Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong tố tụng dân sự - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGŨ THỊ NHƢ HOA NGUY£N T¾C TR¸CH NHIÖM CUNG CÊP TµI LIÖU, CHøNG Cø
CñA C¸ NH¢N, C¥ QUAN, Tæ CHøC Cã THÈM QUYÒN
TRONG Tè TôNG D¢N Sù Chuyên ngành: Luật dân sự
Mã số: 60 38 30 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC



MỤC LỤC

Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC
TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ CỦA
CÁ NHÂN, CƠ QUAN, TỔ CHỨC CÓ THẨM QUYỀN
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 7
1.1 Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài
liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền 7
1.1.1 Khái niệm nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của
cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền 7
1.1.2 Ý nghĩa của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ
của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền 13
1.2 Cơ sở của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của
cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền 15
1.3 Sự hình thành và phát triển của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp
tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam 25
1.4 Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân,
cơ quan, tổ chức theo pháp luật tố tụng dân sự của một số nƣớc
trên thế giới 36
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 41
3.2.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp
tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền 101
3.2.2. Kiến nghị về thực hiện nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu,
chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền 106
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 112
KẾT LUẬN CHUNG 113
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLTTDS : Bộ luật tố tụng dân sự

trên thế giới đều công nhận và bảo hộ các quyền, lợi ích chính đáng của các
chủ thể. Khi tham gia vào các quan hệ xã hội các chủ thể phải thực hiện đúng
các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Việc một chủ thể
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ quyền, nghĩa vụ
của mình có thể xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác,
dẫn đến tranh chấp. Để duy trì trật tự xã hội, Nhà nƣớc phải thiết lập cơ chế
pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể. Một trong số đó là cơ
chế về tố tụng.
Hiện nay, Việt Nam đang đứng trƣớc những cơ hội và thách thức của
tiến trình hội nhập, một tiến trình không thể đảo ngƣợc trên con đƣờng phát
triển đất nƣớc. Việc gia nhập vào tổ chức thƣơng mại thế giới, tham gia vào
các công ƣớc quốc tế, ký kết nhiều hiệp định song phƣơng và đa phƣơng với
các nƣớc, thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài đã làm cho các giao lƣu dân sự, thƣơng
mại phát triển một cách mạnh mẽ và đa dạng.
Để đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh của các quan hệ dân sự, quan
hệ thƣơng mại đó đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh nó.
Bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật nội dung thì việc hoàn thiện pháp luật tố
tụng cũng là một nhu cầu rất cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của các chủ thể trong trƣờng hợp có tranh chấp hoặc bị xâm phạm. Một cơ
chế tố tụng có hiệu quả có vai trò rất quan trọng để các chủ thể yên tâm và,
hơn nữa, thúc đẩy họ tham gia tích cực vào các giao lƣu dân sự, thƣơng mại
2

trên thị trƣờng góp phần thúc đẩy kinh tế tăng trƣởng, xã hội phát triển. Chính
vì vậy, Bộ luật tố tụng dân sự 2004 đã ra đời với nhiều điểm mới cả về nội
dung và hình thức khắc phục kịp thời những hạn chế tồn tại của pháp lệnh thủ
tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 đáp ứng tích cực yêu cầu của quá
trình hội nhập. Bộ luật tố tụng dân sự 2004 với nội dung phong phú quy định
khá cụ thể những vấn đề liên quan đến hoạt động tƣ pháp của nƣớc ta hiện
nay, trong đó vấn đề chứng cứ trong tố tụng dân sự đƣợc quan tâm sửa đổi

trong các quy định hiện hành về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu,
chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Ngoài ra việc nghiên cứu cũng nhằm
chỉ ra một số vƣớng mắc, khó khăn trên thực tế khi thực hiện nguyên tắc trách
nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật đồng thời
nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng
cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trên thực tế.
- Phạm vi nghiên cứu:
Với mục đích nghiên cứu trên, Luận văn tập trung nghiên cứu về pháp
luật hiện hành và thực tiễn thực hiện nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu,
chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tại một số Tòa án địa
phƣơng. Tuy nhiên, một số vấn đề lý luận cơ bản về nguyên tắc trách nhiệm
cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cũng
đƣợc tiến hành nghiên cứu nhằm tạo cơ sở cho việc đánh giá luật thực định và
đề xuất kiến nghị. Ngoài ra, Luận văn có mở rộng nghiên cứu quy định của
pháp luật một số nƣớc về trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân,
cơ quan, tổ chức trong tố tụng dân sự. Tuy nhiên, việc nghiên cứu chỉ nhằm
mục đích so sánh, tham khảo mà không nghiên cứu sâu quy định về trách
nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong tố tụng
4

dân sự của Tòa án nƣớc ngoài. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài sẽ đƣợc giới
hạn trong phạm vi sau đây:
- Nghiên cứu khái niệm, ý nghĩa và cơ sở hình thành nguyên tắc trách
nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền trong tố tụng dân sự.
- Nghiên cứu lƣợc sử pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về nguyên
tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền trong tố tụng dân sự và so sánh, tham khảo pháp luật một số
nƣớc trên thế giới.

công trình nào nghiên cứu về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng
cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Có thể nói đây là công trình
đầu tiên tiếp cận nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này ở cấp độ thạc sỹ.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Dựa trên quan điểm, quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử, tôn trọng sự thật khách quan của sự vật hiện tƣợng,
xem xét vấn đề một cách một cách toàn diện.
- Sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu chuyên ngành nghiên cứu
chuyên sâu các vấn đề dƣới góc độ pháp luật nhƣ phƣơng pháp phân tích,
tổng hợp, so sánh.
5. Đóng góp của đề tài
Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống về nguyên tắc trách
nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền trong tố tụng dân sự - có thể coi là công trình đầu tiên tiếp cận nghiên
cứu chuyên sâu về vấn đề này ở cấp độ thạc sỹ, cụ thể là:
Thứ nhất: Lần đầu tiên nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu,
chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong tố tụng dân sự
6

đƣợc nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện cả về cơ sở lý luận cũng
nhƣ thực tiễn từ khái niệm, ý nghĩa, cơ sở hình thành và lƣợc sử phát triển của
nguyên tắc, làm bật bản chất và trọng tâm của vấn đề nghiên cứu. Luận văn
cũng đã tiếp cận và làm rõ đƣợc trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong
việc cung cấp đầy đủ, đúng thời hạn tài liệu, chứng cứ mà mình đang quản lý, lƣu
giữ, đồng thời làm rõ các trách nhiệm pháp lý có thể đƣợc áp dụng khi cá nhân, cơ
quan, tổ chức không thực hiện trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của mình.
Thứ hai: Quá trình nghiên cứu đề tài đã tìm ra đƣợc những tồn tại, bất cập
trong công tác xây dựng và thực tiễn thực hiện nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài
liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Từ đó đƣa ra những đề
xuất, kiến nghị để góp phần vào việc hoàn thiện các quy định của pháp luật cũng

việc” [48, tr.1217]. Theo đó, nguyên tắc của một ngành luật cũng đƣợc xây
dựng dựa trên nền tảng này. Pháp luật của các nhà nƣớc nói chung và pháp
luật Việt Nam nói riêng đều đƣợc thiết lập dựa trên những nguyên tắc nhất
định, đó là những tƣ tƣởng pháp lý chỉ đạo có tính chất xuất phát điểm, thể
hiện sự toàn diện và có ý nghĩa bao quát, quyết định sự đúng đắn về nội dung,
chất lƣợng và hiệu quả của pháp luật, cũng nhƣ quá trình xây dựng, thực hiện
và bảo vệ pháp luật.
Việc xây dựng các quy định cụ thể của pháp luật tố tụng dân sự và thực
tiễn tố tụng dân sự tại Toà án cũng phải trên cơ sở những nguyên tắc nhất
định. Đó là những quy phạm chỉ đạo, mang tính chất cơ sở, nền tảng cho toàn
bộ quy trình TTDS. Các quy phạm này là một bộ phận cấu thành của pháp
luật TTDS, có tính ổn định, bền vững, ít thay đổi hơn so với các quy phạm
pháp luật TTDS khác. Tuy nhiên, sự ổn định đó chỉ mang tính chất tƣơng đối
và có thể thay đổi cho phù hợp hơn với các điều kiện kinh tế - xã hội.
Vấn đề chứng minh và chứng cứ là những vấn đề có tính quan trọng
8

hàng đầu trong việc xác định sự thật khách quan, bảo vệ quyền lợi hợp pháp
của các đƣơng sự. Do vậy, pháp luật ngoài việc phải định ra các nguyên tắc về
cung cấp chứng cứ và chứng minh (mối quan hệ giữa đƣơng sự và Toà án)
cũng cần phải xây dựng bên cạnh đó nguyên tắc về trách nhiệm cung cấp
chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (mối quan hệ phối hợp
giữa Toà án và các chủ thể khác) nhằm tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động tố
tụng dân sự của Toà án đƣợc tiến hành thuận lợi.
Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền trong tố tụng dân sự là một trong những nguyên
tắc cơ bản trong TTDS đã đƣợc ghi nhận tại Điều 7 Bộ luật tố tụng dân sự
2004 và đƣợc sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011. Đây là một nguyên tắc mới
đƣợc đƣa vào trong pháp luật tố tụng dân sự, do vậy, việc nghiên cứu, tìm

không hợp tác hoặc chậm trễ trong việc cung cấp những tài liệu, giấy tờ, văn
bản có liên quan đến vụ việc dân sự.
Chính vì vậy, pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, một mặt đề cao
trách nhiệm chứng minh của đƣơng sự với vai trò hỗ trợ của Toà án nhằm
phát huy hơn nữa vai trò tích cực, chủ động của đƣơng sự trong việc bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của mình, mặt khác ràng buộc trách nhiệm của các
cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc tạo điều kiện thuận lợi
để đƣơng sự và Toà án có thể tiếp cận tài liệu, chứng cứ một cách công khai,
bình đẳng và minh bạch.
Việc nghiên cứu cho thấy trong tố tụng dân sự, trách nhiệm cung cấp
tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đƣợc quy định
là một nguyên tắc cơ bản của luật TTDS. Tuy nhiên, trong tố tụng hình sự,
trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức chƣa đƣợc quy
10

định là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự. Điều 65
Bộ luật tố tụng hình sự 2003 chỉ quy định chung là:
Để thu thập chứng cứ, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà
án có quyền triệu tập những ngƣời biết về vụ án để hỏi và nghe họ
trình bày về những vấn đề có liên quan đến vụ án, trƣng cầu giám
định, tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt động điều tra
khác theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá
nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ
vụ án…[19]
Nhƣ vậy, pháp luật tố tụng hình sự mới chỉ quy định một cách chung
chung về quyền yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án mà
không quy định về trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi không thực
hiện yêu cầu này.
Để có thể đƣa ra khái niệm đầy đủ về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp
tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong tố tụng

tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Quyền yêu cầu cung cấp chứng cứ, tài
liệu cần đƣợc trao cho Viện kiểm sát để chủ thể này thực hiện chức năng kháng
nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm. Theo đó, để đảm bảo
cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc
thẩm và tái thẩm, Viện kiểm sát cũng có quyền yêu cầu đƣơng sự, cá nhân, cơ
quan, tổ chức cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng.
Quyền yêu cầu này đƣợc thực hiện trƣớc hết là trong trƣờng hợp Viện
kiểm sát thu thập hồ sơ, tài liệu, vật chứng để bảo đảm thực hiện quyền kháng
nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Ngoài ra, quyền yêu
cầu cung cấp chứng cứ, tài liệu của Viện kiểm sát còn đƣợc thực hiện ngay cả
khi đã kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, nhằm bảo
12

vệ quan điểm kháng nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa, phiên họp phúc
thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Nhƣ vậy, quyền yêu cầu cung cấp chứng cứ,
tài liệu của Viện kiểm sát có thể thực hiện vào thời điểm xem xét việc kháng
nghị, hoặc cũng có thể thực hiện sau khi đã thực hiện quyền kháng nghị theo
thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm.
Việc cung cấp chứng cứ, tài liệu đƣợc hiểu là việc mà cá nhân, cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền buộc phải thực hiện khi đƣợc yêu cầu, nó đƣợc coi là
một nghĩa vụ tố tụng dân sự đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức, nếu không
thực hiện nghĩa vụ thì sẽ phải gánh chịu một hậu quả. Trách nhiệm đó thể
hiện ở việc cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lƣu giữ chứng cứ, tài liệu
phải cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ, tài liệu theo yêu cầu của đƣơng sự
để họ có thể cung cấp chứng cứ, tài liệu cho Toà án theo đúng thời hạn luật
định. Đối với Toà án, Viện kiểm sát - là các cơ quan tiến hành tố tụng thì cá
nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lƣu giữ chứng cứ, tài liệu phải cung cấp
đầy đủ, kịp thời chứng cứ, tài liệu trong thời hạn do các chủ thể này ấn định
để bảo đảm cho việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này.
Pháp luật cũng cần phải đặt ra chế tài đối với trƣờng hợp cá nhân, cơ quan, tổ

có trƣờng hợp chứng cứ của vụ việc đang do cá nhân, cơ quan, tổ chức khác
lƣu giữ. Khi đó, để thực hiện đƣợc nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà án thì
đƣơng sự có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lƣu giữ chứng cứ
cung cấp chứng cứ đó cho mình. Theo đó, khi chứng cứ do cá nhân, cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền lƣu giữ, quản lý thì chủ thể đầu tiên có quyền yêu cầu
cung cấp chứng cứ là đƣơng sự, và chỉ khi đƣơng sự không thể tự mình thu
thập đƣợc thì Toà án mới tiến hành thu thập chứng cứ. Nhƣ vậy, quy định này
đã mang lại ý nghĩa to lớn trong việc giúp đƣơng sự thực hiện đƣợc quyền và
nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của mình, phát huy hơn nữa vai trò chủ động,
14

tích cực của họ trong việc giải quyết tranh chấp vì lợi ích của chính mình, tạo
điều kiện để họ có thể bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Ngoài ý nghĩa với đƣơng sự, nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu,
chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức còn có ý nghĩa trong việc giúp Toà án
có đầy đủ cơ sở để giải quyết đúng đắn, nhanh chóng vụ việc dân sự. Trong
TTDS chứng cứ có vai trò vô cùng quan trọng đối với việc giải quyết vụ việc
dân sự của Toà án, là phƣơng tiện quan trọng để Toà án nhận biết đƣợc sự
thật của vụ việc, giải quyết đƣợc vụ việc dân sự một cách công minh, có căn
cứ và hợp pháp. Khi chứng cứ đƣợc cung cấp cho Toà án một cách trung thực
và đầy đủ, chắc hẳn việc giải quyết vụ án sẽ đơn giản và nhanh chóng hơn rất
nhiều. Vì vậy, khi cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đang lƣu giữ,
quản lý chứng cứ thì chứng cứ đó phải đƣợc cung cấp cho Toà án cho dù họ
không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quan hệ pháp luật đang có tranh
chấp. Việc quy định trách nhiệm này sẽ giúp cho Toà án có đầy đủ chứng cứ,
có cơ sở để làm rõ sự thật của vụ việc, và đƣa ra phán quyết cuối cùng một
cách chính xác. Đồng thời, nguyên tắc này cũng quy định việc cung cấp
chứng cứ phải đƣợc thực hiện kịp thời, trong thời hạn luật định. Điều này sẽ
giúp Toà án giải quyết đƣợc nhanh chóng vụ việc dân sự, tránh đƣợc trƣờng
hợp vi phạm thời hạn tố tụng hoặc dẫn đến án tồn đọng do sự chậm trễ cung

Viện kiểm sát có cơ sở để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình một cách
đúng đắn, kịp thời, đồng thời, góp phần nâng cao trách nhiệm phối hợp của
các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc giải quyết vụ việc dân sự.
1.2 CƠ SỞ CỦA NGUYÊN TẮC TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP TÀI LIỆU,
CHỨNG CỨ CỦA CÁ NHÂN, CƠ QUAN, TỔ CHỨC CÓ THẨM QUYỀN
Trong TTDS, để đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc dân sự đƣợc nhanh
chóng, đúng đắn, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đƣơng sự,
16

pháp luật đã ghi nhận nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của
cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Nguyên tắc này xác định trách nhiệm
của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải cung cấp đầy đủ, đúng thời
hạn chứng cứ, tài liệu do mình quản lý, lƣu giữ khi có yêu cầu của đƣơng sự,
Toà án, hoặc Viện kiểm sát và phải chịu trách nhiệm trƣớc pháp luật về việc
cung cấp tài liệu, chứng cứ đó. Nguyên tắc này đƣợc hình thành và phát triển là
dựa trên những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn nhất định.
- Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân,
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được xây dựng trên cơ sở chủ trương,
đường lối của Đảng về hoàn thiện pháp luật và cải cách tư pháp.
Theo đánh giá tình hình công tác tƣ pháp trong những năm qua tại Nghị
quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, công tác tƣ pháp đã đạt đƣợc nhiều kết
quả, góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội, bảo vệ lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân… Tuy nhiên, chất lƣợng
công tác tƣ pháp nói chung vẫn chƣa ngang tầm với yêu cầu và đòi hỏi của
nhân dân. Một trong những nguyên nhân của tồn tại, hạn chế đó là vì pháp luật
trong lĩnh vực tƣ pháp chƣa hoàn thiện, chƣa đồng bộ và còn nhiều sơ hở.
Để khắc phục những hạn chế nói trên, Đảng ta đã đƣa ra một số quan
điểm chỉ đạo, nhiệm vụ nhằm đẩy mạnh công tác tƣ pháp trong thời gian tới.
Liên quan đến việc hoàn thiện pháp luật về tƣ pháp, Nghị quyết 08-NQ/TW
đã đƣa ra nhiệm vụ khẩn trƣơng ban hành Bộ luật tố tụng dân sự và một số

có quy định: “…Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp
trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” [17].
Nhƣ vậy, theo quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nƣớc ta, quyền lực
18

nhà nƣớc là thống nhất, không phân chia nhƣng trong tổ chức bộ máy nhà
nƣớc XHCN có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp
và tƣ pháp. Đó là sự phân công lao động hợp lý giữa các hệ thống cơ quan
nhà nƣớc và giữa các cơ quan trong từng hệ thống, tránh sự chồng chéo, mâu
thuẫn giữa ba quyền cũng nhƣ trong nhiệm vụ, chức năng của từng cơ quan,
bảo đảm sự vận hành nhịp nhàng của từng cơ quan, sự phối hợp đồng bộ của
cả bộ máy nhà nƣớc thực hiện quyền lực tập trung của nhà nƣớc. Đối với hoạt
động tƣ pháp, để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, các cơ quan tƣ
pháp cần phải có sự phối hợp, hỗ trợ của các cơ quan lập pháp và hành pháp.
Đặc biệt, Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết 49-NQ/TW
ngày 02/6/2005 đều đƣa ra quan điểm chỉ đạo phát huy sức mạnh tổng hợp
của toàn xã hội tham gia vào công tác tƣ pháp. Các cơ quan tƣ pháp phải dựa
vào nhân dân để hoạt động, đồng thời phải là lực lƣợng nòng cốt, là chỗ dựa
vững chắc của nhân dân trong đấu tranh phòng chống tội phạm, các hành vi vi
phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp.
Nhƣ vậy, để hoạt động tƣ pháp đạt hiệu quả tốt nhất thì cần có sự tham
gia phối hợp của nhân dân, của toàn xã hội, trong đó có các cơ quan nhà nƣớc
và các tổ chức. Sự phối hợp này có thể đƣợc thực hiện trong nhiều khâu,
nhiều hoạt động cụ thể của hoạt động tƣ pháp, trong đó có hoạt động xét xử.
Để thực hiện tốt hoạt động xét xử, đƣa ra đƣợc những bản án, quyết định một
cách công minh, đúng pháp luật, thì công tác thu thập chứng cứ đóng một vai
trò quan trọng. Trong tố tụng dân sự, chứng cứ trƣớc hết sẽ do đƣơng sự cung
cấp. Tuy nhiên, trong một số trƣờng hợp, đƣơng sự không lƣu giữ chứng cứ
mà do cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền lƣu giữ, quản lý thì rất cần sự
hỗ trợ, phối hợp từ phía các cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Sự hỗ

hạn, khi cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền yêu cầu cá nhân cung cấp chứng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status