Nghiên cứu đề xuất phương pháp tăng hiệu năng cho các ứng dụng multicast trong mạng mesh không dây - Pdf 25


i

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
ĐỖ THỊ MINH VIỆT
NGHIÊN CUU DE XUAT PHUONG PHÁP
TĂNG HIỆU NĂNG CHO CÁC ỨNG DỤNG MULTICAST
TRONG MẠNG MESH KHÔNG DÂY

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT PHƯƠNG PHÁP
TĂNG HIỆU NĂNG CHO CÁC ỨNG DỤNG MULTICAST
TRONG MẠNG MESH KHÔNG DÂY
Ngành: Công nghệ thông tin
Mã số: 1.01.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN HẢI CHÂU
2.2.3 Phương pháp định tuyến “Chuyển tiếp đường-ngược” 14
2.2.4 Phương pháp cây Steiner 15
2.2.5 Phương pháp cây chia sẻ (Shared trees) 15
2.2.6 Phương pháp cây mỗi nguồn (Per-source tree) 16
v
CHƯƠNG 3. THIẾT KẾ LIÊN TẦNG VÀ MÃ MẠNG TUYẾN TÍNH 17
3.1 Các phương pháp thiết kế liên tầng 17
3.1.1 Tạo các giao diện mới 17
3.1.2 Trộn các tầng kề nhau 19
3.1.3 Thiết kế móc nối mà không cần giao diện mới 19
3.1.4 Xác định theo chiều dọc thông qua các tầng 19
3.2 Các đề xuất cài đặt thiết kế liên tầng 20
3.2.1 Truyền thông trực tiếp giữa các tầng 21
3.2.2 Một cơ sở dữ liệu chia sẻ giữa các tầng 21
3.2.3 Các trừu tượng hoàn toàn mới 21
3.3 Các vấn đề của thiết kế liên tầng 21
3.4 Mã mạng tuyến tính 22
3.4.1 Các khái niệm cơ bản 23
3.4.2 Đạt được cận max-flow thông qua một generic LCM 26
3.4.3 Lược đồ truyền dữ liệu liên quan tới một LCM 28
3.4.4 Xây dựng một generic LCM trên một mạng truyền thông acyclic 32

CHƯƠNG 4. ĐỀ XUẤT PHƯƠNG PHÁP MỚI TĂNG HIỆU NĂNG CHO CÁC ỨNG
DỤNG MULTICAST 35
4.1 Mã mạng tuyến tính ngẫu nhiên 35
4.1.1 Định dạng gói tin 36
4.1.2 Mô hình buffer 39
vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1: PDR với số các node nhận từ 2 đến 15 (khi số node gửi là 1) 51
Bảng 2: PDR với số các node nhận từ 2 đến 15 (khi số node gửi là 2) 51
viii
BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT
Từ viết tắt
Từ tiếng Anh
Giải thích
1
WMN
Wireless Mesh Network
Mạng mesh không dây
2
WLAN
Wireless Local Area
Network
Mạng cục bộ không dây
3
WMAN
Wireless Wide Area
Network

Distance Vector Routing
Tên phương pháp định tuyến
11
DSDV
Destination-Sequenced
Distance Vector
Tên phương pháp định tuyến
12
MAODV
Multicast AODV
Tên phương pháp định tuyến
13
DSR
Dynamic Source Routing
Tên phương pháp định tuyến
16
PDR
Packet Delivery Ratio
Tỉ lệ phân phát gói tin
17
RP
Rendezvous Point
Điểm giao nhau

ix
MỞ ĐẦU
Mạng mesh không dây là mạng đa chặng của các platform router không dây.
Các router không dây thường cố định nhưng các client và một số router có thể di động.
Mạng mesh không dây được coi là một giải pháp thay thế có giá thành thấp cho các
mạng LAN không dây truyền thống vì không cần triển khai bất cứ một cơ sở hạ tầng

khách không dây có thể lên tới hơn 1km), nhưng dịch vụ khá đắt và tốc độ dữ liệu
thấp. Ngay cả mạng tế bào thế hệ thứ ba (3G) cũng chỉ cung cấp tốc độ dữ liệu lớn
nhất là 2Mbps. Mạng WLAN cung cấp tốc độ dữ liệu cao hơn (khoảng 50Mbps cho
IEEE 802.11a và 802.11g) nhưng chúng lại có độ phủ hạn chế. Để tăng độ bao phủ của
WLAN cần có các điểm truy cập đa kết nối tới một backbone có dây (sự lắp đạt này
rất phức tạp và đắt tiền). Các mạng đô thị WMAN (ví dụ gia đình các chuẩn IEEE
802.16) đã khắc phục nhược điểm này, chúng cung cấp tốc độ dữ liệu cao với chất
lượng dịch vụ được đảm bảo cho một số lượng lớn khách hàng (lên tới hàng chục dặm
từ trạm cơ sở). Tuy nhiên, mạng WMAN có nhược điểm là thiếu sự hỗ trợ cho người
dùng di động và yêu cầu Line of sight (LOS): nếu một khách hàng không có LOS rõ
ràng tới trạm cơ sở WMAN, họ có thể không nhận được dịch vụ. Ở các nơi có mật độ
các vật cản cao (nhiều nhà cao tầng hay cây cối), hơn một nửa các khách hàng có thể
không được phục vụ vì yêu cầu LOS. Hơn nữa, các trạm cơ sở WMAN thường đắt và
phức tạp.
Các mạng mesh không dây (WMN – Wireless Mesh Networks) [12] [21] là
một giải pháp cho các vấn đề của các mạng trên. Chúng có thể cung cấp các dịch vụ
với giá thành rẻ, tốc độ dữ liệu cao, độ phủ rộng cho cả các khách hàng cố định và di
động. Mạng WMN là một mạng multihop, nó có ưu điểm là phát triển dễ và nhanh, giá
thành cài đặt và bảo trì thấp, mềm dẻo, khả năng mở rộng về kích cỡ và mật độ cao.
Trong việc truyền thông của mạng máy tính có ba khái niệm: unicast,
multicast, broadcast. Unicast là sự truyền dữ liệu từ một nguồn tới một đích. Multicast
là sự truyền dữ liệu từ một node tới nhiều node đích. Broadcast là sự truyền dữ liệu từ
một node tới tất cả các node khác trong mạng. 2
Truyền thông multicast ngày càng quan trọng và được sử dụng trong rất nhiều
ứng dụng hữu ích bao gồm: phân phát nội dung (như các mạng phân tán nội dung, các
mạng ngang hàng P2P), các truyền thông tương tác (như trò chơi trực tuyến), gửi
thông điệp trực tiếp và hội thảo multimedia.


3
xuất trong [19] là một phương pháp multicast dựa trên-RP kết hợp dự trữ tài nguyên và
điều khiển truy cập. Một lược đồ quảng bá tin cậy mức liên kết dựa trên cây mỗi-
nguồn được đưa ra trong [20], lược đồ này có khả năng cung cấp các dịch vụ quảng bá
tin cậy tới tất cả các thành viên và mềm dẻo hơn cây khung và hiệu quả hơn flooding.
Trong những năm gần đây, rất nhiều kỹ thuật mới được đề xuất nhằm giải
quyết bài toán này. Trong đó đáng chú ý là hai kỹ thuật: kỹ thuật tối ưu hóa liên tầng
và kỹ thuật mã mạng [6][7].
Ahswede [1] và cộng sự đã chỉ ra rằng sử dụng kỹ thuật mã mạng có thể đạt
được thông lượng tối ưu cho multicast trong khi các kỹ thuật định tuyến truyền thống
không đạt được giá trị tối ưu này. Li và cộng sự [23] đã chỉ ra rằng sử dụng mã mạng
tuyến tính với các trường hữu hạn là đủ để đạt được giá trị tối ưu trong truyền thông
multicast. Koetter và cộng sự [3] đã mô tả một framework đại số để xây dựng một giải
pháp mã mạng. Ho và cộng sự [22] đã đề xuất khái niệm mã mạng ngẫu nhiên để cài
đặt mã mạng trong thực tế. Katti và cộng sự [9], Deb [10], và Wu [11] đã chỉ ra rằng
mã mạng cung cấp các ích lợi so với các phương pháp truyền thống khác. Karande
[12] chỉ ra sự ích lợi của việc tích hợp các giao thức liên tầng và sự tráo đổi thông tin
dựa trên mã mạng cho việc truyền video không dây.
Yuan [16] đã đề xuất một phương pháp tối ưu hóa liên tầng nối định tuyến và
điều khiển năng lượng trong truyền thông multicast. Kỹ thuật chính sử dụng trong bài
báo là phương pháp phân tích đối ngẫu cho các bài toán tối ưu hóa lồi. Phương pháp
này chứng minh sự tối ưu bằng lý thuyết và chưa có sự cài đặt mô phỏng trên một bộ
mô phỏng mạng đầy đủ.
Luigi [17] đề xuất một phương pháp liên tầng kinh nghiệm nối định tuyến và
điều khiển năng lượng trong mạng mesh không dây. Trong bài báo, Luigi không thực
hiện việc tối ưu hóa năng lượng và định tuyến một lúc mà chia thành hai thuật toán
nhỏ hơn. Đó là thuật toán tối ưu hóa năng lượng cục bộ và thuật toán định tuyến sử
dụng cho các truyền thông unicast.
1.3 Các vấn đề cơ bản về thiết kế liên tầng và kỹ thuật mã mạng

Các mạng đa chặng có thêm các thách thức cho việc thiết kế liên tầng. Trong
khi các mạng tế bào thường tập trung các hoạt động trên một trạm cơ sở đơn, thì trong
mạng đa chặng sự ảnh hưởng nhiễu của các truyền thông ở các node khác nhau không
thể bỏ qua. Hơn nữa, còn có các nhiễu do các gói tin có chức năng định tuyến của các
giao thức định tuyến. Cuối cùng, hiệu năng thường chỉ được đo chỉ đối với các traffic
cuối-tới-cuối, vì vậy làm phức tạp hơn cho việc phân tích.
Ưu điểm của thiết kế liên tầng
Thiết kế liên tầng có thể tận dụng các tương tác giữa các tầng, đẩy mạnh việc
biến đổi ở tất cả các tầng cho thích nghi dựa trên thông tin tráo đổi giữa các tầng. 5
Phương pháp này thích hợp với các mạng có môi trường thay đổi nhanh (như mạng
không dây, đặc biệt là mạng mesh).
Nhược điểm của thiết kế liên tầng
Thiết kế liên tầng có nhược điểm là khó để mô tả tương tác giữa các giao thức
ở các tầng khác nhau và việc nối tối ưu giữa các tầng có thể dẫn tới các thuật toán
phức tạp. Ngoài ra việc cài đặt thiết kế liên tầng nếu không cẩn thận sẽ dẫn tới các
tương tác không lường trước và ảnh hưởng tới hiệu năng của toàn bộ hệ thống, thậm
chí có thể làm tổn hại đến sự phát triển của mạng không dây về lâu dài.
Hiểu và khai thác các đặc trưng của tương tác giữa các tầng khác nhau là vấn
đề cốt lõi của thiết kế liên tầng.
1.3.2 Khái niệm mã mạng
Ahlswede là người đầu tiên đưa ra khái niệm mã mạng vào năm 2000 [1].
Theo cách truyền thống, sự mã hóa chỉ được sử dụng ở các node nguồn và các node
trung gian chỉ có nhiệm vụ là lưu trữ và chuyển tiếp các gói tin từ node nguồn. Tuy
nhiên, trong kỹ thuật mã mạng, các node trung gian không những có chức năng lưu trữ
và chuyển tiếp mà chúng còn có chức năng xử lý thông tin. Chúng thực hiện việc tổ
hợp các gói tin đến trước khi chuyển đi. Ahlswede [1] đã chỉ ra rằng sử dụng mã mạng
có thể đạt được thông lượng tối ưu cho mạng trong khi các kỹ thuật routing truyền

(robustness) đối với sự thay đổi của mạng.)
Nhược điểm của mã mạng
 Việc mất một gói tin có thể làm cho các node nhận không khôi phục lại
được nhiều gói tin gốc
 Có một độ trễ nhất định trong việc giải mã các gói tin ban đầu bởi vì chỉ
khi tất cả các gói tin cần thiết đến node nhận thì node nhận mới có khả
năng giải mã
 Cần sự đồng bộ hóa trong mạng thời gian thực 7
 Cần một số các hiểu biết tập trung về topo mạng
 Có thể thiết kế thuật toán mã hóa chịu được lỗi, nhưng bộ giải mã phải biết
các mẫu bị lỗi (failure pattern).
1.4 Đóng góp của luận văn
Tối ưu hóa liên-tầng và kỹ thuật mã mạng đã nhận được khá nhiều sự quan
tâm trong lĩnh vực mạng không dây trong suốt mấy năm gần đây. Một số nhà nghiên
cứu đã áp dụng các kỹ thuật này để giải quyết bài toán multicast trong mạng không
dây. Tuy nhiên hầu hết các phương pháp đã được đề xuất đều không hiệu quả trong
mạng mesh không dây. Chính vì vậy việc nghiên cứu về việc tối ưu hóa liên-tầng và
mã mạng cho mạng mesh không dây là vấn đề có tính thực tiễn.
Trong luận văn, tác giả đề xuất một phương pháp mới là sự kết hợp của kỹ
thuật thiết kế liên tầng và mã mạng nhằm tăng thông lượng cho các ứng dụng multicast
trong mạng mesh không dây. Việc kết hợp nhằm nâng cao những ưu điểm và giảm bớt
nhược điểm của cả hai phương pháp thiết kế liên tầng và mã mạng. Nhược điểm của
thiết kế liên tầng là có thể dẫn tới các thuật toán, cách cài đặt phức tạp. Mã mạng có ưu
điểm là thiết kế và cài đặt đơn giản. Nhược điểm của mã mạng là sự mất một gói tin có
thể ảnh hưởng tới rất nhiều gói tin khác. Nếu chỉ sử dụng thông tin ở các tầng bên dưới
thì có thể không xác định được những thông tin cần gửi lại, trong khi đó phương pháp
liên tầng có thể làm được điều này. Như vậy, phương pháp kết hợp có thiết kế, cài đặt

Các mạng mesh không dây là tập hợp các node cố định và di động kết nối
thông qua các liên kết không dây để tạo nên một mạng không dây đa chặng
(multihop).
Trong khi các mạng không dây truyền thống như WLAN, WMAN, mạng tế
bào cần có một thiết bị trung tâm (điểm truy cập hoặc trạm cơ sở) cho truyền thông
không dây, mạng WMN không cần một thiết bị trung tâm như vậy. Trong mạng
WMN, mỗi node đóng vai trò là máy khách và router. Nó chuyển tiếp các gói tin tới
các node khác khi node nguồn và node đích cách nhau nhiều hơn một chặng.
Mạng WMN có khả năng tự-cấu hình và tự-tổ chức. Khi một node tham gia
vào mạng hay dời đi khỏi mạng, mạng có khả năng cấu hình lại để thích nghi với
những thay đổi trong mạng. Thiết lập mạng là tự động và trong suốt đối với người
dùng. Khi thêm một node vào mạng, node này sẽ tự động tìm các router không dây
khác và đường tới mạng có dây. Các router không dây trong mạng cũng tự cấu hình lại
cho phù hợp. Vì lý do này mà mạng WMN có thể dễ dàng mở rộng.
2.1.1 Kiến trúc của mạng WMN
Mạng WMN bao gồm hai loại node: mesh router và mesh client.
Mesh router có chức năng định tuyến các gói tin trong mạng. Chúng có một số
giao diện không dây có thể có công nghệ giống nhau hoặc khác nhau. Hơn nữa chúng
có chức năng của gate/bridge làm cho mạng có khả năng tích hợp với các mạng không
dây đã có như mạng tế bào, Wi-Fi, Wi-MAX, mạng cảm biến (sensor network).
Mesh client là các thiết bị không dây như laptop, máy tính để bàn, PDA,
Pocket PC, điện thoại cầm tay được trang bị một card giao diện mạng không dây
(NIC) và có thể kết nối trực tiếp tới các mesh router. Các máy khách không có NIC
không dây có thể truy cập vào mạng bằng cách kết nối với các mesh router thông qua
Ethernet. 10
Có 3 loại kiến trúc mạng WMN: mạng infrastructure mesh, mạng client mesh
và mạng mesh lai.

băng thông rộng cần thiết (dây cáp vô tuyến hay dây cáp điện thoại chất lượng tốt) để
kết nối Internet. Hơn nữa việc cài đặt các cơ sở hạ tầng yêu cầu (đặc biệt là việc cài đặt 12
các dây cáp mới) là cực kỳ đắt đặc biệt là đối với các nhà cung cấp dịch vụ Internet
ISP.
Các mạng WMN cung cấp công nghệ truy cập Internet băng thông rộng với rất
nhiều lợi ích:
 Đầu tư ban đầu thấp: Vì không cần cài đặt cáp, kinh phí đầu tư ban đầu
giảm đi đáng kể. Một mạng WMN cơ bản cung cấp một vùng phủ tối thiểu
có thể được sử dụng để phục vụ các khách hàng đầu tiên; khi số khách
hàng tăng lên, mạng có thể được nâng cấp lên. Ngoài ra, các sóng radio
802.11 đã trở nên khá rẻ nhưng các sóng radio vẫn là một trong những
phần đắt nhất của một mạng. Trong khi đó, mỗi node trong mạng mesh
hoạt động vừa như một client vừa như một repeater, như vậy sẽ tiết kiệm
được số các radio cần thiết.
 Độ phủ khách hàng cao: Vì khả năng định tuyến đa chặng của mạng,
client không cần phải kết nối trực tiếp với một trạm cơ sở đơn miễn là một
client có kết nối tới bất kỳ một client khác, nó có thể truy cập tới Internet.
Người ta đã chỉ ra rằng, đặc biệt đối với các trường hợp có vật cản lớn (tòa
nhà cao tầng hay cây cối), một mạng WMN có thể tăng độ phủ của mạng
lên đáng kể so với một giải pháp điểm-tới-nhiều điểm (ví dụ IEEE 802.16).
 Dễ dàng và đơn giản: Các router được cấu hình tự động, nên việc cài đặt
là đơn giản. Thêm một khách hàng mới tới vào một mạng WMN đã tồn tại
có thể chỉ mất vài giờ đồng hồ thay vì vài tháng khi cài đặt các dây mới
cho cáp hay DSL.
 Tin cậy: Đặc trưng của topo mesh và định tuyến adhoc làm cho mạng có
khả năng đối phó được với những thay đổi của điều kiện môi trường và lỗi
xảy ra ở các node. Đặc biệt nếu đa gateway được sử dụng, tất cả các điểm-

Nhược điểm của thuật toán trút đổ:
 Thuật toán này rất lãng phí băng thông. Trong khi một thông điệp chỉ có
một đích đến thì nó được gửi tới tất cả các host. Điều này làm tăng tải cực
đại của mạng.
 Các thông điệp bị nhân bản trong mạng cũng làm tăng tải lên băng thông
mạng cũng như tăng độ phức tạp xử lý trong việc.
2.2.2 Phương pháp định tuyến “Cây khung”
Một giải pháp hiệu quả hơn trút đổ là kỹ thuật “cây khung”. Cây khung là cây
nối tất cả các đỉnh với nhau (các đỉnh bao gồm các router và các host). Cây khung
được xây dựng ở thời điểm ban đầu khi khởi tạo mạng. Đầu tiên chọn ra một router 14
“chính”, router này trở thành trung tâm của mạng, sau đó bởi việc tạo ra các liên kết
dựa trên đường ngắn nhất giữa các router khác và trung tâm.
Khi cây khung đã được xây dựng, việc truyền các gói tin multicast trở nên
đơn giản. Khi nhận được một gói tin multicast, router lập tức chuyển tiếp tới tất cả các
liên kết đi ra mà thuộc cây khung. Vì cây khung là không lặp, nên đảm bảo rằng gói
tin sẽ không bị lặp, và gói tin sẽ tới tất cả các đích.
Kỹ thuật cây khung có ưu điểm là khả năng chịu lỗi cao và không yêu cầu
nhiều bộ nhớ: chỉ cần các biến trên mỗi giao diện mạng để xác định rằng nó “on” (bật)
hay “off” (tắt) cây khung. Nhưng kỹ thuật này về cơ bản có 2 nhược điểm là : không
quan tâm tới các thành viên của nhóm và tập trung tất cả các traffic vào một số các
đường đi nhất định.
2.2.3 Phương pháp định tuyến “Chuyển tiếp đường-ngược”
Kỹ thuật RPF (Reverse Path Forwarding) là một kỹ thuật được sử dụng trong
các router với mục đích là đảm bảo các gói tin multicast không bị chuyển tiếp lặp lại
trong định tuyến multicast hoặc ngăn cản việc spoof (lừa gạt) địa chỉ IP trong định
tuyến unicast. Trong định tuyến multicast, việc quyết định chuyển tiếp gói tin dựa vào
địa chỉ nguồn chứ không dựa vào địa chỉ đích như trong định tuyến unicast. Nó thực

V, hãy tìm một cây có trọng số nhỏ nhất bao gồm
tất cả các đỉnh trong S. Các cây Steiner làm giảm thiểu số các liên kết cần thiết để kết
nối các node của đồ thị. Kỹ thuật này có ưu điểm khi chúng ta xem xét tổng số lượng
tài nguyên được sử dụng bởi một số lượng lớn các nhóm, sử dụng ít tài nguyên hơn
thậm chí làm giảm nguy cơ tắc nghẽn. Tuy nhiên, thuật toán này lại tập trung vào cùng
một số liên kết của tất cả các nguồn thuộc sở hữu của cùng một nhóm. Tuy nhiên rất
khó để tính toán cây này. Có thể nhận thấy đây là một biến thể của bài toán “người bán
hàng” kinh điển và nó là bài toán khó NP. Hơn nữa cây Steiner không ổn định, topo
của cây biến đổi theo các node thành viên của nhóm.
2.2.5 Phương pháp cây chia sẻ (Shared trees)
Cây chia sẻ là cây đơn cho tất cả các nguồn, có nghĩa là tất cả các nguồn đều
có chung một cây multicast. Ví dụ của phương pháp định tuyến sử dụng kỹ thuật cây
chia sẻ là phương pháp CBT, PIM-SM. Kỹ thuật này sẽ không tạo ra đường ngắn nhất
từ nguồn tới mỗi đích đơn. Ngoài ra tất cả các traffic tập trung trên cùng một cây, điều
này có thể dẫn tới tắc nghẽn mạng hoặc nguy cơ lỗi là cao.
Phương pháp này xây dựng cây như sau. Đầu tiên chọn một “lõi”, nghĩa là
chọn một điểm cố định trong mạng làm trung tâm cho nhóm multicast. Các node
nguồn gửi các gói tin khởi tạo cho node trung tâm. Các node nhận gửi các yêu cầu
“tham gia vào nhóm” cho node trung tâm. Những yêu cầu này sẽ được xử lý bởi tất cả
các router trung gian, các router này sẽ đánh dấu giao diện trên đó chúng nhận được
yêu cầu là thuộc cây. Các router cần giữ một thông tin trạng thái của từng nhóm, liệt
kê tất cả các giao diện thuộc cây. Cây này là giống nhau cho tất cả các nguồn, đây là 16
một ưu điểm so với phương pháp RPF vì nó chỉ cần thông tin trạng thái của mỗi nhóm
thay vì thông tin trạng thái của mỗi cặp nhóm-nguồn. Tuy nhiên, phương pháp này có
nhược điểm là đường đi giữa một số nguồn và một số node nhận có thể không tối ưu.
Ngoài ra phương pháp này cũng có sự tập trung luồng dữ liệu. Luồng dữ liệu từ tất cả
các nguồn của một nhóm đã cho sẽ đi qua cùng một tập các liên kết.

 Downward: từ các tầng cao hơn tới một tầng thấp hơn
 Back and forth: lặp lại luồng dữ liệu giữa hai tầng

Upward Information Flow (Luồng thông tin đi lên)
Một giao thức tầng cao hơn yêu cầu một số thông tin từ các tầng thấp hơn tại
thời gian chạy dẫn tới việc tạo ra giao diện mới từ các tầng thấp hơn tới tầng cao hơn
như chỉ ra trên hình 1a. Ví dụ, nếu đường cuối-tới-cuối TCP chứa một liên kết không
dây, các lỗi trên liên kết không dây có thể đánh lừa bên gửi TCP về độ tắc nghẽn của
mạng và dẫn tới giảm hiệu năng của hệ thống. Tạo các giao diện từ các tầng thấp hơn
tới tầng vận chuyển làm cho các thông tin nhận được chính xác hơn trong những
trường hợp như vậy. Ví dụ, thông báo tình trạng tắc nghẽn từ router tới tầng vận

Trích đoạn Xác định theo chiều dọc thông qua các tầng Mã mạng tuyến tính Đạt được cận max-flow thông qua một generic LCM Lược đồ truyền dữ liệu liên quan tới một LCM Xây dựng một generic LCM trên một mạng truyền thông acyclic
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status