ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG
NĂNG LỰC CHỊU TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
NGOÀI HỢP ĐỒNG CỦA CÁ NHÂN
Chuyên ngành: Luật dân sự
Mã số: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS Phùng Trung Tập
HÀ NỘI - 2013
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Tính mới và những đóng góp của đề tài 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5. Cơ cấu của luận văn 4
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CHỊU TRÁCH
NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
CỦA CÁ NHÂN 5
1.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 5
1.1.1. Khái niệm 5
1.1.2. Đặc điểm 7
1.1.3. Ý nghĩa của việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng 11
1.1.4. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng của cá nhân 12
1.2. Sơ lược lịch sử phát triển các quy định về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân trong pháp luật dân sự Việt Nam 15
1.2.1. Giai đoạn trước năm 1945 15
1.2.2. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước 1995 18
1.2.3. Giai đoạn từ năm 1995 đến trước năm 2005 24
1.2.4. Giai đoạn từ năm 2005 đến nay 26Chương 2: NĂNG LỰC CHỊU TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CỦA CÁ NHÂN THEO
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 28
2.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân có đầy đủ năng lực
3.1.3. Nội dung vu án thứ 3 72
3.2. Giải pháp hoàn thiện những qui định của pháp luật về năng lực chịu
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân. 76
3.2.1. Về khía cạnh lập pháp 76
3.2.2. Tuyên truyền giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức của nhân
dân về chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 80
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
1
BLDS
: Bộ luật dân sự
2
BTTH
: Bồi thường thiệt hại
3
BL
: Bút lục
4
TANDTC
: Tòa án nhân dân tối cao
tiễn. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng vẫn được
pháp luật điều chỉnh, song chịu ảnh hưởng của các quan hệ đạo đức, truyền
thống, phong tục tập quán. Hơn nữa, các quy định pháp luật nước ta về trách 2
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chưa có sự gắn kết với các quy định
trong những phần khác của BLDS gây ra tình trạng khó áp dụng trong thực tiễn
tại các Tòa án, nhất là các vụ việc có liên quan đến việc xác định năng lực chịu
trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân theo hợp đồng và ngoài hợp đồng.
Vì vậy, vấn đề xác định năng lực chủ thể trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp
đồng luôn luôn đặt ra cho các nhà làm luật, những người thừa hành pháp luật
cũng như các nhà nghiên cứu luật pháp những vấn đề nan giải khi tiếp cận.
Xuất phát từ đó tôi chọn đề tài: “Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng của cá nhân” để làm luận văn thạc sĩ.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu chung của đề tài là làm rõ cơ sở lí luận và thực trạng quy định
của pháp luật về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân
trong pháp luật dân sự Việt Nam. Từ đó đưa ra các kiến nghị, đề xuất nhằm
hoàn thiện các quy định của pháp luật trong vấn đề này, bảo đảm cho việc
nhận thức và áp dụng chúng một cách thống nhất trong thực tiễn.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Thứ nhất, xây dựng một khái niệm khoa học về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng, đưa ra cơ sở lý luận của việc xác định năng lực bồi
thường thiệt hại theo quy định trong BLDS Việt Nam. Đồng thời, luận văn
đưa ra một số trường hợp ngoại lệ trong việc vận dụng các điều kiện phát sinh
trách nhiệm liên đới trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Thứ hai, nhận thức đúng việc áp dụng các quy định của BLDS hiện
hành về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng áp dụng tại các Tòa án
sự về xác định năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân tại
các Tòa án Việt Nam.
Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong BLDS bao gồm 4
nhiều vấn đề và nội dung rộng lớn như các điều kiện phát sinh trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng, thời hiệu khởi kiện, cách thức xác định thiệt hại vật chất và tinh
thần… Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ tác giả chỉ tập trung
nghiên cứu làm rõ vấn đề liên quan đến năng lực chịu trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân quy định tại Điều 606 BLDS 2005.
5. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân.
Chương 2: Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng của cá nhân theo quy định của pháp luật hiện.
Chương 3: Thực trạng áp dụng pháp luật để giải quyết những tranh
chấp liên quan đến xác định năng lực trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá
nhân và những giải pháp hoàn thiện pháp luật.
5
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CHỊU TRÁCH NHIỆM
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CỦA CÁ NHÂN
- Người gây ra thiệt hại có lỗi;
- Mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật.
Như vậy, thiệt hại do hành vi trái pháp luật là căn cứ làm phát sinh
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Mọi hành vi xâm phạm đến
người khác, tài sản hợp pháp của người khác đều có khả năng gánh chịu một
hay một số loại trách nhiệm pháp lý mà chủ yếu là trách nhiệm bồi thường
những tổn thất do hành vi trái pháp luật gây ra. Có hành vi trái pháp luật là cơ
sở xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Giữa người gây
thiệt hại và người bị thiệt hại lúc này phát sinh quan hệ mà người gây thiệt hại
phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
Từ sự phân tích trên ta có thể rút ra khái niệm trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng như sau: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh giữa các chủ thể mà trước đó không có
quan hệ hợp đồng hoặc tuy có quan hệ hợp đồng nhưng hành vi của người
gây ra thiệt hại không thuộc về nghĩa vụ thi hành theo hợp đồng đã giao kết.
Từ khái niệm đó ta có thể hiểu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh giữa người gây thiệt hại và người bị
thiệt hại mà trước đó giữa họ không có quan hệ hợp đồng nào và thậm chí
giữa họ có thể chưa bao giờ tồn tại một quan hệ cụ thể, chẳng hạn việc bồi
thường phát sinh trong các tai nạn giao thông, trong các vụ ẩu đả…, hoặc tuy
có quan hệ hợp đồng nhưng việc gây thiệt hại không liên quan đến nghĩa vụ
thực hiện hợp đồng. Ngoài ra còn tồn tại khả năng là các quyền, lợi ích bị
xâm phạm vốn đã được pháp luật bảo vệ một cách mặc định, cho dù các bên 7
có tồn tại quan hệ hợp đồng hay không ví dụ như việc bồi thường thiệt hại của
chủ xe chở hành khách khi tai nạn xảy ra được xác định là trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và trong nhiều trường hợp là cả
Như vậy, trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thời điểm phát sinh nghĩa
vụ và trách nhiệm bồi thường xuất hiện cùng một lúc nên thiệt hại vừa là điều
kiện phát sinh nghĩa vụ bồi thường, vừa là điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi
thường. Nói cách khác nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh
ngay khi phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp
luật mà không dựa trên cơ sở sự thỏa thuận của các bên như trong quan hệ
hợp đồng. Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, hành vi
trái pháp luật đóng vai trò là nguyên nhân làm phát sinh hậu quả là thiệt hại.
Một người chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với những thiệt hại xảy
ra là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật - là nguyên nhân trực tiếp hoặc
là nguyên nhân có ý nghĩa quyết định đối với thiệt hại đã xảy ra. Điều này
nhằm phân biệt với bồi thường thiệt hại trong hợp đồng. Trong bồi thường
theo hợp đồng, xác định nghĩa vụ và thực hiện trách nhiệm phát sinh ở hai
thời điểm khác nhau, có nghĩa là vào trước lúc phát sinh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại theo hợp đồng thì các chủ thể đã ký kết và thỏa thuận với
nhau về nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do bên nào có vi phạm hợp đồng và
việc phạt vi phạm chỉ xẩy ra khi một bên vi phạm hợp đồng, gây thiệt hại cho
bên kia. Cho nên, đối với quan hệ hợp đồng thì thiệt hại xảy ra chỉ là điều
kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
- Cơ sở của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoàn toàn
do luật định: cơ sở phát sinh, chủ thể chịu trách nhiệm, cách thức bồi thường,
mức bồi thường… được pháp luật quy định sẵn mà không phụ thuộc vào thỏa
thuận trước của các bên. Do đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp 9
đồng được quy định và áp dụng hoàn toàn nằm ngoài ý chí của các chủ thể
tham gia quan hệ pháp luật dân sự. Vì giữa các chủ thể trong quan hệ bồi
thường ngoài hợp đồng không có quan hệ hợp đồng, thậm chí chưa từng có
một quan hệ cụ thể nào hoặc có những sự kiện gây thiệt hại không nằm trong
thiệt hại mà còn có các thiệt hại trong tương lai có quan hệ nhân quả với hành
vi gây thiệt hại. Hơn nữa, người gây thực hiện không chỉ phải bồi thường các
thiệt hại xảy ra trực tiếp cho người bị thiệt hại mà cho cả các chủ thể có liên
quan chẳng hạn bồi thường thu nhập giảm sút cho người chăm sóc người phải
nằm bệnh viện, hoặc việc bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người thân của
người bị thiệt hại về tính mạng.
- Khi bồi thường thiệt hại phải đảm bảo bốn nguyên tắc sau đây: Thiệt
hại phải được bồi thường toàn bộ; bồi thường phải kịp thời; người gây thiệt
hại có thể được giảm mức bồi thường với 2 điều kiện là thiệt hại do lỗi vô ý
và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của
người gây thiệt hại; mức bồi thường thiệt hại phải phù hợp với thực tế.
- Đối với bồi thường ngoài hợp đồng, khi chủ thể thực hiện xong trách
nhiệm bồi thường cũng đồng thời là chấm dứt quan hệ nghĩa vụ giữa các bên,
nhưng đối với nghĩa vụ hợp đồng thì việc bồi thường thiệt hại thì không giải
phóng người có nghĩa vụ khỏi trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ một cách thực
tế (giao vật, thực hiện công việc). Ví dụ, A làm hư hại tài sản của B do A cố
tình phá tài sản của B do mẫu thuẫn gia đình thì sau khi A bồi thường cho B,
quan hệ giữa A và B chấm dứt. Ngược lại, nếu A phải giao cho B một tài sản
theo hợp đồng những vì lý do nào đó cá nhân A không giao đúng thời hạn. Do
không giao đúng thời hạn nên hoạt động của B bị ảnh hưởng và làm phát sinh
một số chi phí. Ở đây hành vi không thực hiện đúng hợp đồng của A gây thiệt
hại cho B nên A có trách nhiệm bồi thường. Việc A bồi thường không làm
chấm dứt quan hệ tài sản giữa họ vì B có quyền yêu cầu A giao tài sản đã thỏa 11
thuận. Khác với việc bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, các bên có thể thỏa
thuận về việc chấm dứt quan hệ hợp đồng sau khi đã bồi thường hoặc trong
trường hợp ngược lại nếu các bên không có thỏa thuận thì quan hệ hợp đồng
vẫn tồn tại cho đến khi chấm dứt trong các trường hợp luật định.
bảo cho việc bù đắp những tổn thất cho người bị thiệt hại do hành vi trái pháp
luật gây thiệt hại. Thông qua việc áp dụng trách nhiệm, các biện pháp chế tài
giúp cho chủ thể nhận thức được hậu quả bất lợi mà mình sẽ phải gánh chịu
khi thực hiện hành vi gây thiệt hại trái pháp luật, và do đó có tác dụng phòng
ngừa các hành vi vi phạm pháp luật. Đồng thời giáo dục ý thức tuân thủ pháp
luật, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác.
Khi phát sinh tranh chấp, chế định bồi thường này sẽ là cơ sở và điều
kiện cho hoạt động xét xử, giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực bồi thường
thiệt hại một cách nhanh chóng, chính xác, công minh và khách quan góp
phần bảo vệ tài sản, tính mạng, sức khoẻ, danh dự của cá nhân; tài sản, danh
dự, uy tín của các tổ chức.
1.1.4. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng của cá nhân
Chủ thể gây ra hành vi trái pháp luật có thể là bất cứ ai: cá nhân, pháp
nhân, cơ quan nhà nước… nhưng không phải mọi chủ thể gây thiệt hại đều có
năng lực chịu trách nhiệm bồi thường. Xuất phát từ năng lực chủ thể của cá
nhân khi tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự, BLDS qui định năng lực
chịu trách nhiệm của cá nhân phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi và khả
năng kinh tế. Việc xác định rõ chủ thể nào phải bồi thường thiệt hại để qui
trách nhiệm cho người đó phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Đồng
thời, nhằm bảo vệ lợi ích của người bị thiệt hại hoặc nhân thân của người bị
thiệt hại, để có căn cứ yêu cầu bồi thường thiệt hại, bảo đảm tính nghiêm
minh của pháp luật. 13
Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường của cá nhân theo pháp luật hiện
hành được quy định tại Điều 606 BLDS 2005:
“1. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
2. Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha,
thường của cá nhân và xác định cá nhân gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm
bồi thường cho người bị thiệt hại theo mức độ năng lực hành vi dân sự khác
nhau. Pháp luật căn cứ vào điều kiện về độ tuổi và sự phát triển của trí tuệ,
nhận thức; căn cứ vào khả năng tạo lập tài sản của cá nhân để có cơ sở xác
định trong trường hợp cá nhân khi gây thiệt hại cho người khác, thì trách
nhiệm bồi thường được thực hiện với những mức độ nào.
Bản chất của việc bồi thường thiệt hại nói chung và bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng nói riêng là khôi phục, bù đắp những mất mát, tổn thất về mặt
tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín, sức khỏe cho người bị thiệt hại thông qua
trách nhiệm tài sản. Do đó, việc xác định chủ thể nào là người có nghĩa vụ bồi
thường thiệt hại là yếu tố đầu tiên cần xét đến để định rõ trách nhiệm. Pháp
luật dân sự quy định khá rõ chủ thể có năng lực trách nhiệm bồi thường thiệt
hại để bảo đảm quyền lợi của người bị thiệt hại. Có thể thấy người gây thiệt
hại là người chưa thành niên, người mất hay hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Đó là những người bị hạn chế về khả năng nhận thức, khả năng điều khiển
hành vi, pháp luật quy định những chủ thể này không phải chịu trách nhiệm
bồi thường. Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định đối tượng trên cần phải có
người giám sát, chăm sóc… như cha, mẹ hoặc người giám hộ. Vì vậy, khi có
thiệt hại xảy ra những người giám hộ phải đóng vai trò đại diện cũng như chịu
trách nhiệm thay họ. Từ việc xác định được chủ thể bồi thường thiệt hại, ta có
thể giải quyết nhanh chóng, chính xác tranh chấp, khắc phục sớm tổn thất cho
người bị thiệt hại.
Việc quy định chủ thể nào có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại có ý nghĩa 15
hết sức quan trọng, vừa quy trách nhiệm bồi thường cho người đó, vừa là căn
cứ để xác định tư cách chủ thể trong tố tụng dân sự, ai là bị đơn dân sự phải
bồi thường theo trách nhiệm dân sự trước Tòa án trong trường hợp cá nhân
gây thiệt hại cho người khác. Đồng thời nó còn có ý nghĩa ràng buộc trách
này vừa có tính chất là hình phạt vừa có tính chất là bồi thường. Trong đó các
quy định mang tính chất dân sự đều theo hướng có lợi cho người bị thiệt hại
như một khoản bồi thường. Mức độ bồi thường phụ thuộc vào nhân thân của
người bị thiệt hại. Theo Điều 29 Bộ luật Hồng Đức thì tiền đền mạng được ấn
định tùy theo phẩm trật của kẻ bị chết như sau: Nhất phẩm, tòng nhất phẩm
được đền 15.000 quan, nhị phẩm, tòng nhị phẩm 9.000 quan, tam phẩm, tòng
tam phẩm 7.000 quan, tứ phẩm, tòng tứ phẩm 5.000 quan, ngũ phẩm, tòng
ngũ phẩm 2.000 quan, lục phẩm, tòng lục phẩm 1.000 quan, thất phẩm, tòng
thất phẩm 500 quan, bát phẩm đến cửu phẩm 300 quan, thứ dân trở xuống 150
quan. Trong trường hợp đánh người gây thương tích thì người phạm tội ngoài
hình phạt bị đánh roi còn phải bồi thường cho nạn nhân theo mức đã được
quy định trong Điều 466 Bộ luật Hồng Đức: “Sưng phù thì phải đền tiền
thương tổn 3 tiền, chảy máu thì phải 1 quan, gãy một ngón tay, một răng thì
đền 10 quan, đâm chém. Bị thương thì 15 quan. Đọa thai chưa hình thành thì
30 quan, đã thành hình thì 50 quan, gãy một chân, một tay, mù một mắt thì 50
quan, đứt lưỡi và hỏng âm, dương vất thì đền 100 quan. Về người quyền quý
thì xử khác”. Ngoài ra, trong Quốc triều Hình Luật còn quy định trách nhiệm
dân sự của cha mẹ phải bồi thường những thiệt hại do các con còn nhỏ gây ra
cho người khác và trách nhiệm của ông chủ, bà chủ về tài sản trong trường
hợp đầy tớ của mình gây ra thiệt hại. Chẳng hạn, Điều 475 của Quốc triều
hình luật quy định trách nhiệm của cha mẹ phải bồi thường tang vật thay cho
con khi con vi phạm những điều mà pháp luật cấm. Cụ thể: “Các con ở nhà
với cha mẹ, mà đi ăn trộm, thì cha bị xử tội biếm; ăn cướp thì cha bị xử tội 17
đồ; nặng thì xử tăng thêm tội; và đều phải bồi thường thay cho con những
tang vật ăn trộm ăn cướp”. Với quy định này Bộ luật Hồng Đức đã để lại
những dấu ấn sâu đậm cho đến tận ngày nay với trình độ lập pháp vượt xa các
thời đại phong kiến khác khi đề cập đến năng lực trách nhiệm bồi thường thiệt
thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Cùng với sự phát triển của xã hội chế định bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng cũng dần dần được thay đổi, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng không còn được coi là hình phạt mà là nghĩa vụ, bổn phận của
người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại nhằm khôi phục lại
tài sản cho người bị thiệt hại.
1.2.2. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước 1995
Trước khi BLDS 1995 được ban hành thì vấn đề bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng được quy định rải rác ở nhiều văn bản luật khác nhau. Ở các
văn bản này không có một điều khoản nào quy định cụ thể về năng lực bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân, do đó, chúng ta chỉ có thể xác
định năng lực bồi thường của các chủ thể dựa trên cơ sở từng quy định đối với
từng trường hợp cụ thể.
Văn bản đầu tiên mà chúng ta đề cập đến là Nghị định số 246-TTg
ngày 17-5-1950 của Thủ tướng Chính phủ. Trong đó quy định đối với người
có giấy phép sử dụng súng săn như sau: người do sử dụng súng săn mà gây
thiệt hại thì tất nhiên cá nhân họ phải chịu trách nhiệm bồi thường. Nếu họ
cho mượn hay để người khác tò mò, nghịch súng gây tai nạn, thì việc bồi
thường thiệt hại được giải quyết tương tự theo đường lối đối với người sử
dụng vũ khí. Như vậy, ta có thể rút ra trách nhiệm bồi thường mà Nghị định
này đề cập đến chính là cá nhân.
Văn bản tiếp theo ghi nhận quyền được bồi thường thiệt hại của người bị
thiệt hại đó là Hiến pháp năm 1959, quyền được bồi thường của người dân đã 19
được ghi nhận tại Điều 29 như sau: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan Nhà nước nào về những
hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà nước. Những việc khiếu nại và
tố cáo phải được xét và giải quyết nhanh chóng. Người bị thiệt hại vì hành vi