Ứng dụng công nghệ xử lý chất thải y tế
Xem tin gốc
QĐND - 19 tháng trước 314 lượt xem
Xử lý chất thải y tế là một trong những vấn đề quan tâm của các bệnh viện quân đội hiện
nay. Trong 5 năm qua, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị tập trung nghiên cứu,
khảo sát, đánh giá tác động môi trường ở các bệnh viện và đầu tư xây dựng các công trình,
mua sắm trang, thiết bị công nghệ xử lý chất thải y tế. Tuy nhiên, số lượng các công trình và
công nghệ xử lý chất thải y tế được triển khai ứng dụng chưa nhiều, trong khi đó nhu cầu
của các bệnh viện, cơ sở y tế của quân đội ngày càng cao. Điều đó khiến việc nghiên cứu,
phối hợp triển khai ứng dụng công nghệ xử lý chất thải y tế, bảo đảm vệ sinh môi trường
giữa các cơ quan, đơn vị ngày càng cấp thiết.
Facebook Twitter 0 bình chọn Viết bình luận Lưu bài này
Các cơ quan chức năng, viện nghiên cứu và các đơn vị đã tiến hành nghiên cứu, khảo sát,
đánh giá tác động môi trường, lập nhiều dự án xây dựng công trình xử lý chất thải y tế và
được Bộ Quốc phòng phê duyệt, đưa vào danh sách các cơ sở gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Các Viện Quân y 110 (Quân khu
1), Viện Quân y 7 (Quân khu 3) và Viện Quân y 4 (Quân khu 4) đã triển khai các dự án đầu
tư xây dựng các công trình công nghệ xử lý chất thải y tế.
Viện Quân y 110 đã phối hợp với Công ty TNHH Thiên Phúc xây dựng lò đốt Mediburn để
xử lý rác thải y tế với công suất 20kg chất thải sinh, bệnh phẩm cho mỗi lần đốt. Viện cũng
đã phối hợp với Công ty Thái Sơn (Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga) xây dựng, lắp đặt thiết
bị công nghệ cho hệ thống xử lý rác thải, nước thải y tế với quy mô xử lý toàn bộ nước thải
bệnh viện, công suất 150m3/ngày-đêm, nước sau khi xử lý đạt tiêu chuẩn thải ra môi
trường. Công ty Thái Sơn cũng đã xây dựng, lắp đặt hệ thống xử lý nước thải bệnh viện với
công suất 100m3/ngày-đêm tại Viện Quân y 87 (Tổng cục Hậu cần). Cục Quân y đầu tư xây
dựng lò đốt chất thải rắn y tế Mediburn công suất đốt mỗi lần 20kg và lò đốt chất thải rắn y
tế Model A200 CU công suất đốt mỗi lần 30kg cho các Viện Quân y 87, 105 và 354. Viện
Quân y 4 được đầu tư xây dựng, lắp đặt hệ thống thiết bị công nghệ xử lý chất thải bệnh
viện đạt công suất 30kg chất thải mỗi giờ do Công ty TNHH Thiên Phúc cung cấp thiết bị.
Sau khi đưa vào vận hành, các công trình công nghệ xử lý chất thải bệnh viện hoạt động tốt,
có hiệu quả. Tuy nhiên, việc duy trì bảo dưỡng, kinh phí cho các hệ thống hoạt động đang là
trong các hoạt động dân sự hiện nay. Với mục tiêu bảo vệ môi trường (BVMT) và bảo vệ
sức khỏe, các nước đang phát triển như Mỹ và châu Âu ngày càng thắt chặt các tiêu chuẩn
khí thải lò đốt chất thải y tế. Trong tình hình như vậy, nhiều loại lò đốt được sản xuất tại Mỹ
và châu Âu cũng không đáp ứng được tiêu chuẩn môi trường và tìm cách xuất khẩu sang
các nước đang phát triển, nơi mà các tiêu chuẩn môi trường còn lỏng lẻo hoặc chưa có các
biện pháp kiểm soát chặt chẽ. Năm 1988, cả nước Mỹ có 6.200 lò đốt chất thải y tế nhưng
đến năm 2006 chỉ còn lại 62 lò đốt hoạt động. Ở Canada, năm 1995 có 219 lò đốt nhưng
đến năm 2003 chỉ còn 56 lò đốt vận hành. Nhiều nước châu Âu đã đưa ra các biện pháp
kiên quyết nhằm đóng cửa các lò đốt chất thải y tế. Tại Đức, năm 1984 có 554 lò đốt hoạt
động nhưng đến năm 2002 không còn lò đốt nào vận hành, hay tại Bồ Đào Nha, năm 1995
có 40 lò đốt nhưng năm 2004 chỉ còn 1 lò đốt hoạt động. AiLen có 150 lò đốt hoạt động
năm 1990 nhưng đến năm 2005 đã ngưng hoạt động toàn bộ các lò đốt chất thải y tế.
Tại các nước phát triển đã thay thế lò đốt bằng các công nghệ khác thân thiện với môi
trường. Các công nghệ không đốt bao gồm: Quy trình nhiệt - khử khuẩn bằng nhiệt ướt như
2
nồi hấp hay hệ thống hấp ướt tiên tiến, khử khuẩn bằng nhiệt khô, công nghệ vi sóng,
plasma ; Quy trình hóa học - hóa học không dùng do, thủy phân kiềm; Quy trình bức xạ -
tia cực tím, cobalt; Quy trình sinh học - xử lý bằng enzym. Trong sô các công nghệ trên,
quy trình nhiệt là phổ biến nhất và được chia thành 3 loại gồm:
Quy trình nhiệt thấp (có 19 nhà cung cấp công nghệ này) với nhiệt độ vận hành khoảng từ
200 - 350°F (từ 93 - 177°C) với 2 nhóm cơ bản là nhiệt ướt và nhiệt khô. Công nghệ nhiệt
ướt dùng hơi nước để khử khuẩn chất thải. Công nghệ xử lý bằng vi sóng thực chất là khử
khuẩn bằng hơi nước vì hơi nước bão hòa được thêm vào làm ẩm chất thải và năng lượng vi
sóng sẽ làm nóng chất thải. Quy trình nhiệt khô không thêm nước hay hơi nước vào chất
thải. Chất thải được làm nóng bởi tính dẫn nhiệt, đối lưu tự nhiên hay cưỡng bức, sử dụng
bức xạ nhiệt hoặc bức xạ hồng ngoại.
Quy trình nhiệt trung bình (có 2 nhà cung cấp công nghệ này): Nhiệt độ vận hành khoảng từ
Phân bổ nguồn nhân lực, tài chính cho quản lý an toàn chất thải y tế).
Hiện nay, Mỹ và EU đang áp dụng chuẩn STAATT (Tiêu chuẩn của Hiệp hội liên bang về
các công nghệ xử lý thay thế) để đánh giá hiệu lực khử khuẩn, trong đó cấp độ III được coi
là chuẩn mực tối thiểu, mức giảm 6 Log 10 tương đương với xác suất sống sót 1/1 triệu của
vi sinh vật hay giảm 99,9999% vi sinh vật do quá trình xử lý. Theo kinh nghiệm của Mỹ và
các nước châu Âu, các yếu tố phải được xem xét khi lựa chọn công nghệ gồm: Công suất xử
lý; Loại chất thải được xử lý; Hiệu lực khử khuẩn; Phát thải ra môi trường và phần còn lại
của chất thải; Chấp nhận của cơ quan quản lý; Yêu cầu không gian, công trình phụ và lắp
đặt khác; Mức độ giảm bớt khối lượng và thể tích chất thải; An toàn nghề nghiệp và bảo hộ
lao động;
Độ ồn và mùi; Tự động hóa và độ ổn định; Mức độ thương mại hóa và tình trạng của nhà
sản xuất/người bán; Chấp nhận của cộng đồng và bộ máy quản lý.
Việc áp dụng công nghệ khử khuẩn sẽ mang lại nhiều lợi ích về kinh tế, môi trường và quản
lý vì chi phí đầu tư và vận hành rẻ hơn phương pháp thiêu đốt; không phát sinh khí thải độc
hại, đặc biệt là dioxin và furan; không phát sinh tro xỉ độc hại chứa kim loại nặng; chất thải
sau khi khử khuẩn được chôn lấp như chất thải thông thường; kiểm soát chất lượng khử
khuẩn, điều này ngành y tế hoàn toàn có thể làm chủ và thực hiện được vì các bệnh viện lớn
đều có khoa vi sinh, thuận tiện và tính khả thi cao hơn so với việc kiểm soát khí thải lò đốt
chất thải rắn y tế. Hiện nay, Việt Nam vẫn chưa có thiết bị đo được nồng độ dioxin trong
khí thải, giá thành xét nghiệm mẫu rất cao nếu phải gửi đi xét nghiệm ở nước ngoài; kinh
nghiệm khử khuẩn, tiệt khuẩn dụng cụ y tế, đồ vải trong ngành y tế sẽ rất hữu ích trong việc
quản lý thiết bị khử khuẩn chất thải rắn y tế nếu thiết bị này do bệnh viện quản lý và vận
hành.
Về công nghệ không đốt, đến nay đã có 13 bệnh viện, viện, trung tâm y tế áp dụng công
nghệ vi sóng áp suất thường và áp suất cao để xử lý chất thải lây nhiễm trong cả nước.
Như vậy, các cơ sở y tế trong những năm qua đã có bước tiếp cận với công nghệ không đốt
công nghệ chịu trách nhiệm bảo hành ít nhất 2 năm và bảo trì ít nhất 2 năm. Trong
tiểu hợp phần 1.1, định mức kinh phí sẽ được điều chỉnh và các hướng dẫn được
xây dựng nhằm bảo đảm vận hành và bảo dưỡng hợp lý công nghệ.
8.9 An toàn lao động và phương tiện phòng hộ cá nhân
Thành phần 1 sẽ chuẩn bị các hướng dẫn về an toàn lao động trong quản lý
chất thải trong các cơ sở y tế và cung cấp các khóa đào tạo. Với nguồn vốn trong
hợp phần 2, các bệnh viện dự án sẽ xây dựng các sổ tay, hướng dẫn quản lý chất
thải của riêng bệnh viện và tập huấn cho nhân viên y tế về các vấn đề an toàn lao
động. Hợp phần 2 cũng sẽ cung cấp nguồn lực để mua sắm đủ phương tiện phòng
hộ cá nhân cho các nhân viên tham gia vào thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý và
tiêu hủy chất thải y tế. Phương tiện phòng hộ cá nhân cho các bệnh viện khác
nhau được trình bày trong danh mục công nghệ và tính toán chi phí. Đào tạo về sử
dụng phương tiện phòng hộ cá nhân trong hậu cần nội bộ được lồng ghép vào
trong các lớp tập huấn cơ bản dành cho nhân viên hỗ trợ, trong khi đó, đào tạo sử
dụng phương tiện phòng hộ cá nhân trong vận chuyển bên ngoài, xử lý, tiêu hủy
được lồng ghép trong đào tạo chuyển giao công nghệ do nhà cung cấp chịu trách
nhiệm.
Dự án cũng tổ chức một loạt các chiến dịch truyền thông để tăng cường
nhận thức trong cộng đồng tập trung vào tầm quan trọng của quản lý và giảm thiểu
chất thải y tế. Tiểu hợp phần 1.1 sẽ hỗ trợ xây dựng các phương tiện truyền thông
và phương tiện tham khảo (tiêu chuẩn và yêu cầu kỹ thuật; tóm tắt các chính sách
và quy định; sổ tay quản lý chất thải y tế v.v) để phổ biến rộng rãi chính sách và
thực hành tốt.
8.10 Năng lực thể chế
• Chính sách và theo dõi
5
Dự án hỗ trợ Bộ Y tế (với đầu mối là VIHEMA) thiết kế, triển khai chương trình đào
tạo truyền thông về quản lý chất thải y tế (tiểu hợp phần 1.1) và chương trình quan
trắc môi trường y tế (tiểu hợp phần 1.3). Mục tiêu chính của hai tiểu hợp phần này
là trang bị cho các cơ quan có chức năng ra quy định và giám sát quản lý chất thải
viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh. Các giải pháp bao gồm (i) Kế hoạch và số tay
quản lý chất thải; (ii) Đào tạo; (iii) Truyền thông; (iv) theo dõi và giám sát.
6
PHỤ LỤC 1
HƯỚNG DẪN LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
I. Xử lý và tiêu hủy chất thải rắn y tế
1. Theo quy chế quản lý chất thải y tế ban và văn bản số 7164/BYT-KCB ngày
20/10/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế, các bệnh viện và cơ sở y tế được phép
áp dụng một trng các mô hình xử lý như sau:
- Ở thành phố trực thuộc trung ương nơi tập trung nhiều bệnh viện và
cơ sở tế, điều kiện giao thong thuận lợi, bệnh viện có thể áp dụng
mô hình xử lý chất thải rắn nguy hại tập trung, một cơ sở xử lý tất cả
chất thải y tế nguy hại trong thành phố để giảm chi phí đầu tư và vận
hành.
- Ở các tỉnh và thành phố khác, bệnh viện có thể áp dụng mô hình xử
lý theo cụm để xử lý chất thải rắn nguy hại cho các bệnh viện, cơ sở
y tế nằm trong hoặc xung quanh thành phố hoặc thị trấn (khoảng
cách tới cơ sở xử lý dưới 30 km).
- Bệnh viện, cơ sở y tế ở khu vực xa xôi, giao thông khó khăn có thể
áp dụng mô hình xử lý tại chỗ với công nghệ phù hợp.
2. Mô hình xử lý tập trung đang áp dụng tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và
một số tỉnh khác. Bệnh viện ký hợp đồng với công ty quản lý chất thải y tế
(URENCO ở Hà Nội và CITENCO ở thành phố Hồ Chí Minh) để vận chuyển
và xử lý tập trung chất thải rắn nguy hại. Mô hình này đã chứng minh được
hiệu quả, tiết kiệm chi phí đầu tư và vận hành và giảm ô nhiễm môi trường.
Ở các tỉnh khác, mô hình xử lý theo cụm thường được áp dụng cho các
bệnh viện và cơ sở y tế tuyến tỉnh ở trung tâm tỉnh, các bệnh viện liên
huyện, bệnh viện huyện, phòng khám đa khoa khu vực, và trạm y tế xã
thường có lò đốt quy mô nhỏ.
3. Một tỉnh tham gia vào dự án cần phải xây dựng kế hoạch quản lý chất thải y
- Lưu giữ an toàn để phân hủy chất thải phóng xạ;
- Trả lại nhà cung cấp chất thải hóa học hoặc bình chứa khí nén.
- Ký hợp đồng với đơn vị có giấy phép để vận chuyển và xử lý bên
ngoài.
8. Một công nghệ không đốt chi phù hợp với một số loại chất thải nhất định,
như mô tả trong Bảng 4, trong khi đó Bảng 5 đưa ra một số ưu điểm của
từng công nghệ. Vì thế, bệnh viện cần phối hợp nhiều công nghệ không đốt
để xử lý an toàn tất cả các loại chất thải bệnh viện. Quy chế Quản lý chất
thải nguy hại (ban hành kèm theo quyết định số 43/2007/QD-BYT ngày
30/11/2007 của Bộ Y tế) và các Hướng dẫn quản lý chất thải y tế của WHO
đã đưa ra gợi ý về những công nghệ không đốt có thể áp dụng được cho
những loại chất thải y tế khác nhau.
9. Chi phí đầu tư của các công nghệ thay đổi tùy thuộc loại công nghệ, mức độ
tinh vi trong vận hành và thời điểm đầu tư. Chi phí vận hành tương đối thấp,
và bao gồm chi phí cho tiêu thụ điện, nước, túi đựng và nhân công. Các
công nghệ đơn giản như máy cắt kim tiêm, máy hủy kim tiêm, hố chôn xi
măng có chi phí vận hành thấp.
10.Mỗi bệnh viện trong dự án cần chuẩn bị một Kế hoạch quản lý chất thải y tế
trong đó mô tả đặc điểm của bệnh viện, những loại chất thải phát sinh, các
công nghệ xử lý được lựa chọn kèm theo cấu hình phù hợp. Các máy cắt,
hủy kim tiêm và các giải pháp thay thế rất cần thiết cho quản lý vật sắc nhọn
trong bệnh viện và phải được duy trì ở tất cả các bệnh viện.
8
Bảng 4: Các phương pháp xử lý và tiêu hủy chất thải y tế
Lò đốt
nhiệt
phân
Lò hấp
(khử
cung
cấp
Hóa chất nguy
hại
Số lượng
nhỏ
Không Không Không Không Không Có
Trả nhà
cung
cấp
Chất thải phóng
xạ
Không Không Không Không Không Không Không
Lưu giữ
bán
hủy
Bình chứa khí
nén
Không Không Không Không Có Không Không
Trả nhà
cung
cấp
9
Bảng 5: Ưu nhược điểm chính của các công nghệ xử lý chất thải y tế
Công nghệ Ưu điểm Nhược điểm Chi phí (thời điểm 2010)
Công nghệ không đốt
Máy cắt kim tiêm - Ngăn ngừa tái sử dụng kim tiêm
- Dễ vận hành, chi phí thấp
- Xi lanh có thể tái chế
USD/m
3
Chôn lấp hợp vệ
sinh
- Tương đối an toàn nếu hạn chế
được tiếp cận và thẩm thấu qua
thành hố chôn
- Chi phí đầu tư và vận hành thấp
- Chỉ áp dụng cho bệnh viện ở
miền núi hoặc nông thôn
- Chi phí đầu tư: nhân công,
mái che, hàng rào
Khử khuẩn bằng
hơi nước (lò hấp)
- Hiệu suất khử khuẩn cao
- Giảm được thể tích chất thải nếu
có máy nghiền
- Chi phí vận hành thấp
- Thân thiện với môi trường
- Công nghệ phổ biến trong bệnh
viện
- Không phù hợp đối với chất
thải giải phẫu, chất thải dược
phẩm và chất thải hóa học và
những chất thải không thể hấp
- Đòi hỏi nhân công có trình độ
- Chi phí đầu tư cao, đòi hỏi túi
chịu nhiệt
- Chi phí đầu tư:
500 – 50,000 USD
thải giải phẫu, chất thải dược
phẩm và chất thải hóa học và
những chất thải không thể hấp
- Đòi hỏi nhân công có trình độ
- Chi phí đầu tư cao, đòi hỏi túi
chịu nhiệt
- Chi phí đầu tư:
180,000 – 250,000 USD
- Chi phí vận hành: 0.33
USD/kg
Khử khuẩn hóa
học
- Hiệu suất khử khuẩn cao, đặc
biệt là chất thải lây nhiễm dạng
lỏng
- Giảm thể tích chất thải nếu kèm
theo máy nghiền
- Một số hóa chất khử khuẩn
không đắt
- Không phù hợp đối với chất
thải giải phẫu, chất thải sắc
nhọn, chất thải dược phẩm và
chất thải hóa học
- Đòi hỏi nhân công có trình độ
- Hóa chất nguy hại có thể gây ô
nhiễm môi trường
- Chi phí vận hành cho hóa
chất khử khuẩn
Công nghệ thiêu đốt
Lò đốt một buồng - Hiệu suất khử khuẩn tốt
20,000 – 100,000 USD
- Chi phí vận hành: 0.6
USD/kg hoặc đắt hơn
11
lò đốt chất thải rắn công
nghiệp độc hại VHI-18B
Các nhà khoa học Viện công nghệ môi trường - Viện Khoa học
và Công nghệ Việt Nam đã chế tạo thành công lò đốt chất thải
rắn công nghiệp độc hại VHI-18B, khí thải cuả lò đốt đạt tiêu
chuẩn Việt Nam TCVN 6560-1999.
VHI -18B có công suất Q = 5kg/giờ phù hợp với lượng chất thải rắn y tế của bệnh viện có
từ 50 -100 giường bệnh với giá thành thấp hơn một nửa so với công nghệ ngoại nhập.
Ngoài ra còn có các loại lò công suất Q = 10kg/giờ phù hợp với bệnh viện có 200 -300
giường bệnh, công suất Q = 20kg/giờ phù hợp bệnh viện có 300 -500 giường bệnh. Lò
đốt VHI -18B có công suất lớn thích hợp để xử lý chất thải rắn công nghiệp độc hại của
các nhà máy, xí nghiệp và khu công nghiệp, như bã thải sơn, mực in, cao su da giầy.
Lò đốt VHI -18B được thiết kế theo nguyên lý đốt đa vùng với hệ thống buồng đốt sơ cấp
và thứ cấp. Đây cũng là nguyên lý được sử dụng rộng rãi trên thế giới trong xử lý chất
thải rắn độc hại. Chất thải được đưa vào buồng sơ cấp có nhiệt độ duy trì ở khoảng 500-
800 độ C. Các sản phẩm cháy không hoàn toàn sẽ tiếp tục được đốt cháy, phân huỷ ở
nhiệt độ từ 1050 – 1200 độ C trong buồng thứ cấp. Khí thải sẽ được làm lạnh nhanh
xuống dưới nhiệt độ 200 độ C, tránh được nguy cơ tái sinh Dioxin.
Đặc biệt hệ thống lò đốt VHI -18B còn có bơm ejiector tạo áp suất âm cho buồng đốt
hoạt động ổn định trong quá trình thiêu đốt.
Việc nghiên cứu bắt đầu được tiến hành vào năm 2002, sau đó được triển khai ứng dụng
vào thực tế từ năm 2003. Hiện nay, lò đốt VHI -18B đã được chuyển giao và lắp đặt tại
15 cơ sở y tế trên cả nước như Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Thuận, Bắc Kạn, các Bệnh
viện Lao phổi các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Ninh, Mai Sơn - Sơn La, Bệnh viện 71 TW -
Thanh Hóa, các Trung tâm y tế huyện Quế Võ, Lương Tài, Gia Bình tỉnh Bắc Ninh, Sa
Thầy , Đắc Hà, tỉnh Kon Tum và Nhà máy In tiền Quốc gia.