1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT LÊ THỊ DANH
HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC THEO QUY ĐỊNH CỦA
BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 2005
1
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỪA KẾ THEO
DI CHÚC VÀ HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC
1.1
Những vấn đề pháp lý cơ bản về thừa kế theo di chúc
6
1.1.1
Một số vấn đề cơ bản về di chúc
6
1.1.2
Thừa kế theo di chúc
12
1.2
Những vấn đề lý luận chung về hình thức di chúc
15
1.2.1
Khái niệm hình thức của di chúc
15
1.2.2
Vai trò của hình thức di chúc đối với việc thực hiện pháp luật
về thừa kế
16
1.2.3
Yêu cầu và các nhân tố tác động đến quy định pháp luật về
hình thức của di chúc
18
1.3
Hình thức của di chúc theo quy định của pháp luật một số
Hình thức của di chúc theo quy định của pháp luật thời
Pháp thuộc
35
2.3
Hình thức của di chúc theo pháp luật Việt Nam trƣớc
năm 2005
36
2.3.1
Hình thức của di chúc theo quy định của Pháp lệnh Thừa kế
năm 1990
36
2.3.2
Hình thức của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự 1995
38
2.4
Hình thức của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự
2005
41
2.4.1
So sánh các quy định pháp luật về hình thức di chúc theo Bộ
luật dân sự 1995 và những sửa đổi, bổ sung năm 2005
41
2.4.2
Những bất cập, hạn chế trong việc áp dụng các quy định pháp
luật về hình thức của di chúc
44
Kết luận Chƣơng 2
59
3.2
Phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật về hình thức di chúc
trong giai đoạn hiện nay
73
3.2.1
Quan điểm về hoàn thiện pháp luật về hình thức di chúc
trong giai đoạn hiện nay
73
3.2.2
Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hình thức di
chúc trong giai đoạn hiện nay
78
Kết luận chung Danh mục tài liệu tham khảo
7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thừa kế tài sản là một quan hệ pháp luật dân sự vừa mang tính đạo lý
truyền thống vừa mang tính lợi ích kinh tế. Tuy nhiên, không phải lúc nào tài
sản thừa kế cũng thuần tuý mang tính lợi ích kinh tế, nó còn ẩn chứa trong đó
những giá trị tinh thần mà sự cao thấp còn do quan niệm và tình cảm của mỗi
người thừa kế đối với người để lại di sản. Chính vì vậy, việc thừa kế tài sản
trong thực tiễn diễn biến rất phức tạp.
Pháp luật dân sự quy định việc thừa kế tào sản có thể thực hiện theo luật
trường hợp lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc UBND xã, phường, thị
trấn? Người có thẩm quyền công chứng, chứng thực có trách nhiệm gì về sự
trung thực ghi chép đúng, đầy đủ, chính xác ý nguyện bằng lời của người để
lại di chúc? .v.v.và .v.v.
Để giải quyết những bất cập của thực trạng nói trên, đặt ra yêu cầu phải
nghiên cứu sâu về lý luận và thực tiễn các quy định về hình thức di chức theo
pháp luật dân sự Việt Nam.
Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Hình thức Di chúc theo quy định
của Bộ Luật Dân sự Việt Nam năm 2005”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều nhà luật học nghiên cứu về vấn đề thừa kế và tài sản thừa kế
theo Bộ Luật dân sự Việt Nam.
Có thể nêu một số công trình đã được công bố trong thời gian gần đây có
liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài như: “Những quy định chung về
quyền thừa kế trong Bộ Luật dân sự Việt Nam của Thạc sỹ Nguyễn Minh
Tuấn; “Chế định về thừa kế trong Bộ Luật Dân sự Việt Nam” của Thạc sỹ
Đinh Duy Thanh;”Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt nam theo quy
định của pháp luật từ năm 1945 đến nay” của Tiến sỹ Phùng Trung Tập và
9
đặc biệt là đề tài “Thừa kế theo di chúc theo quy định của Bộ Luật Dân sự
Việt Nam” của Tiến sỹ Phạm Văn Tuyết
Kết quả nghiên cứu thể hiện trong những luận án nói trên cho thấy: Các
tác giả tập trung phần lớn vào việc phân tích, trình bày các nội dung của các
quy định có liên quan của Luật thực định về thừa kế nói chung; có chỉ ra một
số cơ sở lý luận và thực tiễn của những quy định pháp luật cũng như một số
vấn đề thực tiễn đặt ra và đề xuất phương hướng khắc phục các quy định pháp
luật về thừa kế; nhưng có thể nói rằng cho đến nay, chưa có một công trình
khoa học pháp lý nào nghiên cứu một cách hệ thống những vấn đề lý luận và
thực tiễn về một đề tài có phạm vi hẹp và sâu sắc như đề tài do tác giả lựa
+ Một số vấn đề về công chứng, chứng thực di chúc;
- Đánh giá thực trạng các tranh chấp Dân sự về tài sản thừa kế liên quan
đến hình thức Di chúc.
- Nghiên cứu tham khảo tài liệu của nước ngoài liên quan đến đề tài.
- Đưa ra những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về hình
thức di chúc.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu đề tài, tác giả vận dụng phương pháp
luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng và Nhà nước
về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Tác giả sẽ sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu chủ yếu và có
tính phổ cập như: Phương pháp tiếp cận lịch sử, phương pháp đối chiếu,
phương pháp luật học so sánh, phương pháp phân tích kết hợp giải thích và
tổng hợp, khái quát hoá. Đặc biệt, trên cơ sở phân tích các bản án dân sự về
giải quyết các tranh chấp tài sản thừa kế liên quan đến hình thức di chúc sẽ
cho thấy những bất cập hiện nay của pháp luật khi quy định về vấn đề hình
thức di chúc, làm cho đề tài nghiên cứu có tính thực tiễn cao; góp phần đáng
kể làm rõ những lý luận trong quá trình hoàn thiện các quy đinh pháp luật về
hình thức di chúc.
5. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
11
Việc nghiên cứu, luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn của Pháp
luật Dân sự Việt Nam trong khuôn khổ đề tài sẽ không chỉ có ý nghĩa rất quan
trọng về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa rất to lớn trong việc hạn chế các tranh
chấp dân sự liên quan đến hình thức di chúc, hoàn thiện các quy định pháp
luật dân sự về hình thức di chúc.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Luận văn đã khái quát được những vấn đề lý luận về di chúc, thừa kế
theo di chúc và hình thức của di chúc, tạo nền tảng lý luận cho việc phân tích
Di chúc đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử nhân loại, với đủ các hình
thức khác nhau. Trong Kinh Cựu ước – bộ sách lớn nhất, cổ nhất và nguyên
vẹn nhất còn được lưu truyền đến ngày nay, người xưa đã chép lại rằng bản di
chúc của Noe đã được viết bằng tay, rồi được ông đóng con dấu của mình lên
để chứng thực; hay như việc Jacob, bằng lời nói, đã để lại cho Joseph phần tài
sản gấp đôi so với những người con khác của mình [27].
Có thể câu chuyện từ trong kinh sách tôn giáo không thể là một bằng
chứng xác thực cho bất cứ một vấn đề mang tính thực tiễn nào, nhưng ít nhất
từ những mẩu chuyện như thế, ta cũng có thể nhận thấy rằng: ngay trong
lòng thế giới cổ đại, di chúc đã xuất hiện, và xuất hiện với rất nhiều hình thức
đa dạng khác nhau, có thể bằng bản viết tay, cũng có thể chi bằng lời nói.
Điều này là minh chứng cho vị trí, vai trò của di chúc trong đời sống xã hội.
Di chúc là cơ sở quan trọng nhất để thể hiện ý chí của cá nhân nhằm
chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết và cũng là cơ sở để xác
lập quyền sở hữu di sản của người được hưởng di sản thừa kế đối với di sản
thừa kế.
Trong thực tế cuộc sống tồn tại hai khái niệm “Di chúc” và “Chúc thư”.
Trong thực tế, di chúc được gọi với nhiều thuật ngữ khác nhau như “Di chúc”,
“Chúc thư”, “Chúc ngôn”. Trong đó, “Di chúc” là thuật ngữ dùng để chỉ các
di chúc nói chung, “Chúc thư” là thuật ngữ chỉ về các di chúc viết (di chúc
văn bản), “Chúc ngôn” là thuật ngữ chỉ về các di chúc miệng. Do đó, tất cả
các thuật ngữ này đều là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản
13
của mình cho người khác sau khi chết. Về mặt pháp lý, BLDS 2005 chỉ sử
dụng thuật ngữ Di chúc, không sử dụng trực tiếp thuật ngữ Chúc thư và Chúc
ngôn. Tuy nhiên, BLDS vẫn qui định về Di chúc bằng văn bản và Di chúc
miệng. Theo quy định tại điều 646 Bộ luật dân sự 2005, di chúc được hiểu là
“sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác
sau khi chết”.
trong việc chuyển dịch tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Di chúc
có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Một là, di chúc thể hiện ý chí của người để lại di chúc trong việc định
đoạt tài sản của mình. Một trong những ngụyên tắc cơ bản của việc giải quyết
thừa kế theo di chúc là phải tôn trọng ý chí của người để lại di sản. Nếu như
người để lại di sản lập di chúc về việc phân chia di sản cho người khác thì căn
cứ vào nguyện vọng của người để lại di sản được ghi nhận trong bản di chúc,
phần tài sản sẽ phải được ưu tiên phân chia theo ý chí của người để lại di sản.
Đó chính là sự tôn trọng ý chí của người để lại di sản.
Điều 631 Bộ luật dân sự 2005 quy định: Cá nhân có quyền lập di chúc
để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo
pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Mọi cá nhân đều
bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di
sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Ý chí của người để lại di sản thừa kế
được thể hiện qua các quyền của người lập di chúc là:
- Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;
- Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;
- Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;
- Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;
- Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di
sản.
Hai là, di chúc ghi nhận sự chuyển dịch tài sản của người để lại di sản
cho người được hưởng thừa kế sau khi người đó chết.
15
Có thể khẳng định di chúc là một giao dịch dân sự đặc biệt. Bộ luật dân
sự quy định rõ, giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn
phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự.
Một giao dịch dân sự có hiệu lực khi thỏa mãn các điều kiện theo quy định tại
Điều 122 BLDS. Tính đặc biệt của di chúc được thể hiện ở những khía cạnh
định, nó có thể bị thay đổi bất cứ lúc nào, việc thay đổi này phụ thuộc vào ý
chí của người lập di chúc. Bởi lẽ, di chúc chỉ là hình thức để ghi lại ý chí của
họ. Nói một cách khác đi, người lập di chúc có ý định hình thành quan hệ
thừa kế giữa mình với người có tên trong di chúc.
Sự định đoạt trong di chúc thể hiện ý chí đơn phương, không phụ thuộc
vào một cam kết hay một thoả thuận nào. Do vậy, trong thời gian còn sống,
người lập di chúc có thể thay đổi một, một số hoặc toàn bộ nội dung của di
chúc tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, môi trường, tình cảm hiện tại. Chính vì vậy
pháp luật thừa kế quy định từ thời điểm mở thừa kế, nếu một người để lại
nhiều bản di chúc thì chỉ bản di chúc nào thể hiện ý chí tự nguyện sau cùng
mới được coi là có hiệu lực. Các di chúc lập ra trước đó đều được coi là chưa
từng tồn tại.
Người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ di chúc vào bất kỳ
lúc nào. Nếu có người lập nhiều di chúc thì di chúc sau có giá trị hơn di chúc
trước. Để bảo đảm cho việc thay đổi nội dung di chúc được tiến hành theo
quy định của pháp luật và bảo đảm tính pháp lý của các lần thay đổi, luật pháp
cần quy định chặt chẽ việc sửa đổi, bổ sung di chúc.
Có thể khẳng định rằng, việc xác định các điều kiện có hiệu lực của di
chúc là nội dung quan trọng và truyền thống của chế định thừa kế theo di
chúc. Trước đây, Luật La Mã quy định khá chặt chẽ các điều kiện để một di
chúc có hiệu lực như: người lập di chúc phải có khả năng lập di chúc (con gái
từ 12 tuổi, con trai từ 14 tuổi trở lên, không bị tâm thần, không phạm trọng
tội); hình thức di chúc phải phù hợp với quy định của pháp luật (di chúc viết
phải được quan tòa, quan chấp chính chứng thực, di chúc miệng phải có bảy
người làm chứng, người thừa kế phải được chỉ định rõ ràng, chính xác); người
17
được chỉ định trong di chúc phải là người có khả năng trở thành người thừa kế
(thai nhi sinh vào tháng thứ mười một, đàn ông từ 25 đến 60 tuổi, đàn bà từ
20 đến 50 tuổi mà không lập gia đình thì không được hưởng thừa kế…).
- Họ tên và nơi cư trú của người lập di chúc.
- Họ tên cơ quan, tổ chức, người hưởng di sản.
- Di sản để lại và nơi có di sản.
- Việc chỉ định thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.
Di chúc không được viết tắt hoặc bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều
trang thì mỗi trang phải đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người
lập di chúc để tránh trường hợp tự ý thay đổi nội dung di chúc bằng việc đánh
tráo các trang không có chữ ký hoặc điểm chỉ trái với ý chí của người lập di
chúc.
1.1.2. Thừa kế theo di chúc
Quyền để lại thừa kế và quyền thừa kế là những quyền cơ bản của công
dân luôn luôn được pháp luật ở nhiều nước trên thế giới quan tâm, theo dõi và
bảo hộ. Việt Nam là một trong những nước đang phát triển và có nền văn hóa
với các truyền thống đạo đức lâu đời được truyền từ đời này qua đời khác. Do
đó đối với người Việt Nam hiện nay, việc coi trọng các phong tục, tập
quán,tình cảm cha con, vợ chồng, anh em gắn bó keo sơn đã khiến cho không
ít người bỏ qua việc đảm bảo quyền để lại thừa kế của mình bằng cách thảo
một bản di chúc. Bên cạnh đó có những người đã lập di chúc nhưng lại chưa
hiểu rõ về pháp luật khiến cho những bản di chúc này không rõ ràng khiến
cho những người thừa kế phải nhờ pháp luật phân xử hộ (đưa ra tòa) làm giảm
sút đi mối quan hệ tình cảm thân thuộc vốn có.
Theo quan điểm của Ăng- ghen: thừa kế “là sự chuyển dịch tài sản của
người chết cho người còn sống”. Quyền thừa kế là quyền thừa hưởng tài sản
của người chết để lại theo một trình tự do pháp luật quy định. Pháp luật cho
phép những người thừa kế được hưởng di sản đồng thời buộc họ phải thực
hiện những nghĩa vụ tài sản của người chết.
19
Với tư cách là một chế định của Luật dân sự, thừa kế là tổng hợp các quy
phạm pháp luật điều chỉnh sự truyền lại tài sản của người đã chết cho người
Điều 81 của Bộ luật Dân sự.
Như vậy, thời điểm mở thừa kế là thời điểm cá nhân có tài sản thuộc sở
hữu của mình chết. Trong trường hợp một người bị Tòa án tuyên bố là đã chết
thì thời điểm mở thừa kế được quy định theo hướng mở để tạo điều kiện cho
tòa án xác định một người là đã chết. Theo quy định tại Điều 81 Bộ luật dân
sự 2005, người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết
định tuyên bố một người là đã chết trong các trường hợp sau đây: a) Sau ba
năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp
luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống; b) Biệt tích trong chiến
tranh sau năm năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức
xác thực là còn sống; c) Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau một năm,
kể từ ngày tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức
xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; d) Biệt tích
năm năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này
được tính theo quy định tại khoản 1 Ðiều 78 của Bộ luật này. Tùy từng trường
hợp, Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết căn cứ vào
các trường hợp quy định tại khoản 1 Ðiều này. Đây là vấn đề cần phải làm rõ
trong việc xác định thời điểm mở thừa kế cũng như xác định tính pháp lý của
di chúc trong trường hợp người bị tuyên bố là đã chết có để lại di chúc.
Trên thực tế, nhiều trường hợp những người được hưởng di sản thừa kế
của nhau như cha - con, vợ - chồng, mà chết cùng một thời điểm hoặc được
coi là chết cùng một thời điểm thì pháp luật quy định: Trong trường hợp
những người được hưởng thừa kế di sản của nhau mà chết cùng một thời điểm
hoặc được coi chết cùng một thời điểm không xác định được người nào chết
trước, chết sau thì những người đó không được hưởng di sản thừa kế của
nhau, phần di sản của người nào sẽ do những người thừa kế của người đó
hưởng (Điều 641 BLDS 2005) do đó, việc xác định thời điểm mở thừa kế có ý
nghĩa quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề về thừa kế theo di chúc. Cụ
21
22
Ngày nay, mỗi nhà nước, mỗi hệ thống pháp luật trên thế giới lại có
những quy định khác biệt về cùng một vấn đề của quan hệ pháp luật dân sự là
hình thức của di chúc. Sự đa dạng của hình thức di chúc bắt nguồn từ sự
phong phú và đa dạng của cuộc sống con người, từ truyền thống lịch sử của
mỗi quốc gia hay từ đặc điểm riêng biệt của mỗi xã hội. Do đó, nhìn nhận
đúng đắn khái niệm hình thức di chúc có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với
hoạt động lập pháp cũng như áp dụng pháp luật vào giải quyết các vấn đề phát
sinh từ di chúc – một vấn đề không chỉ là những quy định pháp lý đơn thuần
mà còn là vấn đề mang ý nghĩa đạo đức truyền thống sâu sắc. Bởi lẽ, các quy
định pháp luật về hình thức di chúc không rõ ràng, không chặt chẽ sẽ trở
thành nguyên nhân của những bất ổn xã hội, ảnh hưởng đến truyền thống tốt
đẹp của từng quốc gia.
Theo hiểu biết chung, hình thức của di chúc là sự biểu hiện ý chí của
người để lại di sản thừa kế ra bên ngoài thế giới khách quan, chứa đựng nội
dung di chúc theo một trình tự, kết cấu nhất định. Hình thức di chúc là
phương thức biểu hiện ý chí của người lập di chúc; là căn cứ pháp lý làm
phát sinh quan hệ thừa kế theo di chúc, là chứng cứ để bảo vệ quyền lợi cho
người được chỉ định trong di chúc””[17,331]
Bộ luật Dân sự quy định di chúc phải được lập thành văn bản, nếu không
thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng. Người thuộc
dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc
mình.
1.2.2. Vai trò của hình thức di chúc đối với việc thực hiện pháp luật
về thừa kế
Thứ nhất, hình thức của di chúc là cơ sở xác định cá nhân người thừa kế
phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Điều 635-BLDS 2005 qui định "
Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế "
Với đặc trưng cơ bản của sự thừa kế là sự tiếp nối về sở hữu tài sản giữa
người sống với người chết nên người thừa hưởng di sản đương nhiên phải là
24
tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người có tên trong di chúc cũng như
những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác.
1.2.3. Yêu cầu và các nhân tố tác động đến quy định pháp luật về
hình thức của di chúc
1.2.3.1. Yêu cầu của quy định pháp luật về hình thức di chúc
Một trong những điểm cần lưu ý đối với pháp luật về thừa kế theo di
chúc đó là người lập di chúc thường chủ động trong việc lập di chúc căn cứ
vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể để lập di chúc định đoạt tài sản của mình
sau khi chết. Do đó, pháp luật về hình thức di chúc phải tạo điều kiện thuận
lợi cho người lập di chúc trong việc tự do thể hiện ý chí và nguyện vọng của
mình thông qua nội dung cũng như hình thức của di chúc.
Pháp luật Việt nam cũng như các nước thường quy định hình thức của di
chúc dưới hai dạng phổ biến, đó là viết (văn bản) và hình thức lời nói (di chúc
miệng) Tuy vậy, pháp luật các nước thường quy định rất chặt chẽ đối với
hình thức di chúc miệng vì việc giải quyết thừa kế theo di chúc ở mức độ nhất
định có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của người có liên quan đến
người lập di chúc.
Thứ nhất, để hạn chế đến mức thấp nhất các tranh chấp phát sinh từ
hình thức của di chúc, pháp luật về thừa kế theo di chúc cần xác định cụ thể
tiêu chí về trạng thái minh mẫn, sáng suốt của người lập di chúc, vì đây là vấn
đề quan trọng nhất khi giải quyết tranh chấp về hình thức của di chúc. Bởi lẽ,
hiệu lực của di chúc chỉ phát sinh khi người lập di chúc chết nên việc “đối
chứng” về trạng thái minh mẫn, sáng suốt khi lập di chúc là điều không thể
thực hiện được. Trên thực tế, nhiều vụ tranh chấp đã xảy ra liên quan đến việc
người thừa kế tố cáo nhau đã ngụy tạo di chúc, lập di chúc giả hoặc thông
đồng với người có trách nhiệm để làm di chúc giả nhằm chiếm đoạt tài sản
của người chết hoặc chiếm đoạt di sản thừa kế của người khác. Những tranh
chấp này đã dẫn đến những vụ án mạng đau lòng khi những người ruột thịt có
Bên cạnh tính thuận tiện cho người lập di chúc, pháp luật về hình thức di
chúc còn phải bảo đảm tính đa dạng, đáp ứng các yêu cầu, nguyện vọng khác
26
nhau của người lập di chúc. Cụ thể, trong các quy định pháp luật hiện hành
của nước ta mới chỉ ghi nhận hai hình thức cơ bản là di chúc bằng văn bản và
di chúc miệng. Theo pháp luật các nước, các hình thức di chúc bí mật, di chúc
được ghi âm, ghi hình cũng được coi là những hình thức di chúc khá phổ biến
hiện nay. Nhiều người không muốn lập di chúc bằng văn bản hoặc công
chứng, chứng thực vì họ sợ ảnh hưởng đến việc định đoạt và thể hiện ý chí
của mình trong nội dung của di chúc. Việc ghi nhận tính đa dạng của các hình
thức di chúc kết hợp với các điều kiện pháp lý cụ thể đối với từng hình thức di
chúc sẽ tạo thuận lợi cho người lập di chúc trong việc tự do thể hiện ý chí của
mình đối với phần di sản thừa kế.
1.2.3.2. Các nhân tố tác động đến pháp luật về hình thức của di chúc
Pháp luật ghi nhận hình thức của di chúc chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân
tố khác nhau trong đó phải kể đến một số các nhân tố điển hình có tác động
trực tiếp đến sự phát triển của pháp luật về thừa kế nói chung cũng như là
pháp luật về hình thức của di chúc nói riêng:
Thứ nhất, trình độ phát triển của pháp luật về thừa kế theo di chúc.
Pháp luật dân sự cũng như pháp luật thừa kế đã được hình thành từ rất
sớm. Bên cạnh đó, các quy định pháp luật về thừa kế theo di chúc, về hình
thức của di chúc cũng ngày càng được kế thừa và hoàn thiện cho phù hợp với
nhu cầu của con người và sự phát triển của xã hội. Chính vì vậy, trình độ phát
triển của pháp luật về thừa kế sẽ có những tác động tích cực đến việc hoàn
thiện các quy định pháp luật về hình thức di chúc.
Thứ hai, trình độ nhận thức của người dân và truyền thống đạo đức của
dân tộc.
Là nước coi trọng đại hiếu, người Việt Nam thường không đề cập đến
vấn đề thừa kế khi người lập di chúc còn sống. Người lập di chúc không
Di chúc miệng được coi là hợp pháp khi nó đảm bảo các điều kiện sau:
+ Phải là sự thể hiện ý chí cuối cùng của người để lại di sản trước mặt ít
nhất hai người làm chứng.