hàng. Dòng thông tin của khách hàng phản ánh tới doanh nghiệp về
sản phẩm là một dòng thông tin quý báu có thể giúp cho công ty có những cải
tiến cho sản phẩm, phát huy mặt mạnh, giảm thiểu những hạn chế của sản phẩm.
13
Ngoài ra trên thị trường ngày càng phát triển hơn thì nhân tố ảnh hưởng
tới phát triển thương mại sản phẩm còn phải đề cập đến vấn đề về thương hiệu.
Thương hiệu khẳng định tiếng tăm, vị thế của sản phẩm, doanh nghiệp trên thị
trường. Có rất nhiều sản phẩm được ưu chuộng nhờ vào thương hiệu của mình
vì vậy phát triển thương hiệu là yếu tố ảnh hưởng đồng thời kích thích phát triển
thương mại sản phẩm.
2.2.2.3. Nhóm nhân tố thuộc các ngành liên quan, hỗ trợ
nghiệp… các chỉ thị, nghị định, quyết định của chính phủ và thủ tướng chính
phủ, các quyết định của các bộ ngành liên quan. Các pháp luật này làm nền tảng,
cơ sở cho các hoạt động kinh doanh thương mại sản phẩm
2.2.2.5. Các chính sách vĩ mô của nhà nước
Các chính sách thương mại vĩ mô của nhà nước là hệ thống các quan điểm
chuẩn mực, thể chế, biện pháp, thủ thuật mà nhà nước sử dụng tác động vào thị
trường để điều chỉnh các hoạt động thương mại phục vụ mục tiêu kinh tế xã hội
trong từng giai đoạn nhất đinh. Chính sách thương mại phù hợp là một nhân tố gắn
sản xuất với thị trường từ đó thúc đẩy phân bố nguồn lực một cách hợp lý,là một
nhân tố quan trọng trong việc khai thác lợi thế so sánh của từng vùng, từng ngành
hàng. Chính sách thương mại phù hợp sẽ khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư tiến
bộ khoa học công nghệ vào sản xuất trong nước để nâng cao sức cạnh tranh của hàng
hóa, đồng thời bảo hộ cho một số hàng hóa sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh
khốc liệt của hàng ngoại. Vì vậy mà các chính sách thương mại vĩ mô của nhà nước ảnh
hưởng rất lớn đến phát triển thương mại sản phẩm trên thị trường nội địa. Các chính
sách đó bao gồm các chính sách liên quan trực tiếp hay gián tiếp trong phát triển thương
mại ngành hàng, sản phẩm như chính sách đất đai, hỗ trợ công nghệ, vốn…
2.2.2.6. Các nhân tố khác
Ảnh hưởng đến phát triển thương mại sản phẩm ngoài các nhóm nhân tố
cơ bản kể trên còn có một số nhân tố khác như: điều kiện kinh tế - xã hôi trong
nước và quốc tế, sự biến động của nền kinh tế thế giới, các yếu tố về văn hoá tập
quán của người dân…Do đó, để có được sự phát triển thương mại sản phẩm một
cách bền vững thì cũng cần chú ý tới các nhân tố này.
2.3. Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu của những công trình năm
trước
15
Qua quá trình tham khảo các tài liệu, luận văn năm trước em thấy chưa có luận
văn nào nghiên cứu trực tiếp về phát triển thương mại sản phẩm mỳ ăn liền. Tuy
nhiên có một số đề tài liên quan tới vấn đề nghiên cứu như:
- Tăng cường hiệu lực triển khai chính sách phát triển thị trường tiêu thụ
nghiên cứu)
2.4. Phân định nội dung vấn đề nghiên cứu.
Đề tài giải pháp thị trường nhằm phát triển thương mại sản phẩm mỳ ăn liền trên
thị trường nội địa ( lấy nhà máy mỳ Hapro làm đơn vị nghiên cứu) là đề tài
mang tính cấp thiết cao xuất phát từ thực trạng thương mại sản phẩm mỳ ăn liền
trên thị trường nội địa cũng như tại đơn vị nghiên cứu. Với kết cấu gồm 4
chương, đề tài đi giải quyết các vấn đề sau đây:
Thứ nhất, phần lý thuyết:
- Đề tài đi xây dựng lý thuyết phát triển thương mại sản phẩm nội hàm
gồm phân tích các khái niệm, bản chất về phát triển thương mại, xây dựng các
chỉ tiêu đánh giá sự phát triển thương mại trên thị trường nội địa. Bao gồm các
chỉ tiêu về quy mô thương mại, chất lượng, hiệu quả thương mại và kết hợp hài
hòa các chỉ tiêu kinh tế - xã hội - môi trường.
- Tổng quan về sản phẩm mỳ ăn liền: khái niệm, nguyên liệu sản xuất,
phân loại và công dụng của mỳ ăn liền
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thương mại sản phẩm bao
gồm các nhân tố: nhóm nhân tố thuộc về thị trường; các nhân tố thuộc về năng
lực ngành sản xuất; nhóm nhân tố thuộc các ngành liên quan, hỗ trợ; các nhân tố
khác
Thứ hai, phần thực tiễn:
- Sau khi xây dựng lý thuyết về phát triển thương mại, đề tài đi sâu vào khảo
sát thực tế vấn đề nghiên cứu bằng cách sử dụng các phương pháp nghiên cứu
như phương pháp thu thập số liệu sơ cấp (điều tra trắc nghiệm và phỏng vấn),
thứ cấp và phương pháp phân tích số liệu (phương pháp phân tích thống kế, so
sánh, phương pháp chỉ số, các phương pháp khác như mô tả bằng đồ thị, bảng
biểu, biểu đồ…)
- Đề tài đánh giá tổng quan tình hình phát triển thương mại sản phẩm mỳ ăn
liền và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thương mại sản phẩm mỳ ăn liền
17
trên thị trường nội địa. Thực trạng chủ yếu đánh giá ở mặt quy mô và chất lượng
3.1.2.1. Phương pháp điều tra, trắc nghiệm
Phương pháp điều tra trắc nghiệm là một phương pháp phỏng vấn viết,
được thực hiện cùng một lúc với nhiều người theo một bảng hỏi in sẵn.
Người được hỏi trả lời ý kiến của mình bằng cách đánh dấu vào các ô tương
ứng theo một quy ước nào đó.
Nội dung: Bằng việc thiết lập các phiếu điều tra bao gồm các câu hỏi, mỗi
câu hỏi đều có phương pháp trả lời khác nhau. Người được điều tra sẽ chọn
một trong những phương án trả lời mà mình cho là đúng nhất. Các câu hỏi
lựa chọn phương án trả lời về những vấn đề điều tra liên quan đến hoạt động
nghiên cứu thị trường, quy mô kinh doanh, ưu điểm của sản phẩm, các lợi thế
của doanh nghiệp, các chính sách… gửi đến các cá nhân tại đơn vị thực tập
sau đó thu phiếu điều tra về phân tích và xử lý thông tin thu thập được.
Mục đích là nhằm thu được tổng quan về tình hình vấn đề phát triển thương
mại sản phẩm. Phiếu điều tra nêu được một số vấn đề tổng quát về thuận lợi
cũng như khó khăn của việc phát triển quy mô, chất lượng sản phẩm, thị trường
tiêu thụ trên thị trường nội địa. Kết quả của phiếu điều tra trắc nghiệm sẽ được
tổng hợp đánh giá và sẽ tiếp tục phụ vụ cho việc phỏng vấn chuyên gia.
Phương pháp này được sử dụng trong phần 3.3 chương 3. Qua đó tổng
quát lên thực trạng tiêu thụ sản phẩm mỳ ăn liền trên thị trường nội địa. Các kết
luận và phát hiện qua nghiên cứu ở phần 4.1, các dự báo triển vọng phát triển
thương mại sản phẩm mỳ ăn liền trên thị trường nội địa ở phần 4.2 và làm cơ sở
đưa ra các giải pháp thị trường ở phần 4.3.
3.1.2.2. Phương pháp phỏng vấn trực tiếp.
Phương pháp phỏng vấn là phương pháp thu thập thông tin, số liệu thông qua
hỏi đáp giữa người điều tra và người phỏng vấn.
Cách thức tiến hành là chuẩn bị một số câu hỏi có nội dung phục vụ cho vấn đề
nghiên cứu phỏng vấn các chuyên gia đang công tác tại đơn vị điều tra và các đơn
vị hoạt động trong các hoạt động nghiên cứu, sản xuất kinh doanh. Phỏng vấn được
tiến hành trực tiếp, gián tiếp bằng cách gửi qua email, điện thoại.
19
chương 3 của luận văn.
20
3.2. Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng của các nhân tố môi trường
đến phát triển thương mại sản phẩm mỳ ăn liền trên thị trường nội địa.
3.2.1. Đánh giá tổng quan về tình hình phát triển thương mại sản phẩm mỳ
ăn liền trên thị trường nội địa.
Mì ăn liền có xuất xứ từ Nhật Bản và đã xâm nhập vào thị trường Việt
Nam khá sớm. Vifon là một trong những nhà máy đầu tiên của Việt Nam sản
xuất mì ăn liền từ trước năm 1975. Sau năm 1975, những thương hiệu hàng đầu
trong lĩnh vực mì gói phải kể đến Vifon, Miliket, Colusa, vốn là những nhà máy
sản xuất mì gói trực thuộc Nhà nước và quá quen thuộc với người tiêu dùng từ
thành thị đến thôn quê trong những năm khan hiểm lương thực thực phẩm, hàng
hoá của thời kỳ bao cấp. Thị trường bắt đầu bùng nổ và một xu hướng phát triển
sản phẩm mạnh mẽ về tiếp thị hình ảnh, truyền thông thực sự xuất hiện khi liên
doanh sản xuất mì giữa Vifon và một doanh nghiệp Nhật Bản vào năm 1993,
Vifon Acecook hình thành và phát triển ở thị trường Việt Nam. Sự sản xuất sản
phẩm mỳ ăn liền ngày càng được mở rộng, xuất hiện ngày càng nhiều doanh
nghiệp sản xuất mỳ ăn liền làm cho chủng loại mỳ ăn liền trên thị trường ngày
một đa dạng và phong phú hơn. Theo bảng phụ lục 1 và bảng phụ lục 2 ta thấy
số doanh nghiệp kinh doanh mỳ ăn liền ngày một tăng lên rõ rệt. Từ 39/175771
DN tham gia vào thị trường năm 2007 đã tăng lên 47/205732 DN năm 2008, gấp
1,2 lần. Năm 2009 có 56/243103 DN tham gia kinh doanh mỳ ăn liền tăng so
với năm 2008 1,19 lần và năm 2010 con số này tăng lên 68/298041 DN tăng
1.22 lần so với năm 2009. Số lượng các doanh nghiệp tham gia sản xuất kinh
doanh mỳ ăn liền trên thị trường tăng lên làm cho tốc độ tăng của các doanh
nghiệp này cũng thay đổi mạnh. Tăng từ 20.51 % năm 2008 lên 21.42 % năm
2010.
Sự tăng lên liên tục của các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất và kinh
doanh mỳ ăn liền chứng tỏ sự hấp dẫn của lĩnh vực này đối với các nhà đầu tư,
đồng thời cũng thể hiện xu hướng cầu về sản phẩm này ngày càng cao trên thị
đầy hứa hẹn khi dân số Việt Nam có trên 60% là dưới 30 tuổi. Điều này tạo điều
kiện thuận lợi để các doanh nghiệp tận dụng và khai thác tối đa các lợi thế của
mình, phát triển đúng tiềm năng của ngành.
2
www.kienthuckinhte.com
22
3.2.2. Các nhân tố môi trường ảnh hưởng đến việc phát triển thương mại sản
phẩm mỳ ăn liền trên thị trường nội địa.
Bất kỳ một lĩnh vực ngành nghề kinh doanh nào cũng chịu ảnh hưởng của
các nhân tố tác động. Tùy theo quy mô sản xuất, kinh doanh mà mức độ ảnh
hưởng là khác nhau. Đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh mỳ ăn liền
cũng vậy. Một khi tiến hành phát triển thương mại sản phẩm thì cũng ảnh hưởng
của các nhân tố như nhân tố vi mô, vĩ mô…
3.2.2.1. Các nhân tố vĩ mô
Ngoài cơ chế thị trường, việc điều tiết thị trường còn phải kể đến vai trò
rất lớn của nhà nước. Tham gia điều tiết thị trường bằng các chính sách, văn bản
pháp luật nhằm bình ổn thị trường trong nước, tạo môi trường kinh doanh lành
mạnh và công bằng hơn. Cũng như các lĩnh vực kinh doanh khác, kinh doanh
sản phẩm mỳ ăn liền được điều tiết dựa trên hệ thống pháp luật chung của Nhà
nước như: luật thương mại, luật cạnh tranh, luật doanh nghiệp…Các luật này
làm nền tảng cơ bản cho các hoạt động kinh doanh vì vậy nó thúc đẩy hay hạn
chế hoạt động kinh doanh sản phẩm mỳ ăn liền là tùy thuộc vào những gì mà
nhà nước đặt ra.
Ngoài pháp luật, phát triển thương mại sản phẩm mỳ ăn liền còn bị ảnh
hưởng bởi các chính sách của nhà nước. Chủ yếu là các chính sách về bình ổn
giá cả. Hiện nay giá xăng dầu và điện tăng đã đẩy giá cả của các hàng khác tăng
theo. Bên cạnh đó còn có tác động không nhỏ của tỷ giá hối đoái, lãi suất ngân
hàng. Tình hình giá cả Việt Nam có yếu tố quốc tế, như giá lương thực trên thế
giới tăng cao, Việt nam xuất khẩu gạo thì giá gạo trong nước cũng tăng theo như
giá xăng dầu, giá các nguyên vật liệu nhập khác như phân bón, thuốc trừ sâu,
đến trên 10.000 trên 1 gói. Giá cả có sự khác biệt giữa các loại mỳ ăn liền càng
có nhiều lựa chọn cho khách hàng, tùy theo thu nhập và sở thích mà khách hàng
lựa chọn sản phẩm phù hợp nhu cầu. Giá cả cũng là nhân tố ảnh hưởng đến giá
thành sản phẩm. Một khi giá các nguyên vật liệu đầu vào như bột mỳ, điện
nước, xăng dầu…tăng lên làm cho các loại chi phí khác cũng tăng theo. Điều
này ảnh hưởng mạnh đến chi phí sản xuất và giá thành của sản phẩm, làm cho
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp sẽ giảm đi.
24
- Đối thủ cạnh tranh: Đây là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến việc tiêu
thụ sản phẩm trên thị trường nội địa. Hiện nay trên thị trường nội địa có hơn 50
doanh nghiệp với nhiều quy mô khác nhau tham gia vào lĩnh vực này, sản xuất
ra 5 tỉ gói mì/năm. Thị phần mì ăn liền đang nằm trong tay các nhà sản xuất lớn
như: Acecook Vietnam (khoảng 55%), Asia Food (khoảng 15%), Vifon (khoảng
15%), Masan (khoảng 10%), Saigon Ve Wong (khoảng 5%). Còn lại một thị
phần rất nhỏ chia đều cho các doanh nghiệp cả mới lẫn cũ, trong nước và nước
ngoài. Các doanh nghiệp đua nhau giành giật thị trường với những chiến lược
kinh doanh và phân phối khác nhau. Điều này tạo áp lực cạnh tranh rất mạnh
cho những doanh nghiệp mới tham gia vào thị trường trong lĩnh vực này. Đối
thủ cạnh tranh càng nhiều khiến doanh nghiệp phải tìm ra phương thức kinh
doanh riêng cho mình, tìm ra sự khác biệt của sản phẩm. Do đó đòi hỏi doanh
nghiệp cần đầu tư mạnh cho việc hoạch định các chính sách, chiến lược kinh
doanh. Nếu không tìm ra cái đặc trưng khác biệt của sản phẩm thì doanh nghiệp
dễ bị tách ra khỏi thị trường.
- Nhóm nhân tố thuộc về thị trường: Sự khác nhau về đặc tính của thị
trường của các khu vực miền Bắc, Trung, Nam hình thành nên cơ cấu thị hiếu,
thói quen tiêu dùng, sở thích của các tập khách hàng là khác nhau. Từ đó hình
thành nên cơ cấu tiêu thụ giữa các khu vực rất đa dạng và thường xuyên biến
động do các nhân tố chủ quan và khách quan.
Trên cơ sở đó cơ cấu tiêu thụ sản phẩm mỳ ăn liền giữa các vùng miền tác
động đến sự cân đối của quá trình phát triển thương mại, ảnh hưởng đến hiệu