Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Hệ thống các Ngân hàng thương mại nước ta băt đầu đổi mới theo cơ chế
thị trường từ năm 1986, theo chủ trương chung của Đảng, Nhà nước. Sau 20
năm đổi mới, tình hình chung của các Ngân hàng vẫn là nguồn vốn chưa lớn,
các nghiệp vụ kinh doanh chưa đa dạng. Chủ yếu vẫn là hoạt động tín dụng. Đây
là hoạt động sinh lời chủ yếu của các Ngân hàng thương mại. Trong khi đó, hệ
thống luật pháp chưa hoàn chỉnh đã ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động của các
Ngân hàng. Rủi ro là bạn đồng hành của các Ngân hàng thương mại. Vì vậy yêu
cầu đặt ra là làm thế nào để đảm bảo an toàn vốn cho Ngân hàng và hạn chế rủi
ro đối với hoạt động tín dụng để mang lại hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng
là tối ưu nhất.
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Chi nhánh Nam Hà Nội
là một chi nhánh của NHNN&PTNT Việt Nam đóng trên địa bàn Thành phố Hà
Nội. Với đặc thù riêng của hoạt động kinh doanh ngân hàng chủ yếu là hoạt
động tín dụng, thu lãi từ nghiệp vụ tín dụng chiếm hơn 90% tổng thu nhập của
ngân hàng. Công tác đảm bảo tiền vay của ngân hàng trở thành công tác quan
trọng vì nó ảnh hưởng đến sự an toàn nguồn vốn, an toàn tín dụng của ngân
hàng. Trong khi đó, công tác đảm bảo tiền vay của Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn Chi nhánh Nam Hà nội còn nhiều bất cập. Vì vậy hoàn
thiện công tác đảm bảo tiền vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn Chi nhánh nam Hà Nội trở thành vấn đề cần thiết.
Đó là những lý do để em chọn đề tài: “Giải pháp hoàn thiện công tác bảo
đảm tiền vay tại ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Chi nhánh
Nam Hà Nội” để làm báo cáo chuyên đề thực tập.
Kết cấu chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về công tác bảo đảm tiền vay.
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Chương 2: Thực tế công tác bảo đảm tiền vay tại Ngân hàng nông nghiệp
và phát triển nông thôn chi nhánh Nam Hà Nội.
Cho vay có bảo đảm bằng tài sản là việc cho vay vốn của tổ chức tín dụng
mà theo đó nghĩa vụ của khách hàng vay được cam kết bảo đảm thực hiện bằng
tài sản cầm cố, thế chấp.
Trong trường hợp cho vay có bảo đảm bằng tài sản, công tác đảm bảo tiền
vay được tiến hành đồng thời với tiếp nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng, gồm
các bước sau:
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1.2.1.1 Tiếp nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng
Cán bộ tín dụng tiếp nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng tại phòng tín
dụng của ngân hàng, hoặc tại địa phương nơi ngân hàng có giao dịch với khách
hàng.
1.2.1.2 Xác định đối tượng vay vốn, mục địch vay vốn của khách hàng
Cán bộ tín dụng căn cứ vào lời khai của khách hàng mà xác định xem
khách hàng thuộc đối tượng vay vốn nào. Nếu là khách hàng vay có đảm bảo
bằng tài sản và có mục đích vay vốn thỏa mãn yêu cầu của ngân hàng thì tiến
hành xác định loại tài sản đảm bảo. Để có các thông tin này, cán bộ tín dụng
phải tiến hành hỏi khách hàng các câu hỏi như: vay để làm gì, số tiền vay bao
nhiêu, tài sản đảm bảo là gì.
1.2.1.3 Xác định hình thức đảm bảo
Cán bộ tín dụng phải lấy được thông tin từ khách hàng là dùng tài sản nào
làm đảm bảo, thông qua đó mà xác định là phương thức đảm bảo của khách
hàng là cầm cố,thế chấp hay là bảo lãnh của bên thứ ba.
* Nếu khách hàng đảm bảo tiền vay bằng một trong những tài sản sau:
+ Tiền Việt Nam, ngoại tệ.
+ Máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, hàng tiêu dùng, kim khí quý, đá
quý.
+ Quyền đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, kể cả trong doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
+ Quyền khai thác tài nguyên theo quy định của pháp luật.
sản.
* Cầm cố, thế chấp bằng tài sản của người thứ ba.
Trong trường hợp khách hàng vay vốn mà đảm bảo việc trả nợ là của
người thứ ba thì đó được coi là bảo lãnh của bên thứ ba. Trong trường hợp này
thì người thứ ba cam kết với ngân hàng sẽ thực hiện thay cho bên có nghĩa vụ
nếu khi đến hạn quy định người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ của mình. Trong trường hợp một cá nhân hoặc pháp nhân
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
bảo lãnh cho một hoặc nhiều bên vay vốn cùng một lúc thì tổng số tiền cho vay
bảo lãnh không vượt quá theo quy định của pháp luật. Nếu cá nhân và pháp nhân
bảo lãnh cho một bên vay vốn thì mỗi bên bảo lãnh thực hiện một phần gốc, lãi,
tiền phạt và ký một hợp đồng bảo lãnh độc lập. Trường hợp này, cán bộ tín dụng
phải xác định được bên thứ ba có đủ điều kiện bảo lãnh hay không.
* Trường hợp khách hàng dùng tài sản hình thành từ vốn vay làm tài sản
đảm bảo:
Chi nhánh được quyền lựa chọn áp dụng việc bảo đảm tiền vay bằng tài
sản hình thành từ vốn vay nếu khách hàng vay và tài sản hình thành từ vốn vay
đáp ứng được các điều kiện quy định của việc bảo đảm bằng tài sản hình thành
từ vốn vay. Ngoài ra, Chi nhánh được quyền cho vay có bảo đảm bằng tài sản
hình thành từ vốn vay khi Chính Phủ chỉ định cho vay đối với khách hàng vay
và đối tượng cho vay trong một số trường hợp cụ thể. Đối với đối tượng khách
hàng này, cán bộ tín dụng phải xác định loại tài sản hình thành từ vốn vay có
được phép làm tài sản đảm bảo không.
1.2.1.4 Xác nhận các giấy tờ chứng minh cho tài sản đảm bảo.
Sau khi xác định được các loại tài sản nào nằm trong phạm vi đảm bảo
nào, cán bộ tín dụng tiến hành nhận các giấy tờ chứng minh cho tài sản dùng để
làm tài sản đảm bảo. Đối với các tài sản thế chấp, cán bộ tín dụng tiếp nhận hồ
sơ vay vốn kèm theo giấy tờ chứng minh cho tài sản đó. Đối với tài sản cầm cố,
cán bộ tín dụng cũng cần có các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu hợp pháp,
đó kèm theo các giấy tờ về bảo hiểm. Tài sản đảm bảo phải là tài sản dễ chuyển
nhượng
* Viết báo cáo thẩm định:
Sau khi thẩm định các nội dung trên cán bộ tín dụng viết báo cáo thẩm
định thông báo kết quả đạt được. Báo cáo thẩm định là căn cứ để xác định các
thông tin về tài sản đảm bảo. Thông qua đó mà xác định mức cho vay hợp lí.
Cũng như các thông tin khác về người vay, về độ tín nhiệm, về dự án.
1.2.2 Đối với cho vay bảo đảm bằng uy tín của người vay ( tín chấp)
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Cho vay có bảo đảm bằng uy tín của người vay là việc cho vay vốn của tổ
chức tín dụng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng không được cam kết
bảo đảm bằng tài sản. Hình thức cho vay không có bảo đảm này rất hạn chế, và
chỉ áp dụng đối với một số các trường hợp sau:
- Đơn vị trực tiếp cho vay được quyền chủ động lựa chọn khách hàng đủ
điều kiện để cho vay không có bảo đảm bằng tài sản.
- Đơn vị trực tiếp cho vay được áp dụng cho vay không có bảo đảm bằng
tài sản trong trường hợp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có quy định về cho
vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với khách hàng vay và nhu cầu vay vốn
cụ thể.
Ngân hàng cho vay không được cho vay không có tài sản bảo đảm đối với
các đối tượng:
+ Tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên đang kiểm tra tại tổ chức tín dụng, kết
toán trưởng, thanh tra viên.
+ Doanh nghiệp có một trong những đối tượng là thành viên hội đồng quản
trị, ban kiểm soát, tổng giám đốc, phó tổng giám đốc của tổ chức tín dụng, người
thẩm định xét duyệt cho vay.
+ Bố mẹ, vợ chồng, con của thành viên hội đồng quản trị, ban kiểm soát,
tổng giám đốc, phó tổng giám đốc sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh
nghiệp đó.
nước Việt nam quy định mức cho vay “tín chấp” cho một tổ chức tín dụng trong
từng thời kỳ. Như vậy cán bộ tín dụng căn cứ vào các quy định đó mà tiến hành
cho vay hay không cho vay đối với các đơn vị vay vốn không có tài sản đảm
bảo.
1.2.3 Đối với cho vay theo chỉ định của chính phủ
Cho vay theo chỉ định của Chính phủ là việc các tổ chức tín dụng nhà n-
ước cho vay không có bảo đảm đối với khách hàng vay để thực hiện các dự án
đầu tư thuộc chương trình kinh tế đặc biệt, trọng điểm của nhà nước, chương
trình kinh tế xã hội và đối với một số khách hàng thuộc đối tượng được hưởng
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
các chính sách tín dụng ưu đãi về điều kiện vay vốn theo quy định tại các văn
bản quy phạm pháp luật của Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ.
Trong trường hợp này, khi đến hạn trả nợ mà khách hàng không trả được
nợ thì Chính phủ sẽ xử lý tổn thất cho các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên Chính
phủ chỉ xử lý tổn thất khi người vay không trả được nợ theo các nguyên nhân
sau:
- Do thiên tai hoả hoạn và các biến cố rủi ro khách quan khác.
- Khách hàng vay là tổ chức kinh tế bị giải thể theo quyết định của cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền hoặc bị tuyên bố phá sản mà sau khi xử lý theo quy
định của pháp luật vẫn không trả đủ nợ cho tổ chức tín dụng.
- Nhà nước thay đổi chủ trương, chính sách dẫn đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của khách hàng vay gặp khó khăn và không trả được nợ.
Trường hợp này, cán bộ tín dụng tiến hành cho vay theo chỉ định của
chính phủ. Không cần thực hiện các thủ tục về bảo đảm tiền vay như các trường
hợp khác vì đã có chính phủ đứng ra bảo đảm cho người vay.
1.2.4 Đối với cho vay cá nhân, hộ gia đình nghèo có bảo lãnh bằng tín chấp
của các tổ chức đoàn thể xã hội
Cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn có bảo đảm băng tín chấp của
các tổ chức đoàn thể xã hội là việc các tổ chức cho vay không có bảo đảm bằng
nghiệp, lâm nghiệp, đất ở, đất mà hộ gia đình, cá nhân nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng hợp pháp; đất do Nhà nước giao có thu tiền đối với tổ chức kinh
tế; đất mà tổ chức kinh tế nhượng quyền sử dụng hợp pháp thì giá trị quyền sử
dụng thế chấp, bảo lãnh do chi nhánh NHNo và khách hàng vay, bên bảo lãnh
thoả thuận theo giá đất thực tế chuyển nhượng ở địa phương đó tại thời điểm thế
chấp.
+ Đất do Nhà nước cho hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế thuê mà bên
thuê đã trả tiền thuê đất cho thời gian thuê hoặc cho nhiều năm, thì giá trị quyền
sử dụng đất thế chấp, bảo lãnh gồm tiền đền bù thiệt hại, giải phóng mặt bằng
khi được Nhà nước cho thuê đất (nếu có), tiền thuê đất đã trả cho Nhà nước sau
khi trừ đi tiền thuê đất cho thời gian đã sử dụng.
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
+ Trường hợp thế chấp, bảo lãnh giá trị quyền sử dụng đất mà người thuê
đất được miễn, giảm tiền thuê đất theo quy định của luật pháp, thì giá trị quyền
sử dụng đất được thế chấp, bảo lãnh tính theo giá trị thuê đất trước khi được
miễn, giảm.
1.2.6 Xác định mức cho vay dựa trên tài sản đảm bảo
Sau khi chấp nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng, cán bộ tín dụng tiến
hành xác định mức cho vay đối với khách hàng như sau:
1.2.6.1 Đối với các loại tài sản cầm cố
+ Tài sản cầm cố là giấy tờ có giá:
Mức cho vay tối đa = Số tiền gốc + Lãi chứng từ có giá- Số lãi phải trả
cho ngân hàng trong thời gian xin vay.
+ Tài sản cầm cố do khách hàng vay, bên bảo lãnh giữ, sử dụng hoặc bên
thứ ba giữ:
Mức cho vay tối đa = 50% giá trị tài sản bảo đảm.
+ Tài sản cầm cố do ngân hàng giữ:
Mức cho vay tối đa = 75% giá trị tài sản bảo đảm.
1.2.6.2 Đối với các loại tài sản thế chấp
quyền cho bên thứ ba xử lí tài sản bảo đảm. Bên thứ ba phải là tổ chức có tư
cách pháp nhân và được thực hiện quyền thu hồi nợ hoặc xử lí tài sản bảo đảm
theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp được các đơn vị trực tiếp cho vay
chuyển giao quyền thu hồi nợ, bên thứ ba có quyền thực hiện các biện pháp để
thu hồi nợ hoặc xử lí tài sản bảo đảm như các đơn vị trực tiếp cho vay uỷ quyền.
Xử lí tài sản thì bên thứ ba được xử lí tài sản bảo đảm trong phạm vi được uỷ
quyền.
- Việc xử lí tài sản bảo đảm phải tuân thủ nguyên tắc công khai, thủ tục đơn
giản, thuận tiện, nhanh chóng, bảo đảm quyền, lợi ích của các đơn vị trực tiếp
cho vay và khách hàng và tiết kiệm chi phí.
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Trong trường hợp chủ sở hữu tài sản bảo đảm khởi tố về hành vi phạm tội
không liên quan đến việc vay vốn của các đơn vị trực tiếp cho vay hoặc không
liên quan đến nguồn gốc hình thành tài sản bảo đảm thì tài sản bảo đảm của
người đó không bị kê biên và được xử lí theo quy định tại thông tư
03/2001/TTLT/NHNN–BTD–BCA–BTC–TCĐC (trừ trường hợp được chỉ định
khác).
1.2.8 Giám sát, kiểm tra tài sản bảo đảm
Sau khi nhận tài sản đảm bảo, ngân hàng thường xuyên, định kì kiểm tra,
giám sát việc sử dụng tài sản đảm bảo của khách hàng.
Đối với các tài sản đảm bảo là các tài sản cầm cố, thì việc kiểm tra, giám
sát là hết sức quan trọng và cần thiết. Bởi vì, các tài sản cầm cố thì khách hàng
vẫn tiếp tục sử dụng tài sản đó trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Việc kiểm tra, giám sat, sẽ tránh việc khách hàng sử dụng tài sản sai mục đích
đã cam kết trong hợp đồng cầm cố tài sản. Trong thời gian hợp đồng vay vốn,
ngân hàng thường có các tổ kiểm tra xuống tận nơi khách hàng sản xuất kinh
doanh để kiểm tra tài sản cầm cố.
Đối với các tài sản đảm bảo là các tài sản hình thành từ vốn vay, việc
kiểm tra, giám sát phải được thực hiện ngay từ khi tài sản được mua về. Xem xét
thoáng hơn. Năm 2005, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 16%, tổng mức lưu
chuyển hàng hoá đạt 3.334 tỷ, tăng 7,5%. Cơ cấu kinh tế nói chung cũng như cơ
cấu trong nội bộ từng ngành tiếp tục dịch chuyển theo hướng tích cực, đáp ứng
ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế thị trường nhiều thành phần theo
định hướng XHCN. Kinh tế Nhà nước trên địa bàn tiếp tục được đổi mới, sắp
xếp và họat động có hiệu quả hơn, kinh tế tập thể, tư nhân, hộ gia đình đã có b-
ước phát triển mới, đóng góp vào sự tăng trưởng chung của kinh tế địa phương,
góp phần tạo công ăn việc làm cho người lao động, tăng hộ giàu, giảm hộ nghèo.
Có được những kết quả trên, hoạt động của các ngành tài chính ngân hàng, kho
bạc có vai trò rất lớn, đã đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vốn cho sản xuất và
phát triển kinh tế nhiều thành phần của địa phương. Bên cạnh đó, Quận đã tập
trung đẩy mạnh xây dựng cơ bản, nâng cấp cơ sở hạ tầng, cải thiện môi trường.
Vì vậy đời sống vật chất tinh thần của nhân dân đã được nâng lên, an ninh trật tự
được đảm bảo. Năm 2005 là năm cuối cùng của kế hoạch 5 năm, là năm cả nước
16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
thi đua lập thành tích chào mừng Đại Hội Đảng toàn Quốc lần thứ X. Kinh tế
Việt Nam tuy gặp nhiều khó khăn, thách thức như hạn hán, bão lũ tàn phá, dịch
cúm gia cầm, nhưng vẫn ổn định về chính trị và phát triển mạnh về kinh tế, tốc
độ tăng trưởng GDP cả nước đạt 7,5%. Năm 2005 cũng là năm giá cả, lãi suất
của thế giới và trong nước có nhiều biến động như giá xăng dầu tăng, giá cà phê,
sắt thép, giá vàng, lãi suất USD, lãi suất huy động vốn.
2.1.2. Tổng quan về NHNo&PTNT Chi nhánh Nam Hà Nội
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Nam Hà Nội
được thành lập từ năm 2001, cho đến nay đã được 5 năm. Ngân hàng đã ổn định
về cơ cấu tổ chức và đi vào hoạt động rộng rãi. Thu hút được khách hàng đến
gửi tiền và vay vốn, cũng như mở tài khoản, mở L/C, và các dịch vụ khác. Chi
nhánh Nam Hà Nội là một trong số 2564 chi nhánh trực thuộc NHNo & PTNT
Việt Nam. Có trụ sở tại toà nhà C3 Phương Liệt-198 đường Giải Phóng-Thanh
Xuân-Hà Nội. Ra đời năm 2001, chi nhánh NHNNo & PTNT đóng vai trò tạo
TMCP. Đã tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ trong huy động vốn. Tuy nhiên dưới sự
chỉ đạo sát sao và điều hành trực tiếp của Ban giám đốc, sự phối hợp chặt chẽ
giữa các phòng ban, chi nhánh luôn làm tốt công tác chính sách khách hàng. Do
vậy không những giữ vững mà còn phát triển thêm khách hàng trong huy động
vốn. Cơ cấu nguồn vốn đã có sự thay đổi theo hướng tích cực, tiền gửi của các
TCTD giảm còn 13%, tiền gửi của dân cư tăng lên đến 31%, tỷ trọng nguồn vốn
trung, dài hạn tăng lên. Năm 2005 tất cả các đơn vị trực thuộc đều làm tốt công
tác huy động vốn, bình quân nguồn vốn của 1 chi nhánh cấp 2 đạt 650 tỷ đồng, 1
phòng giao dịch đạt hơn 70 tỷ đồng. Chi nhánh đã thực hiện chương trình hành
động tăng trưởng và ổn định nguồn vốn: xác định nguồn vốn luôn là nền tảng
mở rộng kinh doanh và luôn là nguồn thu chủ yếu của chi nhánh. Vì vậy cần :
Duy trì ổn định các nguồn vốn lớn, tiếp thị mở rộng khách hàng, phát triển thêm
các nguồn vốn rẻ, các nguồn vốn dài hạn, ổn định, chủ động, đa dạng hoá các
hình thức huy động vốn hướng tới khách hàng dân cư, các dự án vốn đầu tư nư-
ớc ngoài.
18
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Bảng 1. Cơ cấu nguồn vốn huy động
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005
Số
tiền
Tỷ
trọng
Số tiền
Tỷ
trọng
Số tiền
Tỷ
gửi dân cư tăng lên đến 31%, tỷ trọng nguồn vốn trung dài hạn tăng lên. Năm
2005 tất cả các đơn vị trực thuộc đều làm tốt công tác huy động nguồn vốn, bình
quân nguồn vốn của 1 chi nhánh cấp 2 đạt 650 tỷ đồng, 1 phòng giao dịch đạt
hơn 70 tỷ đồng.
2.1.3.2. Hoạt động sử dụng vốn.
Thực hiện mục tiêu chung của toàn ngành “ tiếp tục duy trì tăng trưởng
hợp lí, đảm bảo cân đối, an toàn và khả năng sinh lời, nâng cao chất lượng dịch
vụ ngân hàng đủ năng lực cạnh tranh, tập trung đầu tư đào tạo nguồn nhân lực,
đầu tư đổi mới công nghệ ngân hàng phù hợp với hiện đại hoá, đủ năng lực hội
nhập. Nâng cao năng lực tài chính và phát triển thương hiệu trên cơ sở đẩy mạnh
và kết hợp với văn hoá doanh nghiệp”.
Ngoài các doanh nghiệp là khách hàng thuờng xuyên của ngân hàng như
công ty thực phẩm Miền Bắc, Công ty dịch vụ kĩ thuật dầu khí, Tổng công ty
Sông Đà, Công ty Ginexim Hà Nội, Công ty xuất nhập khẩu với Lào...thì chi
nhánh cũng đã phát triển thêm nhiều khách hàng là các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh, khẳng định một cách chắc chắn đuờng lối chiến luợc là phát triển theo xu
huớng bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; tăng cuờng, tập trung phát triển
khu vực khách hàng là những doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Năm 2003 chi nhánh tiếp tục triển khai, rút kinh nghiệm để hoàn thiện
các đề án cho vay đối với cán bộ công nhân viên thông qua tổ chức công đoàn
tại các DNNN, tập trung thẩm định cho vay đồng tài trợ một số dự án lớn như
nhà máy nhiệt điện Hải Phòng, thẩm định và trình duyệt cho vay dự án nhà máy
cán nóng thép tấm của Tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam.
Năm 2004, dư nợ đạt 1571,394 tỷ đồng. Trong đó dư nợ ngắn hạn là
580,1 tỷ; dài hạn là 160,8 tỷ và trung hạn là 132,1 tỷ. Thì sang năm 2005, dư nợ
đã là 2130 tỷ đồng, các tỷ lệ dư nợ ngắn hạn, trung hạn, dài hạn tăng tương ứng.
20
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Bảng 2: Cơ cấu dư nợ tại địa phương theo loại cho vay
Đơn vị tính: tỷ đồng
vốn ngắn hạn, phục vụ cho các nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn. Vì vậy mà chi
nhánh đã có được sự tăng trưởng dư nợ ngắn hạn tăng dần đều qua các năm
trong điều kiện nhiều Ngân hàng thương mại đều có nhiều chính sách ưu đãi
trong cho vay nhằm thu hút khách hàng. Mặc dù vậy, tốc độ tăng năm 2005 là
28% cao hơn mức tăng chung của hệ thống, nhưng vẫn thấp hơn mức tăng của
nguồn vốn. Dư nợ bình quân tính trên một cán bộ đạt 9,9 tỷ tuy nhanh nhưng
vẫn chưa đạt được yêu cầu kinh doanh của chi nhánh.
Bảng 3: Cơ cấu dư nợ theo đối tượng cho vay tại địa phương
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu
2002 2003 2004 2005
Số T/T Số tiền T/T Số tiền T/T Số tiền T/T
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
tiền
Tổng dư nợ 478 100% 610,277 100% 873,764 100% 1119.14 100%
Dư nợ DNNN 398 83,26% 522 85,53% 672,287 76,84%
876,276
78,3%
Dư nợ DN
ngoài QD
80 16,74% 88,277 14,47% 201,477 23,06% 242,864 21,7%
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2002, 2003, 2004, 2005
Viết tắt: T/T= tỷ trọng
Đối tượng cho vay chính của Chi nhánh là doanh nghiệp, trong đó thì
DNNN là đối tượng khách hàng chủ yếu. Điều này thể hiện rất rõ trong cơ cấu
dư nợ của chi nhánh theo đối tượng cho vay. Dư nợ DNNN luôn chiếm tỷ trọng
cao trong tổng dư nợ của ngân hàng. Dư nợ cho vay đối với DNNN năm 2002
đạt 398 tỷ đồng, năm 2003 đạt 522 tỷ đồng đến 2004 đạt 672,287 tỷ đồng và đến
năm 2005 con số này là 876,276 tỷ đồng. Mặc dù tỷ trọng trong tổng dư nợ có
Bên cạnh hoạt động đầu t tín dụng, ngân hàng đã thực hiện những hoạt
động kinh doanh mới. Từ năm 2003 chi nhánh đã triển khai, ứng dụng một số
sản phẩm, dịch vụ ngân hàng như:
* Thực hiện thành công chương trình giao dịch một cửa ( Ngân hàng bán lẻ)
theo chủ trương của Hội đồng quản trị, Ban Tổng giám đốc. Tiếp cận chuẩn bị
triển khai chơng trình WB ở Hội sở và chương trình Ngân hàng bán lẻ tới 100%
chi nhánh, phòng giao dịch của chi nhánh.
* Áp dụng thí điểm hình thức huy động tiết kiệm gửi góp để huy động
nguồn tiền gửi nhàn rỗi của dân cư.
* Thực hiện thí điểm hợp đồng huy động vốn và cho vay đối với các tổ
chức tài chính trên địa bàn.
* Tiếp tục thực hiện mô hình cho vay tiêu dùng đối với CBCNV thông qua
tổ chức công đoàn tại các DNNN
* Cung ứng dịch vụ giải ngân phục vụ các dự án đầu tư nước ngoài; làm
đầu mối triển khai tới các tỉnh trong phạm vi của dự án.
24
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Năm 2005 là năm đầu tiên chi nhánh có triển khai máy ATM, hiện nay chi
nhánh đã có 8 máy, đã phát hành 8043 thẻ với số d hơn 7 tỷ đồng. Chi nhánh đã
tổ chức kí kết hợp đồng làm ngân hàng đầu mối thanh toán cho Trung tâm
chuyển tiền bưu điện- Tổng công ty bu chính viễn thông Việt Nam, hợp đồng bắt
đầu được triển khai, không chỉ góp phần tăng nguồn vốn, thu dịch vụ cho chi
nhánh mà còn đem lại hiệu quả cho các Chi nhánh NHNo trong toàn hệ thống.
Chi nhánh đã phối hợp với ban quan hệ Quốc tế, Ban quản lí dự án CBRIP, tổ
chức đoàn công tác kiểm tra, chấn chỉnh tình hình quản lí dự án tại 8 tỉnh miền
Trung và tổ chức thành công 3 lớp tập huấn cho 14 NHNo Tỉnh và hơn 100
NHNo huyện về nghiệp vụ quản lí, giải ngân dự án CBRIP. Chi nhánh tiếp tục
triển khai các dịch vụ thu chi tiền mặt tại chỗ cho Trung tâm chuyển tiền Bưu
điện, Kho bạc Thanh Xuân, giao dịch nhận chứng từ tại chỗ cho Quỹ hỗ trợ TW,
Kho bạc, Công ty cổ phần Phát triển nhà số 2…Đây là các dịch vụ tuy chưa