Phân loại tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT BÙI THỊ NGA
PHÂN LOẠI TÀI SẢN
TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Minh Tuấn HÀ NỘI - 2012 3
MỤC LỤC Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN

Dựa vào đặc tính vật lý (có thể di dời được hay không) và giá
trị của tài sản, tài sản được chia thành động sản và bất động sản
18
1.3.3.
Dựa vào phương thức chiếm hữu (kiểm soát thực tế, kiểm
soát hành vi các chủ thể, có thể cảm nhận, nắm bắt được
hay không) tài sản được phân loại thành tài sản vô hình và
tài sản hữu hình
23

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TÀI
SẢN, PHÂN LOẠI TÀI SẢN
26
2.1.
Phân loại tài sản theo hình thức tồn tại
26

4
2.1.1.
Vật
27
2.1.2.
Tiền
37
2.1.3.
Giấy tờ có giá
39
2.1.4.
Quyền tài sản
41

Những hạn chế của khái niệm tài sản, quyền tài sản (Điều 163
và Điều 181)
52
3.1.1.
Hạn chế của khái niệm tài sản (Điều 163)
53
3.1.2.
Hạn chế của khái niệm quyền tài sản (Điều 181)
60
3.2.
Những hạn chế trong quy định về các loại tài sản (Điều 174
đến Điều 181 Bộ luật Dân sự 2005)
66
3.3.
Phương hướng hoàn thiện các quy định về tài sản và phân
loại tài sản của Bộ luật Dân sự 2005
70

KẾT LUẬN
74

5

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
76 6
MỞ ĐẦU


giả nghiên cứu về tài sản trong các công trình khoa học, các bài viết trên các
tạp chí. Có thể kể đến: Sách chuyên khảo của TS. Nguyễn Ngọc Điện: "Nghiên
cứu về tài sản trong luật dân sự Việt Nam", năm 1999; TS. Ngô Huy Cương:
"Những bất cập về khái niệm tài sản, phân loại tài sản của Bộ luật Dân sự và
định hướng cải cách"; Nguyễn Minh Oanh: "Các loại tài sản trong luật dân
sự Việt Nam", Tạp chí Luật học, số 1/2009; TS. Phùng Trung Tập có bài viết:
"Sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung một số điều trong Bộ luật Dân sự quy
định về tài sản và quyền sở hữu", Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 4/2004….
Các công trình, bài viết kể trên đều nghiên cứu về khái niệm tài sản
dưới các góc độ khác nhau. Sách chuyên khảo của TS. Nguyễn Ngọc Điện
được viết từ trước khi Bộ luật Dân sự 2005 ra đời, đi sâu về mặt lý luận.
Trong khi các bài viết còn lại thì phân tích quy định của pháp luật thực định -
cụ thể là Bộ luật Dân sự 2005 về tài sản và quyền sở hữu. Tuy nhiên, tính đến
thời điểm hiện tại chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách toàn diện đầy đủ
về tài sản dưới góc độ phân loại tài sản. Hơn nữa hầu hết các tác giả khi
nghiên cứu về khái niệm tài sản chỉ tập trung phân tích về mặt lý luận mà
thiếu các tình huống thực tế.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Về mục đích: Luận văn nghiên cứu, đề xuất giải pháp góp phần hoàn
thiện các quy định của pháp luật thực định - cụ thể là Bộ luật Dân sự 2005 về
khái niệm tài sản và phân loại tài sản.
Về nhiệm vụ: Phù hợp với mục đích trên, luận văn thực hiện ba nhiệm
vụ chính sau:
- Tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển của khái niệm tài sản và
phân loại tài sản trên thế giới, trong mỗi hệ thống pháp luật và ở nhiều quốc
gia khác nhau.

8
- Phân tích sự hình thành phát triển của khái niệm tài sản, phân loại tài
sản tại Việt Nam. Đánh giá, so sánh những điểm tương đồng khác biệt trong

quy định của Bộ luật Dân sự 2005 về tài sản và quyền sở hữu trong lần sửa
đổi tới đây.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về tài sản.
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về tài sản, phân loại
tài sản.
Chương 3: Thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về tài sản, phân
loại tài sản và hướng hoàn thiện.
10
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN

1.1. KHÁI NIỆM TÀI SẢN
1.1.1. Sơ lƣợc về khái niệm tài sản
Tài sản là một khái niệm hết sức gần gũi với đời sống con người. Nó
tồn tại xung quanh con người, do con người khai thác từ tự nhiên hoặc tự tạo
ra để đáp ứng các nhu cầu đa dạng của mình. Từ thuở sơ khai, khi xã hội loài
người mới bắt đầu hình thành, con người tồn tại và phát triển cuộc sống của
mình bằng cách tìm kiếm nguồn thức ăn từ thiên nhiên, sử dụng các công cụ
lao động đơn giản, thô sơ. Khi đó những vật dụng hữu ích phục vụ cho nhu
cầu sinh hoạt, ăn uống, nghỉ ngơi… chính là những hình thức tồn tại đầu tiên
của tài sản. Cùng với sự phát triển của kinh tế, chế độ tư hữu, tài sản ngày
càng đóng vai trò quan trọng và trở thành một trong những mối quan tâm lớn
nhất của loài người. Nhắc đến tài sản là nhắc tới những đối tượng không chỉ
có tính hữu ích đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu của con người mà nó còn

Chúng ta có thể cảm nhận được sự tồn tại của tài sản thông qua các giác quan,
có thể nhìn, cầm nắm và kiểm soát được. Điều này khẳng định tài sản là vật
có thực, chúng hữu hình hoặc phải được hữu hình hóa và đáp ứng được một
trong các nhu cầu từ ăn mặc, nghỉ ngơi đến sản xuất kinh doanh của con
người. Theo cách hiểu này, thì tài sản trong ngôn ngữ đời thường tồn tại nhiều
ở dạng vật chất. Tuy nhiên dù hiểu theo cách thức nào thì cũng không thể phủ
nhận được tính hữu ích và tính có thể được sở hữu bởi một ai đó của tài sản.
1.1.2. Tài sản trong ngôn ngữ pháp lý
Trong đời sống thực tế các khái niệm thường được nhìn nhận dưới góc
độ đơn giản, dễ hiểu và phù hợp với số đông dân cư. Tuy nhiên, các ngành
khoa học lại nghiên cứu các khái niệm này dưới góc độ chuyên ngành để đi

12
tìm bản chất, ý nghĩa và quay lại phục vụ cho chính đời sống con người. Khoa
học pháp lý nhìn nhận tài sản về cơ bản là giống với khái niệm trong ngôn
ngữ đời thường vì suy cho cùng chúng đều dùng để chỉ một loại đối tượng.
Tuy nhiên, các nhà khoa học pháp lý không chỉ tìm hiểu tài sản dưới
góc độ khái niệm mà còn xây dựng thành chế định quan trọng của luật dân sự -
chế định tài sản. Thậm chí, ở một số quốc gia còn có hẳn một ngành khoa học
pháp lý về tài sản gọi là luật tài sản. Trong ngôn ngữ pháp lý tài sản không chỉ
là vật chất mà còn là của cải. Của cải luôn gắn liền với thuộc tính giá trị và
không ngừng biến đổi để hoàn thiện. Chính vì vậy khái niệm tài sản trong
khoa học pháp lý không phải là một khái niệm bất biến, nó có thể thay đổi qua
các giai đoạn khác nhau và thậm chí giữa các quốc gia, các trường phái luật
học cùng thời cũng nhìn nhận khái niệm tài sản không hoàn toàn đồng nhất.
Trong đời sống thực tế một vật được con người sử dụng có thể coi là
tài sản, tuy nhiên trong khoa học pháp lý vật đó không đương nhiên là của cải -
tài sản. Vật chỉ trở thành tài sản khi nó được đưa vào trong giao lưu dân sự và
xác định sở hữu hay quyền chủ thể của một cá nhân đối với vật đó. Nói cách
khác chính các quyền mới tạo nên giá trị cho vật và biến chúng trở thành tài

quan trọng sau:
Thứ nhất: Tài sản là khái niệm cơ bản làm nền tảng xây dựng các khái
niệm khác của luật dân sự và các phân ngành của luật dân sự như: luật hôn
nhân gia đình, luật thương mại, luật chứng khoán …. Từ chế định tài sản hình
thành chế định về sở hữu, quyền sở hữu trí tuệ, hợp đồng… Vai trò quan
trọng này xuất phát từ việc, một trong hai nhóm quan hệ lớn thuộc đối tượng
điều chỉnh của luật dân sự chính là nhóm quan hệ về tài sản. Các chế định lớn
và các phân ngành của luật dân sự cũng đều nghiên cứu về các khía cạnh khác
nhau của tài sản.
Thứ hai: Tài sản nắm giữ vai trò không thể thiếu đối với cuộc sống
con người nên các giao dịch liên quan đến tài sản: tặng cho, mua bán, trao
đổi… phát sinh hàng ngày và chiếm số lượng lớn nhất trong các giao dịch dân

14
sự. Trên cơ sở khái niệm tài sản sẽ xác định những vật chất nào là đối tượng
của giao lưu dân sự, từ đó xây dựng quy chế điều chỉnh các giao dịch đảm bảo
lợi ích vật chất của các chủ thể trong quan hệ đó. Chỉ những đối tượng được
coi là tài sản mới có thể trở thành đối tượng của giao lưu dân sự và được điều
chỉnh bởi các quy định của pháp luật dân sự. Những đối tượng nào không
được coi là tài sản thì không thể trở thành đối tượng của giao lưu dân sự. Ví
dụ: Khoảng không vũ trụ, đất trên mặt trăng …
Thứ ba: Tài sản là các lợi ích vật chất mà các chủ thể muốn đạt được
khi tham gia vào quan hệ dân sự. Để có các lợi ích này, chủ thể thực hiện
quyền của mình bằng nhiều cách thức khác nhau. Vì vậy khi có tranh chấp về
các loại tài sản, thì cần phải có các cơ chế giải quyết phù hợp với các phương
thức thực hiện và bảo vệ quyền dân sự.
Tài sản là những đối tượng có giá trị và có thể mang trao đổi trong
giao lưu dân sự. Những đối tượng không có những thuộc tính để được xác
định là tài sản thì không thể là đối tượng của giao lưu dân sự và không thể
phát sinh những tranh chấp liên quan đến đối tượng đó. Trong quan hệ dân sự,

pháp luật các nước châu Âu sau này kế thừa và phát triển. Trước hết phải kể
đến một trong hai hệ thống pháp luật lớn của thế giới Common Law mà đại
diện tiêu biểu là pháp luật của nước Cộng hòa Pháp. Luật của Pháp mặc dù
không đưa ra định nghĩa về tài sản nhưng tinh thần của nó thì có phân biệt tài
sản thành động sản và bất động sản. Điều 516 Bộ luật Dân sự Pháp viết: "Tài
sản chia thành động sản và bất động sản" [15].
Trong hệ thống pháp luật Anh - Mỹ (Civil Law), chúng ta cũng không
tìm thấy một định nghĩa hoàn chỉnh về tài sản. Hầu hết luật đều xác định khái
niệm tài sản dựa trên phân loại tài sản. Bộ luật Dân sự của Tiểu bang
Louisiana (Mỹ) tại Điều 448 viết: "Tài sản được phân chia thành tài sản
chung, tài sản công và tài sản tư; tài sản hữu hình và tài sản vô hình; và động
sản và bất động sản". Cũng theo một cách tương tự như vậy, Bộ luật Dân sự

16
Quebec (Canada) định nghĩa tài sản: "Tài sản, dù hữu hình hay vô hình được
phân chia thành bất động sản và động sản". Luật Dân sự Nhật Bản thì chỉ coi
đồ vật thuộc phạm trù tài sản. Điều 85 Luật Dân sự Nhật Bản quy định: "Vật
theo nghĩa dùng trong Bộ luật này là vật hữu hình" [12]. Tuy nhiên các quy
định của Bộ luật Dân sự Nhật Bản cũng áp dụng với các đối tượng khác ngoài
vật nếu chúng mang những đặc điểm tương tự. Luật Dân sự Thái Lan thì lại
định nghĩa về tài sản: "Tài sản bao gồm những vật cũng như các đối tượng
không cụ thể có thể có một giá trị và có thể chiếm dụng được" [2].
Như vậy, bằng cách này hay cách khác, pháp luật dân sự các quốc gia
đều đã đưa ra quan điểm về khái niệm tài sản. Mặc dù có những điểm khác
biệt trong phương pháp xây dựng khái niệm và trong một vài những nội dung
không cơ bản, các quan điểm này đều gặp nhau ở chỗ coi tài sản là khách thể
quan trọng của quyền dân sự, là đối tượng của quyền sở hữu và phải mang giá
trị đối với con người.
1.2.2. Sự hình thành và phát triển của khái niệm tài sản tại Việt Nam
Dẫn chiếu đến pháp luật dân sự Việt Nam, có thể rút ra một vài điểm

lớn. Các quy định của Bộ luật đã tạo ra hành lang pháp lý điều chỉnh các giao
dịch dân sự, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của các chủ thể. Một trong các
chế định quan trọng nhất của Bộ luật này là chế định tài sản và quyền sở hữu.
Tài sản theo Điều 172 bao gồm: vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được thành tiền
và các quyền tài sản. Điều 181 thì chia tài sản thành bất động sản và động sản:
1) Bất động sản là những tài sản không di dời được bao gồm:
a) Đất đai;
b) Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các
tài sản gắn liền với nhà ở công trình xây dựng đó;
c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai;
d) Các tài sản khác do pháp luật quy định.
2) Động sản là những tài sản không phải bất động sản [18].

18
Sự xuất hiện khái niệm tài sản trong Bộ luật Dân sự 1995 đã đánh dấu
bước phát triển mới và ghi nhận sự cố gắng của các nhà làm luật trong nỗ lực
xây dựng một khái niệm hoàn chỉnh về tài sản. Tuy nhiên thực tế áp dụng
khái niệm tài sản này đã bộc lộ một số nhược điểm về cả mặt nội dung lẫn
phương pháp xây dựng khái niệm. Ví dụ: Bộ luật xác định bất động sản theo
phương thức liệt kê nhưng liệt kê không hết và để ngỏ bằng quy định "các tài
sản khác do pháp luật quy định". Tiếp đó, Bộ luật định nghĩa động sản theo
phương pháp loại trừ "những tài sản không phải bất động sản thì là động sản".
Tuy nhiên phạm vi bất động sản như trên phân tích cũng không đủ khiến khái
niệm trở lên luẩn quẩn, không rõ ý.
Một trong bốn nhóm đối tượng tài sản Điều 172 Bộ luật Dân sự 1995
quy định là "vật có thực" khi áp dụng trong thực tế cũng đã nảy sinh những
bất cập. Thực tế cho thấy các giao dịch liên quan đến vật không có thực như
các tài sản hình thành trong tương lai vẫn xảy ra và được pháp luật ghi nhận.
Chính những điểm không hợp lý trên đòi hỏi các quy định liên quan đến khái
niệm tài sản cần phải được sửa đổi bổ sung. Bộ luật Dân sự 2005 ra đời ghi

việc xây dựng khái niệm tài sản hoàn chỉnh không phải là một công việc dễ
dàng. Để hiểu rõ hơn bản chất của tài sản, người ta sử dụng nhiều phương
pháp nghiên cứu khác nhau. Một trong số đó là phương pháp phân loại tài
sản. Phân loại tài sản có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng quy chế pháp
lý điều chỉnh các giao dịch liên quan đến tài sản giữa các chủ thể. Và chỉ qua
phân loại tài sản mới có thể hiểu rõ hơn về khái niệm này. Điều này lý giải tại
sao pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều định nghĩa tài sản
thông qua việc phân loại tài sản. Luật La Mã - hệ thống luật phân chia tài sản
thành vật chất liệu và tài sản phi chất liệu (quyền tài sản). Vật lại được chia
nhỏ thành động sản và bất động sản. Còn quyền tài sản được chia thành quyền
đối vật (quyền thiết lập trên vật chất liệu) và quyền đối nhân (quyền có giá trị

20
kinh tế đối với người khác, chủ thể khác). Như vậy, nhìn vào quy định của
Luật La Mã có thể thấy các nhà làm luật xưa đã có cái nhìn tương đối toàn
diện và hoàn chỉnh về tài sản. Vật chất liệu được nhắc đến trong Luật La Mã
được hiểu là những vật có thực, có thể cảm nhận được bằng các giác quan,
nghĩa là chúng phải được hữu hình hóa.
Cùng với sự phát triển của xã hội, ngày nay xuất hiện thêm nhiều dạng
tài sản mới: các quyền liên quan đến sở hữu trí tuệ, cổ phần, cổ phiếu… nên
thuyết vật chất liệu trong Luật La Mã cần phải được xem xét lại và phát triển
thêm cho phù hợp với giai đoạn phát triển mới. Tuy vậy, các nhân tố hợp lý,
tích cực của Luật La Mã vẫn được các hệ thống pháp luật lớn trên thế giới kế
thừa và phát triển một cách có chọn lọc để xây dựng các tiêu chí phân loại tài
sản. Theo đó, trên thế giới hiện có một số cách phân loại tài sản truyền thống
sau đây.
1.3.1. Căn cứ vào chủ sở hữu tài sản, tài sản đƣợc chia thành tài
sản công, tài sản chung và tài sản tƣ
Nhắc đến tài sản không thể không nhắc đến vấn đề sở hữu, bởi tài sản
là đối tượng của quyền sở hữu. Một vật chỉ có thể trở thành tài sản khi thuộc

Tài sản chung là những tài sản thuộc quyền sở hữu của ít nhất hai chủ thể.
Pháp luật Dân sự Việt Nam quy định tài sản chung gắn liền với vấn để sở hữu
tại Điều 214 Bộ luật Dân sự 2005: "Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ sở
hữu đối với tài sản. Sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu
chung hợp nhất. Tài sản thuộc hình thức sở hữu chung là tài sản chung" [19].
Điều 541 Bộ luật Dân sự Pháp quy định về một loại tài sản chung: "Tài sản của
xã là tài sản mà dân của một hoặc nhiều xã được quyền sở hữu hoặc hoa lợi" [15].
Tài sản tư là tài sản thuộc quyền sở hữu của một chủ thể duy nhất. Các
loại tài sản tư nhân bao gồm thu nhập hợp pháp, của cải để dành, tư liệu sinh
hoạt, tư liệu sản xuất… Mọi loại tài sản nếu không phải là tài sản công thì đều
có thể là đối tượng của sở hữu chung hoặc sở hữu tư nhân. Các cá nhân có thể

22
xác lập quyền sở hữu của mình theo các cách thức mà pháp luật cho phép và
ghi nhận.
Sở dĩ có sự phân biệt tài sản thành tài sản công, tài sản tư, và tài sản
chung là để khẳng định vai trò của chủ sở hữu đối với mỗi loại tài sản. Đồng
thời phân loại tài sản theo chủ sở hữu cũng có ý nghĩa trong việc xây dựng
quy chế khai thác và bảo vệ thích hợp các loại tài sản này. Tài sản công thuộc
sở hữu toàn dân, của quốc gia (mà nhà nước là đại diện chủ sở hữu) cần có
quy chế quản lý chặt chẽ và lâu dài để đảm bảo mục đích xã hội, cộng đồng
và an ninh dân tộc. Quy chế quản lý tài sản chung phải được luật hóa thành
văn bản và có giá trị bắt buộc đối với mọi đối tượng. Hầu hết các quốc gia
trên thế giới đều xây dựng hệ thống các văn bản pháp luật riêng quy định về
quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Tại Việt Nam, Bộ Tài chính cũng đã thành
lập Cục Quản lý Công sản có chức năng:
Quản lý nhà nước về tài sản nhà nước và trưng mua, trưng
dụng tài sản; thực hiện quản lý về tài chính đối với tài sản kết cấu
hạ tầng, đất đai và tài nguyên quốc gia theo quy định của pháp luật,
trực tiếp quản lý một số loại tài sản nhà nước theo quy định của Bộ

biệt tài sản của hầu hết các hệ thống pháp luật trên thế giới. Bộ luật Dân sự và
Thương mại Thái Lan tại Điều 99 viết: "Tài sản bao gồm những vật cũng như
các đối tượng không cụ thể, có thể có một giá trị và có thể chiếm dụng được" [2]
và phân biệt tài sản thành động sản và bất động sản tại Điều 100 và 101:
Bất động sản là đất đai và những vật gắn liền với đất đai hoặc hợp
thành một thể thống nhất với đất đai. Nó bao gồm cả những quyền gắn với
việc sở hữu đất đai.
Động sản là những vật có thể chuyển từ chỗ này qua chỗ khác bất
chấp do tự chúng hoặc do ngoại lực. Nó bao gồm cả sức mạnh tự nhiên có thể
chiếm dụng được cũng như những quyền gắn với động sản.
Bộ luật Dân sự Québec (Canada) phân loại tài sản tại Điều 899:
"Tài sản, dù hữu hình hay vô hình được phân chia thành động sản và bất

24
động sản". Bộ luật Dân sự Pháp tại Điều 516 quy định: "Tài sản chia thành
động sản và bất động sản" [15]. Bộ luật Dân sự Nhật Bản thì quy định tại
Điều 86: "Đất và những vật gắn liền với đất là bất động sản. Các vật khác là
động sản" [12]. Cũng cùng một tiêu chí phân loại như trên, Bộ luật Dân sự
Philippin quan niệm rằng tất cả những gì đang hoặc có thể là đối tượng của sự
chiếm hữu đều được công nhận là một trong hai loại động sản hoặc bất động
sản. Sau đó Bộ luật này liệt kê một loạt những đối tượng được xem là bất
động sản tại Điều 415.
Có thể thấy pháp luật thực định của các quốc gia khi phân chia tài sản
thành động sản và bất động sản đều thống nhất ở chỗ coi bất động sản gồm
đất đai và những tài sản gắn liền với đất đai. Đất đai được hiểu là một khu đất,
thửa đất cụ thể được giới hạn bởi chiều dài, chiều rộng chiều sâu; có ranh giới
rõ ràng phân biệt với các khu đất liền kề khác. Tài sản gắn liền với đất đai
thường được hiểu gồm tài nguyên trong lòng đất và các công trình xây dựng
do sức lao động của con người tạo trên đất, gắn liền với việc khai thác và sử
dụng đất. Pháp luật một số quốc gia liệt kê chi tiết danh mục các loại tài sản

Xét ba đặc điểm khác biệt trên, có thể thấy về cơ bản động sản và bất
động sản được phân biệt với nhau dựa trên thuộc tính vật lý. Tuy nhiên, luật
dân sự một số quốc gia còn sử dụng thêm tiêu chí giá trị của tài sản để phân
biệt giữa động sản và bất động sản. Ví dụ, Luật Dân sự Nga coi tàu bay, tàu
biển, phương tiện vũ trụ cũng là một loại bất động sản. Tuy nhiên, cùng với sự
phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, việc phân biệt động sản và bất động sản
dựa trên tiêu chí giá trị của tài sản dần trở lên lỗi thời và không phù hợp. Các
loại tài sản mới xuất hiện như cổ phiếu, phát minh, sáng chế… có giá trị lớn
hơn rất nhiều do với tài sản là đất đai. Tuy nhiên những đối tượng này không
thể vì có giá trị lớn mà được coi là bất động sản theo tiêu chí phân biệt này.
Ranh giới giữa khái niệm động sản và bất động sản trong nhiều trường
hợp thậm chí không có ý nghĩa khi xảy ra hiện tượng xung đột luật về định danh
tài sản. Hiện tượng này xuất hiện ngày càng nhiều do sự phát triển mạnh mẽ của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status