Chuyên đề thực tập tốt nghiệp: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty cổ phần chứng khoán An Bình - Pdf 25

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Em cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng em, được thực
hiện trong quá trình thực tập tốt nghiệp tại công ty cổ phần chứng
khoán An Bình từ ngày 05/01/2009 – 05/05/2009. Đề tài có sử dụng
những thông tin và số liệu thu thập từ các Websites thông tin và
thông tin kinh doanh của ABS để phân tích. Em cam đoan các kết
quả nêu trong chuyên đề này là trung thực và chưa được ai công bố
trong bất kỳ một công trình nào khác.
Hà Nội, Tháng 4 – 2009
Người viết
Lê Quang Dũng
Lê Quang Dũng QTKD Quốc tế
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
Lê Quang Dũng QTKD Quốc tế
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
DANH MỤC CHỮ CÁI
VIẾT TẮT
ABS : Công ty cổ phần chứng khoán An Bình
SSI : Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn
DAS : Công ty chứng khoán ngân hàng công thương
NXB : Nhà xuất bản
DN : Doanh nghiệp
SSLCVĐT : Sức sinh lợi của vốn đầu tư
GDP : Tổng thu nhập quốc nội
VAT : Thuế giá trị gia tăng
TTGDCK : Trung tâm giao dịch chứng khoán
SGDCK : Sở giao dịch chứng khoán
VND : Việt Nam đồng
USD : Đô la Mỹ

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
PHẦN MỞ ĐẦU
Sự cần thiết của đề tài
Trong thời đại ngày nay, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là
một xu thế khác quan tất yếu của nền kinh tế Việt Nam và của các quốc gia
trên thế giới. Đại hội đảng cộng sản Việt Nam lần IX đã kết luận: ‘‘Toàn cầu
hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình hợp tác, vừa đấu tranh phức
tạp, đặc biệt là sự đấu tranh của các nước đang phát triển bảo vệ lợi ích quốc
gia mình, vì một trật tự kinh tế công bằng, chống lại những áp đặt phi lý của
các cường quốc kinh tế và các công ty xuyên quốc gia. Đối với nước ta, tiến
trình hội nhập được đẩy lên một tầm cao mới với sự đổi mới cả về chất và
lượng gắn với việc thực hiện các cam kết quốc tế, công cuộc này đòi hỏi
chúng ta phải nâng cao hiệu quả, năng lực cạnh tranh và tính độc lập tự chủ
của nền kinh tế, tham gia một cách tích cực và có hiệu quả vào quá trình phân
công lao động quốc tế’’.
Trong bối cảnh đó, thị trường chứng khoán Việt Nam được hình thành
và phát triển tới nay đã được 10 năm, khoảng thời gian này gi dấu sự xuất
hiện của những công ty kinh doanh chứng khoán và dịch vụ chứng khoán. Xét
về mặt số lượng, các công ty dịch vụ chứng khoán hiện nay tồn tại 188 công
ty cổ phần với quy mô, kinh nghiệm hoạt động và lịch sử hình thành khác
nhau, chất lượng dịch vụ khác nhau nhưng thế cũng đủ làm cho yếu tố cạnh
tranh phải xuất hiện và cạnh tranh ngày một tăng về phạm vi và mức độ, nhất
là khi thị trường có sự tham gia của các công ty nước ngoài theo những cam
kết về hội nhập.
Các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các công ty kinh doanh các
dịch vụ chứng khoán nói riêng cần thấy được bức tranh cạnh tranh của tổng
thể thị trường hiện tại và tương lai để xác định một hướng đi phù hợp cho
doanh nghiệp của mình để phát triển trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay với
Lê Quang Dũng QTKD Quốc tế
1

2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
1. 1. Tổng quan về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh:
1. 1.1. Khái niệm, bản chất và một số hình thức của cạnh tranh:
1.1.1.1. Khái niệm cạnh tranh:
Cạnh tranh là một quy luật kinh tế đặc biệt, nó tồn tại khách quan cùng
với nền kinh tế hàng hóa và tự do kinh tế. Từ nửa sau thế kỷ XVIII là mốc
thời gian đánh dấu cạnh tranh thực sự xuất hiện, nó được coi như một hệ quả
của lý thuyết tự do kinh tế của Adam Smith. Một nền kinh tế tự do, chính nó
đã tạo ra những điều kiện cơ bản : (i) Phân công lao động, (ii) Chủ thể lợi ích
đa nguyên, giúp cạnh tranh ra đời và tồn tại.
Phân công lao động là sản phẩm tất yếu của xã hội loài người khi phát
triển đến một giai đoạn cụ thể, nó cũng có thể coi là một thước đo mức độ
phát triển của xã hội loài người. Phân công lao động xã hội đã tạo ra tính độc
lập tương đối về kinh tế, từ đó mà tồn tại tự do kinh doanh, có sự tự chủ giữa
các chủ thể kinh tế khác nhau, có thị trường, …và có cạnh tranh. C.Mác viết
rằng: ‘‘sự phân công lao động trong xã hội đã đặt những người sản xuất hàng
hóa độc lập phải đối diện với nhau, những người này không thừa nhận một uy
lực nào khác ngoài uy lực cạnh tranh, ngoài sự cưỡng chế mà áp lực của
những lợi ích giữa họ với nhau đã gây ra đối với họ’’
Sự tồn tại của chủ thể lợi ích đa nguyên quyết định mỗi chủ thể của nền
kinh tế luôn tồn tại những lợi ích khác nhau, những lợi ích này có thể là tương
đồng hoặc cũng có thể là mâu thuẫn với nhau. Trong nền kinh tế tự do, các chủ
thể hoạt động nhằm thỏa mãn tối đa những lợi ích kinh tế của mình, mà đối với
Lê Quang Dũng QTKD Quốc tế
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

tranh là sự đấu tranh gay gắt, sự ganh đua giữa các tổ chức, các doanh ngiệp
nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi cho sản xuất và kinh doanh để đạt
được mục tiêu cho tổ chức hay doanh nghiệp đó.
1.1.1.2. Bản chất của cạnh tranh:
Trong cạnh tranh, các chủ thể mà cạnh tranh đề cập tới (các chủ thể
kinh tế) cạnh tranh với nhau, ganh đua và giành giật nhằm chiếm lấy nhiều
nhất lợi ích cho bản thân mình. Trong nền kinh tế thị trường, để nâng cao khả
năng cạnh tranh các doanh nghiệp phải cung cấp cho khách hàng những sản
phẩm thỏa mãn tốt nhất những nhu cầu của họ về: Giá, chất lượng, dịch vụ,
hình thức,…Để sở hữu sức cạnh tranh có ưu thế hơn đối thủ cạnh tranh thì
doanh nghiệp phải thường xuyên áp dụng những thành tựu công nghiệp, kỹ
thuật và quản lý …Như vậy, có thể thấy bản chất của cạnh tranh qua mục đích
lợi nhuận và chi phối thị trường.
Thực chất, có thể nói cạnh tranh là mối quan hệ giữa con người với con
người trong việc giải quyết các vấn đề lợi ích kinh tế. Bởi vậy, ngoài lợi ích
kinh tế, cạnh tranh còn mang bản chất xã hội, bản chất xã hội trong cạnh tranh
có thể thấy là chữ ‘‘Tín’’ trong kinh doanh hay là sự khai thác lợi ích từ
thương hiệu như các doanh nghiệp hiện nay đang gắng sức thực hiện.
Do là một quy luật kinh tế, cạnh tranh chiu sự chi phối của quan hệ sản
xuất giữ vị trí thống trị trong xã hội, nên bên cạnh bản chất kinh tế, bản chất
xã hội cạnh tranh còn mang bản chất chính trị.
1.1.1.3 Một số hình thức cạnh tranh:
Dựa trên các tiêu thức khác nhau, ta có thể phân thành nhiều loại hình
cạnh tranh khác nhau.
Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường:
Có thể chia ra ba loại:
� Cạnh tranh giữa người bán với người mua
Lê Quang Dũng QTKD Quốc tế
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

có những động thái tăng giá, đưa ra yêu sách đối với nhà cung ứng đầu vào để
tối đa hóa lợi nhuận nhằm bù đắp chi phí cơ hội đã bỏ ra trong quá trình cạnh
tranh. Trong cuộc đua này, doanh nghiệp nào không có lợi thế cạnh tranh,
không xây dựng cho mình một chiến lược cạnh tranh phù hợp tất yếu sẽ bị gạt
ra khỏi thị trường nhưng đồng thời nó lại mở rộng đường cho doanh nghiệp
nắm chắc được vũ khí ‘‘cạnh tranh’’ và dám chấp nhận luật chơi của quy luật
phát triển.
Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế :
Có thể chia ra hai loại hình cạnh tranh
� Cạnh tranh trong nội bộ ngành
Là sự cạnh tranh giữa hai hay nhiều doanh nghiệp cùng sản xuất hoặc
tiêu thụ một loại hàng hóa dịch vụ nào đó trên thị trường. Hình thức cạnh
tranh này mang những đặc điểm tương đồng với hình thức cạnh tranh giữa
những người bán với nhau. Tương tự, kết quả của quá trình cạnh tranh là sự
thu hẹp hoạt động thậm chí là phá sản của các doanh nghiệp không trụ vững
cuộc chiến cạnh tranh, đồng thời đánh dấu sự phát triển cả về chất và về
lượng của các doanh nghiệp chiến thắng.
� Cạnh tranh giữa các ngành
Là sự canh tranh của các doanh nghiệp nằm ở những thành phần kinh tế
khác nhau, đó có thể là sự cạnh tranh giữa doanh nghiệp và nhà cung ứng
hoặc giữa doanh nghiệp và nhà phân phối hoặc giữa những sản phẩm mang
đặc tính thay thế cho nhau. Bản chất của cạnh tranh giưa các ngành là có sự
khác nhau về tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các doanh nghiệp khác nhau
đầu tư ở các ngành khác nhau với cùng một số vốn như nhau.
Căn cứ vào mức độ, tính chất của cạnh tranh trên thị trường:
� Cạnh tranh hoàn hảo:
Lê Quang Dũng QTKD Quốc tế
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Là mô hình cạnh tranh mà ở đó một doanh nghiệp hay một nhà cung

hàng hóa bán ra thị trường, giá và lượng hàng bán ra đều do nhà sản xuất hoặc
cung ứng quyết định, người mua chỉ có hai quyết định để chọn là : mua hàng
để giải tỏa nhu cầu hoặc không mua. Đặc trưng của cạnh tranh độc quyền là
hãng kinh doanh độc quyền là nhạc trưởng của cuộc chơi, họ có thể định giá
theo đặc điểm tiêu dùng hay đặc trưng sản phẩm nhằm thu được lợi nhuận tối
đa, các doanh nghiệp nhỏ lẻ trong thị trường phải chấp nhận luật chơi mà
doanh nghiệp độc quyền tạo ra. Trong thực tế, cạnh tranh độc quyền thường
xuất hiện ở những ngành có rào cản ra nhập hoặc rút lui cao, đó có thể là
những ngành đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài (ngành kinh
doanh năng lượng, cơ sở hạ tầng,…), hoặc do độc quyền về công nghệ (công
nghệ thông tin, kỹ năng quản lý,…). Độc quyền mang lại lợi ích cho người
kinh doanh độc quyền nhưng lại gây ra những trở ngại cho sự phát triển sản
xuất và làm phương hại tới người tiêu dùng, bởi thế mỗi nước đều cần xây
dựng cho mình luật chống độc quyền để đảm bảo lợi ích của các chủ thể tham
gia trong thị trường.
1.1.2. Đặc điểm, Tính chất, vai trò của cạnh tranh:
1.1.2.1. Đặc điểm của cạnh tranh:
� Thứ nhất, trong cạnh tranh tồn tại hai hay nhiều chủ thể đối đầu với
nhau, không có định nghĩa về một chủ thể tự cạnh tranh với chính bản thân
chủ thể đó.
� Thứ hai, cạnh tranh chỉ sảy ra khi hai hay nhiều chủ thể cùng nhau
đáp ứng nhu cầu của một đối tượng chủ thể trên thị trường.
� Thứ ba, cạnh tranh sử dụng một hệ thống các công cụ và chiến lược
cụ thể theo những chương trình nhất định nhằm chiến thắng đối thủ.
1.1.2.2. Công cụ sử dụng trong cạnh tranh:
Để tồn tại và phát triển , các doanh nghiệp phải đối mặt với nhau trên
Lê Quang Dũng QTKD Quốc tế
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mọi phương diên từ sản xuất tới phân phối hàng hóa tới tay người tiêu dùng.

mô lớn là cần thiết để tận dụng hiệu quả tối đa công suất máy móc công nghệ.
Đây cũng là chỉ tiêu doanh nghiệp cần phải đạt được nếu muốn đạt các chỉ
tiêu về doanh số bán hàng và thị phần trên thị trường.
� Cạnh tranh bằng sản phẩm
‘‘Tiền nào của ấy’’ là nhận định cho ta cái nhìn toàn diện với việc sử
dụng giá làm công cụ cạnh tranh. Giá rẻ không hẳn là một công cụ tốt nhất
cho cạnh tranh bởi đơn giản, cộng đồng khách hàng của doanh nghiệp và toàn
ngành bao gồm nhiều phân khúc khác nhau với những mức độ nhu cầu khác
nhau cũng như những khả năng thanh toán khác nhau. Khi đời sống được
nâng cao, thu nhập người dân tăng lên khiến cho mức tiêu dùng cận biên gia
tăng, nó khiến cho vấn đề về giá thành không còn quan trọn nhiều như trước,
khách hàng bắt đầu chú ý tới những sản phẩm cùng loại hoặc sản phẩm thay
thế có chất lượng tốt hơn, hình thức đẹp hơn cho dù có phải trả nhiều hơn cho
‘‘đáng đồng tiền bát gạo’’. Lúc này, những sản phẩm
� Cạnh tranh dựa trên ưu thế mạng lưới kênh phân phối
Sản phẩm có chất lượng tốt, giá cả phải chăng nhưng nếu không được
cung cấp tới tay người tiêu dùng: đúng lúc, đúng nơi, đúng nhu cầu của khách
hàng thì doanh nghiệp sẽ cạnh tranh không hiệu quả. Bởi thế, vai trò của một
mạng lưới kênh phân phối rộng khắp, hợp lý , hiệu quả là điều kiện cần cho
việc cạnh tranh của doanh nghiệp đồng thời là công cụ cạnh tranh với các đối
thủ. Một ví dụ điển hình là ưu thế về mạng lưới chi nhánh phục vụ của Ngân
hàng nông nghiệp & phất triển nông thôn Việt Nam là một công cụ cạnh tranh
rất hiệu quả với các ngân hàng thương mại trong nước.
� Cạnh tranh bằng hoạt động xúc tiến quảng cáo
Lê Quang Dũng QTKD Quốc tế
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Quảng cáo và xúc tiến hỗn hợp là những hoạt động marketing nhằm
quảng bá, giúp người tiêu dùng nhận dạng, kích cầu nơi người tiêu dùng,
quảng bá sâu rộng về sản phẩm hay hình ảnh doanh nghiệp cho khách hàng

khi cùng một mức chi phí tiêu dùng hoặc ít hơn mà có được sản phẩm tốt hơn,
rẻ hơn, được phục vụ chu đáo và tận tình hơn,
Cũng nhờ cạnh tranh mà cơ hội cho người tiêu dùng xuất hiện nhiều
hơn, người tiêu dùng có nhiều mặt hàng đồng dạng ở nhiều mức giá với nhiều
phương pháp phục vụ, Chỉ trong môi trường tự do cạnh tranh thì khách
hàng mới có được vị thế để có thể ngã giá, mặc cả với nhà cung cấp.
C.mac từng viết rằng: ‘‘Cạnh tranh là phương thuốc duy nhất dùng để
chống lại những nhà tư sản, một phương thuốc mà các nhà chính trị học cho
là có ảnh hưởng tốt tới cả việc nâng cao tiền công lẫn giảm giá hàng hóa, có
lợi cho công chúng tiêu dùng’’. Vì vậy, việc duy trì một môi trường cạnh
tranh đúng đắn là việc cần thiết để bảo vệ người tiêu dùng.
Đối với doanh nghiệp:
Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải vận động trong một môi trường
năng động, nơi mà họ không là duy nhất, nơi mà tính chất ‘‘động’’ của thị
trường hoàn toàn nổi bật, một thị trường ngập tràn những thách thức và cũng
không thiếu những cơ hội kinh doanh. Trong môi trường này, đòi hỏi doanh
nghiệp phải trả lời những câu hỏi lớn là: sản xuất kinh doanh cái gì? ở đâu?
nhưng quan trọng nhất là như thế nào?
Khi phải đối diện với nhau trong cuộc chiến sinh tồn, quy luật chọn lọc
tự nhiên lại phát huy tác động. Nó khiến doanh nghiệp tìm mọi phương pháp
nhằm cải tiến đổi mới nội tại, tận dụng hiệu quả mọi nguồn lực có thể huy
động từ bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp, chủ động hội nhập và
tìm kiếm đối tác cũng như khách hàng. Như vậy, cạnh tranh khiến doanh
nghiệp đưa chi phí sản xuât dần tiệm cận về mức tối ưu hóa, doanh nghiệp
Lê Quang Dũng QTKD Quốc tế
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
buộc phải chủ động sáng tạo trong việc thích ứng và phát triển với sự khắc
nghiệt của thị trường.
Đối với nền kinh tế:

sinh môi trường, nông nghiệp, Hơn nữa cũng vì lợi nhuận mà những nguồn
tài nguyên thiên nhiên bị khai thác tối đa có thể, đôi lúc còn là sự bừa bãi dẫn
tới ngày một cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm, tạo ra những gánh nặng lên môi
sinh và xã hội. Một luận điểm nữa có thể đề cập trong cạnh tranh là những tác
động tiêu cực do khủng hoảng, lạm phát, thất nghiệp đối với nền kinh tế và
nền tảng xã hội.
Tóm lại, cạnh tranh là sự thống nhất giữa hai mặt đối lập: những tác
động tích cực và những tác động tiêu cực, cạnh tranh vừa là động lực phát
triển vừa là xu hướng đãn tới độc quyền, tuy nhiên những tích cực mà nó
mang lại vẫn là chủ yếu.
1.1.3. Một số lý thuyết nghiên cứu về cạnh tranh trong kinh tế:
� Lý thuyế cạnh tranh của trường phái cổ điển:
Lý thuyết này ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của nền sản
xuất hàng hóa, nhưng phải tới tận cuối thế kỷ XVIII cạnh tranh mới được coi
là một hiện tượng kinh tế, mới được xem xét và phân tích .
Là một đại diện tiêu biểu cho những nhà kinh tế học của giai cấp tư sản
công nghiệp, Adam Smith là người dày công nghiên cứu và cho ra đời lý
thuyết kinh tế: ‘‘bàn tay vô hình’’ với chủ trương tự do cạnh tranh. Theo ông,
chính phủ không cần bất cứ một tác động, điều chỉnh nào lên nền kinh tế mà
nên để nó tự do vận động. Khi đó cạnh tranh có thể tự cơ cấu phối hợp các
chủ thể kinh tế một cách nhịp nhàng, tạo ra những lợi ích cho xã hội. Cạnh
tranh tự nó sẽ điều tiết quan hệ giữa cung và cầu để sản xuất xã hội thích ứng
với nhu cầu phát sinh trong xã hội. Ông chỉ ra rằng: ‘‘trong điều kiện cạnh
Lê Quang Dũng QTKD Quốc tế
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tranh, do có nhiều người cùng cung ứng sản phẩm nên họ không những phải
thường xuyên theo dõi, chú ý sự biến động ngẫu nhiên của tình hình cầu thị
trường mà còn phải thường xuyên chú ý theo dõi tình hình cạnh tranh hoặc
những biến động trong tương quan cạnh tranh nhiều hơn. Thường xuyên hơn

và J. Robinson (người Anh) đã nghiên cứu tách riêng hai thái cực của cạnh
tranh độc quyền thuần túy và cạnh tranh hoàn hảo. Các ông xây dựng nên mô
hình cạnh tranh không hoàn hảo hay gọi là cạnh tranh mang tính độc quyền là
phạm trù thứ ba nằm xen giữa hai thái cực độc quyền và cạnh tranh hoàn hảo.
Cả hai tập trung nghiên cứu vấn đề độc quyền nhóm và bổ sung những
hình thức cạnh tranh không thông qua giá như:
- Cạnh tranh thông qua mạng lưới kênh phân phối. (sử dụng ưu thế về
khả năng tiếp cận khách hàng để bán sản phẩm, chiếm lĩnh thị trường ở những
phân khúc mà đối thủ không có khả năng phục vụ do hạn chế về mặt phân
phối sản phẩm).
- Cạnh tranh thông qua xúc tiến quảng cáo. (sử dụng những chiến lược ,
những công cụ xúc tiến quảng cáo để đánh thức, định hướng tiêu dùng cho
khách hàng, biến những khách hàng tiềm năng thành khách hàng thường
xuyên của doanh nghiệp).
- Cạnh tranh thông qua dịch vụ chăm sóc khách hàng. (tận dụng những
ưu việt trong dịch vụ: trước, trong và sau bán hàng, tạo ra gói sản phẩm phục
vụ tốt nhất nhu cầu của khách hàng với phương chấm: nhanh, trọn gói, tiện
dụng,…
Lý thuyến này có thể lựa chọn làm nền tảng giúp cho các doanh nghiệp
xây dựng và phát triển các chiến lược Marketing để gia tăng vị thế cạnh tranh
trên thị trường.
� Lý thuyết cạnh tranh hiệu quả:
Lê Quang Dũng QTKD Quốc tế
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Cạnh tranh hiệu quả là lý thuyết cạnh tranh hình thành vào những năm
40 của thế kỷ XX, và được xây dựng dựa trên luận điểm: ‘‘những nhân tố
không hoàn hảo trên thị trường có thể sửa chữa được bằng những nhân tố
không hoàn hảo khác’’ của nhà kinh tế học người Mỹ: John Maurice. Tiếp
theo là những quan điểm phát triển lý thuyết cạnh tranh hoàn hảo của nhà

phát triển kinh tế (OECD) đã có một số định nghĩa cho khái niệm cạnh tranh
ở một trạng thái tổng hợp của những cấp độ khác nhau như: doanh nghiệp,
ngành và quốc gia như sau.
‘‘Sức cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành hay các quốc
gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện
cạnh tranh quốc tế.
� Năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh (trong tiếng Nga: Cancurentia; Pháp: Capactié de
concurrence; Anh: Competitive Power) là khả năng giành được thị phần lớn
trong cuộc chiến với các đối thủ canh tranh trên thị trường bao hàm cả việc
tìm kiếm được những mảng thị trường mới và cả việc chiếm lĩnh (là chủ yếu)
một phần hay toàn bộ thị phần tương đối của đối thủ. (Theo: Từ điển thuật
ngữ kinh tế học, 2001, NXB Từ điển bách khoa Hà Nội, tranh 349)
Định nghĩa này là sự tổng hợp của bốn thuật ngữ đề cập về cạnh tranh
hiện nay đang được sử dụng tại Việt Nam: Năng lực cạnh tranh, Sức cạnh
tranh, Khả năng cạnh tranh và Tính cạnh tranh.
1.2.2. Các cấp độ của năng lực cạnh tranh:
Năng lực cạnh tranh có thể chia ra thành bốn cấp độ:
� Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia
� Năng lực cạnh tranh cấp độ ngành
� Năng lực cạnh tranh cấp độ doanh nghiệp
� Năng lực cạnh tranh cấp độ sản phẩm, hàng hóa
Lê Quang Dũng QTKD Quốc tế
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sự phân loại bốn cấp độ cạnh tranh chỉ là một liệu pháp để phân tích
mối tương quan mật thiết, phụ thuộc lẫn nhau của chúng, do đó: khi xem xét,
đánh giá và đề ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp nói chung cần thiết phải đặt nó trong mối tương quan chung giữa các
cấp độ năng lực cạnh tranh nêu trên. Một mặt, năng lực cạnh tranh của các

� Vai trò của chính phủ: trong điều tiết và quản lý kinh tế vĩ mô, mức
độ can thiệp vào nền kinh tế.
� Tài chính ngân hàng.
� Công nghệ.
� Cơ sở hạ tầng.
� Hệ thống quản lý và chất lượng quản lý nói chung.
� Lao động: số lượng lao động, chất lượng lao động, giá thành lao
động, những quy định về quản lý lao động, tính linh hoạt của thị trường lao
động.
� Thể chế pháp lý, hiệu lực của pháp luật, tính hoàn thiện và công
bằng, trong hệ thống lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Tính từ năm 2000, WEF điều chỉnh lại các tiêu chí đánh giá năng lực
cạnh tranh cấp quốc gia, cụ thể gộp lại thành ba nhóm lớn để đánh giá:
� Sáng tạo kinh tế, khoa học công nghệ.
� Tài chính.
� Quốc tế hóa.
Trong đó trọng số của sáng tạo kinh tế, khoa học công nghệ đã tăng
mạnh từ 1/9 lên 1/3. Đối với Việt Nam, WEF đánh giá năng lực hội nhập,
cạnh tranh là chưa mạnh, trong xu thế quốc tế hóa và toàn cầu hóa.
* Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa:
Một sản phẩm, hàng hóa được coi là có năng lực cạnh tranh cao hơn đối
thủ cạnh tranh nếu nó đáp ứng tốt hơn các tiêu chí về: chất lượng, giá cả, tính
Lê Quang Dũng QTKD Quốc tế
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status