1
đại học quốc gia hà nội
Khoa luật
TRầN VĂN DUY
THủ TụC HOà GIảI
Vụ VIệC HÔN NHÂN Và GIA ĐìNH
Chuyên ngành: Luật Dân sự
Mã số : 60 38 30
LUậN VĂN THạC Sĩ LUậT HọC
Mở đầu
1
Ch-ơng 1. những vấn đề lý luận về thủ tục hòa giải vụ việc
hôn nhân và gia đình
9
1.1
Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thủ tục hòa giải vụ việc hôn
nhân và gia đình
9
1.2
Cơ sở lý luận và thực tiễn của thủ tục hòa giải vụ việc hôn
nhân và gia đình
18
1.3
Phân biệt thủ tục hòa giải vụ việc hôn nhân và gia đình với
một số thủ tục hòa giải khác
24
1.4
Thủ tục hòa giải vụ việc hôn nhân và gia đình theo quy đnh
của một số n-ớc
25
Kết luận ch-ơng 1
26
CHƯƠNG 2. PHáP LUậT VIệT NAM Và THựC TIễN áP DụNG Về THủ TụC
HòA GIảI Vụ VIệC HÔN NHÂN Và GIA ĐìNH
28
Một số biện pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng thủ
tục hòa giải vụ việc hôn nhân và gia đình
71
Kết luận ch-ơng III
73
Kết luận
74
Danh mục tài liệu tham khảo
75
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoà giải là hình thức giải quyết tranh chấp dân sự nói chung và hôn nhân và
gia đình nói riêng đã xuất hiện rất sớm, có thể nói, khi con người có tranh chấp thì
đã biết cách áp dụng các biện pháp thương lượng, hoà giải với nhau để chấm dứt
các bất đồng phát sinh giữa các chủ thể với nhau, đặc biệt, trong mối quan hệ hôn
nhân và gia đình - mối quan hệ mà giữa các thành viên trong gia đình được gắn bó
nhau chặt chẽ do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm
phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của pháp luật,
truyền thống đạo đức. cùng với sự phát triển đi lên không ngừng của đất nước thì
các quan hệ hôn nhân và gia đình cũng còn nhiều mặt hạn chế dưới sự tác động của
Thủ tục hoà giải khi tiến hành giải quyết các quan hệ về hôn nhân và gia đình
còn góp phần nâng cao trình độ dân trí, giáo dục pháp luật giữa các thành viên trong
gia đình và các chủ thể có liên quan. Trong phạm vi một vụ án hôn nhân và gia
đình, quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự, đương sự thoả thuận
hoà giải thành là biện pháp giải quyết tối ưu nhất trong các quyết định, bản án của
toà án dẫn đến việc thi hành án dễ dàng hơn.
Tuy nhiên, BLTTDS năm 2004 được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 5 thông qua
ngày 15 tháng 6 năm 2004, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2005, có
quy định rất cụ thể thủ tục hoà giải như nguyên tắc tiến hành hoà giải, những vụ án
dân sự không được hoà giải, nội dung hòa giải, trình tự, thủ tục ra quyết định công
nhận sự thoả thuận của đương sự, hiệu lực của quyết định công nhận sự thoả thuận
của các đương sự. Nhưng qua thực tiễn hơn gần hai năm thực hiện BLTTDS năm
2004 đã bộc lộ một số vướng mắc, bất cập khi Toà án nhân dân tiến hành thủ tục
hoà giải vụ án hôn nhân và gia đình và thực tiễn hiểu và áp dụng tiến hành thủ tục
giải quyết việc hôn nhân và gia đình khi chưa có hướng dẫn áp dụng của các cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền.
Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật trên, đã đặt ra yêu cầu về
mặt lý luận là phải nghiên cứu tìm ra những giải pháp sửa đổi, bổ sung những quy
định về thủ tục hoà giải vụ việc hôn nhân và gia đình, thống nhất về mặt nhận thức
5
khoa học và thực tiễn về việc áp dụng thủ tục hòa giải một số quan hệ pháp luật hôn
nhân và gia đình.
Chính vì vậy, việc chọn vấn đề “Thủ tục hoà giải vụ việc hôn nhân và gia đình
” làm đề tài luận văn thạc sỹ luật học là hết sức cần thiết và có ý nghĩa thời sự, nhất
là trong bối cảnh hiện nay Toà án nhân dân đang thụ lý giải quyết các vụ việc hôn
nhân và gia đình ngày càng tăng về số lượng và phức tạp về nội dung.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước đây đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau về
hoà giải trong tố tụng dân sự. Có thể nêu một số công trình như:
Phan Hữu Thư (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 2-1999);
+ “Vướng mắc khi áp dụng chế định hoà giải trong quá trình giải quyết các
vụ án dân sự “ của Thanh Tú (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 7-2002);
+ “Hoà giải trong tố tụng dân sự” của Phạm Hữu Nghị (Tạp chí Nhà nước và
pháp luật, số 12-2003);
+ “Thủ tục giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự”
của TS. Lê Thu Hà (Tạp chí Toà án nhân dân tháng 6 năm 2006, số 12);
+ “Một số vấn đề về thủ tục giải quyết việc dân sự” của Thạc sỹ Nguyễn
Thanh Mai (Tạp chí Kiểm sát, số 13(7-2006);
+ “Những khó khăn, vướng mắc, trong nhận thức, áp dụng và những kiến
nghị từ hoạt động thực tiễn qua một năm thực hiện các quy định của Bộ luật Tố
tụng Dân sự năm 2004” của Ban Biên tập (Tạp chí Kiểm sát, số 18(9-2006);
+ “Một số vấn đề về áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự” của
Thạc sỹ Trần Văn Trung (Tạp chí Kiểm sát, số 18(9-2006);
+ “Một số vấn đề khi giải quyết việc hôn nhân và gia đình” của Vũ Thanh
Tuấn (Tạp chí Toà án nhân dân tháng 7 năm 2007, số 14);
+ Về bài viết “Một số vấn đề khi giải quyết việc hôn nhân và gia đình” của
Đặng Thanh Hoa (Tạp chí Toà án nhân dân tháng 12 năm 2007, số 24);
+ “Một số vướng mắc trong xác định việc dân sự và vụ án dân sự đối với vụ
việc hôn nhân và gia đình” của Nguyễn Văn Tiến (Tạp chí Khoa học pháp lý số
4(47) năm 2008);
7
+ “Giải quyết trường hợp không công nhận quan hệ vợ chồng theo thủ tục vụ
án dân sự hay thủ tục việc dân sự” của Nguyễn Thi Hạnh (Tạp chí Toà án nhân dân
tháng 11 năm 2006, số 22);
+ “Những người cứu hộ hôn nhân” của Mai Thu (Tạp chí Gia đình, số Xuâ
Đinh Hợi 2007;
+ “Những điểm mới trong thủ tục thuận tình ly hôn” của TS. Lê Thu Hà (Tạp
chí Toà án nhân dân tháng 8 năm 2006, số 15);
cấp.
- Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng thủ tục hoà giải vụ án hôn nhân và
gia đình và việc áp dụng thủ tục giải quyết việc hôn nhân và gia đình trong thời gian
vừa qua, đặc biệt, từ khi ban hành BLTTDS năm 2004 trở lại đây.
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp tiếp tục hoàn thiện các quy định thủ
tục hoà giải vụ án hôn nhân và gia đình và thủ tục giải quyết việc hôn nhân và gia
đình.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật Việt Nam
hiện hành về thủ tục hoà giải vụ án hôn nhân và gia đình, và việc áp dụng, nhận
thức thủ tục giải quyết việc hôn nhân và gia đình tại toà án nhân dân theo các hướng
sau:
+ Bản chất, ý nghĩa, cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định về thủ
tục hoà giải vụ án hôn nhân và gia đình và sự cần thiết có quy định áp dụng thủ tục
hòa giải đối với một số việc hôn nhân và gia đình;
+ Phương pháp và giải pháp hoàn thiện thủ tục hoà giải vụ án hôn nhân và gia
đình và sáng tỏ cơ sở pháp lý và thực tiễn của việc áp dụng thủ tục hòa giải trong
quá trình giải quyết một số việc hôn nhân và gia đình trong thời gian tới.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu nghiên cứu của luận văn chỉ nghiên cứu thủ tục hoà giải
vụ án hôn nhân và gia đình, nghiên cứu về việc có hay không có việc áp dụng thủ
9
tục hòa giải đối với một số việc hôn nhân và gia đình và cơ sở pháp lý của việc áp
dụnh các quy định đó trong thực tiễn. Đặc biệt, thời điểm luận văn này được thực
hiện, BLTTDS năm 2004 có hiệu lực thi hành đang được các cơ quan tiến hành tố
tụng áp dụng trên toàn quốc. Bởi vậy, các nội dung nghiên cứu của luận văn luôn
được liên hệ, đối chiếu giưa quy định của pháp luật với thực tiễn áp dụng pháp luật
mới này.
văn gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thủ tục hoà giải vụ việc hôn nhân và gia
đình.
Chương 2: Pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng về thủ tục hoà giải vụ
việc hôn nhân và gia đình.
Chương 3: Hoàn thiện các quy định về thủ tục tục hoà giải vụ việc hôn nhân
và gia đình.
11
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
THỦ TỤC HÒA GIẢI VỤ VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA THỦ TỤC HÒA GIẢI
VỤ VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
1.1.1. Khái niệm thủ tục hòa giải vụ việc hôn nhân và gia đình
Hoà giải là một phương thức giải quyết các tranh chấp phát sinh trong các
mối quan hệ xã hội đã có từ lâu đời của dân tộc ta nói riêng và truyền thống, tập
quán trên thế giới nói chung. Dân tộc ta có truyền thống đoàn kết, thương yêu giữa
các thành viên trong gia đình, giữa các thành viên trong cộng đồng dân cư từ lâu
đời, tình cảm giữa người với người bao giờ cũng là một vấn đề rất quan trọng khi
quy định một vấn đề nào đó liên quan đến quyền lợi của cá nhân.
Để giải quyết được tất cả các mâu thuẫn thường ngày xảy ra trong từng gia
đình và trong đời sống con người, vấn đề hợp lý là rất quan trọng song không thể
không kể đến hai chữ hợp tình – đó là hai mặt của một vấn đề cần thông nhất không
thể tách rời trong truyền thống của dân tộc, truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia
đình.
Mục đích của việc giải quyết các mâu thuẫn quan hệ xã hội phát sinh trong
lĩnh vực dân sự nói chung và lĩnh vực hôn nhân và gia đình nói riêng là phải bảo
đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân vừa phải hàn gắn và giữ vững được
hôn, về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, về thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con
cho cha, mẹ, về cấp dưỡng và các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình mà pháp
luật có quy định.
Và các yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà
án như huỷ việc kết hôn trái pháp luật, công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia
tài sản khi ly hôn, công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau
khi ly hôn, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm
nom con sau khi ly hôn, chấm dứt việc nuôi con nuôi… (Điều 28 BLTTDS năm
2004).
13
Điều 1 BLTTDS năm 2004 quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng
dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là
vụ án dân sự) và trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu
dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung
là việc dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự (sau đây gọi
chung là vụ việc dân sự) tại Tòa án… Với quy định này, phạm vi điều chỉnh của
BLTTDS là vụ việc dân sự, gồm vụ án dân sự và việc dân sự. Vụ án dân sự là vụ có
tranh chấp về quyền lợi, nghĩa vụ giữa cá nhân, tổ chức với nhau. Các tranh chấp
gồm tranh chấp dân sự, tranh chấp hôn nhân và gia đình, tranh chấp kinh doanh và
thương mại, tranh chấp lao động. Khi một tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án, được đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết sẽ trở thành vụ án dân
sự. Việc dân sự là việc không có tranh chấp về quyền và lợi ích nhưng có yêu cầu
của cá nhân, tổ chức đề nghị Tòa án công nhận một sự kiện pháp lý mà phát sinh
quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức này. Có các việc yêu cầu về dân sự, các
việc yêu cầu về hôn nhân và gia đình, các việc yêu cầu về kinh doanh và thương
mại, các việc yêu cầu về lao động. Tất cả các việc yêu cầu này được gọi chung là
việc dân sự. Như vậy, theo quy định của BLTTDS thì việc áp dụng thủ tục hoà giải
có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án
quyết định.
Vậy thủ tục hoà giải vụ việc hôn nhân và gia đình là trình tự do Tòa án tiến
hành nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận về việc giải quyết vụ việc hôn nhân và
gia đình theo quy định của pháp luật và đạo đức xã hội.
1.2.2. Đặc điểm
Thứ nhất, thủ tục hoà giải là thủ tục bắt buộc trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
vụ án hôn nhân và gia đình:
Hoà giải trong quá trình giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình là một chế
định pháp lý quan trọng, là một hoạt động tố tụng do Toà án thực hiện trên cơ sở
quy định của quy định của BLTTDS năm 2004 và LHNGĐ năm 2000 và các văn
bản hướng dẫn thi hành. Theo quy định tại khoản 2 Điều 179 BLTTDS năm 2004
thì trong thời hạn chuẩn bị xét xử tuỳ từng trường hợp, Toà án ra một trong bốn
15
quyết định, trong đó có quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Sau
khi Toà án tiến hành chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình đó và
trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm thì Tòa án phải tiến hành thủ tục hòa giải, và
thủ tục này có tính bắt buộc phải tiến hành trước khi mở phiên tòa sơ thẩm.
Tại các giai đoạn khác của quá trình tố tụng thì thủ tục hòa giải vẫn có thể
tiến hành nếu có khả năng hòa giải thành. Theo các Điều 220, 270 BLTTDS năm
2004 thì tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, Tòa chỉ hỏi đương sự có thỏa thuận được
với nhau về việc giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình hay không? Trong trường
hợp đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Tòa án ra quyết
định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Việc bắt buộc tiến hành thủ tục hòa giải trước khi mở phiên tòa sơ thẩm xuất
phát từ những cơ sở pháp lý, trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, Tòa án phải tiến hành
lập hồ sơ vụ án hôn nhân và gia đình, căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của người khởi
kiện, Tòa án xác định các chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án yêu cầu của đương
sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện cung cấp và thu thập chứng cứ theo quy
đơn yêu cầu đó. Nếu trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có
quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách
tự nguyện. Tuy nhiên, không phải mọi sự thoả thuận của các đương sự đều được
pháp luật cho phép mà sự thoả thuận đó không được trái pháp luật và đạo đức xã hội
Thứ ba, Toà án có vai trò quan trọng đối với việc hòa giải của các bên
đương sự khi tham gia thủ tục hoà giải vụ án hôn nhân và gia đình
Trong pháp luật tố tụng dân sự của nước ta, thủ tục hòa giải được coi là một
thủ tục tố tụng bắt buộc trước khi xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình, trừ
những trường hợp pháp luật quy định không được hòa giải và những trường hợp
không hòa giải được.
Toà án có vai trò quan trọng đối với việc hòa giải của các bên đương sự khi
tham gia thủ tục hoà giải vụ án hôn nhân và gia đình. Trong thủ tục hòa giải, Tòa án
giữ một vị trí đặc biệt, không phải là một bên chủ thể của thủ tục hòa giải vụ án hôn
nhân và gia đình đó, Tòa án với vai trò trung gian có nhiệm vụ tổ chức các bên
đương sự gặp nhau để bàn bạc thương lượng. Khi tiến hành thủ tục hòa giải, Tòa án
17
giải thích cho các đương sự về các quy định của pháp luật liên quan tới các vấn đề
tranh chấp, các chính sách của Nhà nước, động viên, giúp đỡ họ tháo gỡ những
vướng mắc trong tâm tư tình cảm của mình. Khi các đương sự thỏa thuận được với
nhau về các vấn đề phải giải quyết trong vụ án, Tòa án có trách nhiệm ghi nhận
quan điểm của các đương sự trong một văn bản pháp lý dưới dạng: Biên bản hòa
giải thành – nó là một tài liệu văn bản xác nhận một sự kiện và nó là cơ sở để Tòa
án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự hoặc nếu các bên đương sự
không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án (các quan hệ pháp
luật, các yêu cầu của các đương sự trong vụ án) và cả án phí thì Tòa án không công
nhận sự thỏa thuận của các đương sự mà tiến hành mở phiên tòa để xét xử vụ án
hôn nhân và gia đình theo luật định.
So với các quan hệ khác trong đời sống xã hội, quan hệ hôn nhân và gia đình
là quan hệ dân sự có tính chất đặc biệt, bởi nó được hình thành từ quan hệ hôn nhân,
Giải quyết tranh chấp bằng hoà giải thường rất nhanh chóng, tiết kiệm, hạn
chế được nhiều thời gian và chi phí cho các bên tranh chấp và chính cho Toà án. Có
những quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình phải xét xử đi xét xử lại nhiều lần
dẫn đến chi phí tố tụng của Toà án và của các đương sự còn lớn hơn nhiều so với
yêu cầu Toà án giải quyết.
Nếu các bên đương sự không hòa giải thành, thì công tác hòa giải cũng giúp
cho Tòa án nắm vững hơn về vụ án, hiểu rõ hơn tâm tư tình cảm và những khúc
mắc trong lòng đương sự, từ đó có thể thiết lập hướng giải quyết vụ án đúng đắn
hơn, rút ra những kinh nghiệm trong quá trình xét xử.
- Hai là: Ý nghĩa về mặt kinh tế
Quá trình giải quyết một vụ án hôn nhân và gia đình có thể bị kéo dài phải xét
xử đi xét xử lại nhiều lần. Nhưng với những vụ án được giải quyết thành công sau
khi tiến hành thủ tục hòa giải thì thời gian giải quyết rất ngắn, nếu các bên đương sự
thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án hôn nhân gia đình đó thì
Tòa án lập biên bản hòa giải thành. Hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản
hoà giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó thì
Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Toà án phân
19
công ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Quyết định công
nhận sự thoả thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban
hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Như vậy, thời gian
vụ án được giải quyết trong thời gian rất ngắn, thời gian chỉ có thể chỉ cần một đến
hai tháng nếu sự thỏa thuận của đương sự đạt được trong thời gian chuẩn bị xét xử
kể từ ngày Tòa án thụ lý vụ án. Trong gian đoạn hiện nay, Tòa án phải giải quyết
một số lượng vụ việc dân sự mà Tòa án phải giải quyết tăng cao so với cùng kỳ năm
trước. Vì vậy, việc tiến hành thủ tục hòa giải mà hòa giải thành không chỉ tiết kiệm
thời gian, tiền của cho đương sự, mà còn ý nghĩa rất lớn đối với Tòa án: góp phần
giúp Tòa án có thời gian giải quyết các vụ án khác, bảo vệ quyền lợi tối đa cho
đương sự.
phát triển, không để những sự việc được coi là đáng tiếc xảy ra, tháo gỡ được tâm lý
nặng nề, tình trạng đối đầu của họ. Việc hoà giải thành còn củng cố và phát triển
quan hệ vốn có giữa các bên tranh chấp, làm cho mối quan hệ pháp luật hôn nhân và
gia đình bao gồm các quan hệ về nhân thân và các quan hệ về tài sản được phát triển
lành mạnh, hạn chế đến mức tối đa của sự can thiệp quyền lực công vào quan hệ đó
mà phát triển bằng biện pháp giáo dục thuyết phục và sự cảm thông của các thành
viên trong gia đình và những người có liên quan. Tuy nhiên, nhưng không phải lúc
nào, hoà giải cũng mang lại hạnh phúc cho người trong cuộc. Có những cuộc hôn
nhân cũng như con bệnh thời kỳ cuối, việc giải quyết ly dị cũng chính là phương
thuốc giải thoát.
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA THỦ TỤC HÒA GIẢI VỤ
VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
1.2.1. Cơ sở lý luận
Pháp luật tố tụng dân sự và pháp luật hôn nhân và gia đình quy định rất cụ thể
về các bước, các giai đoạn tiến hành thủ tục hòa giải vụ án hôn nhân và gia đình.
Khi Tòa án tiến hành thụ lý giải quyết những tranh chấp về hôn nhân và gia đình
như: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, tranh chấp về chia tài
sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tranh chấp về thay đổi người trực
tiếp nuôi con sau khi ly hôn, tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định
21
con cho cha, mẹ, tranh chấp về cấp dưỡng và các tranh chấp khác về hôn nhân và
gia đình mà pháp luật có quy định. Như vậy, các tranh chấp về hôn nhân và gia đình
được quy định tại Điều 27 BLTTDS năm 2004 là những tranh chấp có đặc điểm rất
khác với các tranh chấp dân sự thuần túy như: hợp đồng, bảo hiểm,… mà những
tranh chấp này bị chi phối bởi các yếu tố tình cảm thiêng liêng như tình vợ chồng,
tình phụ tử, tình thương yêu giữa các thành viên trong gia đình mà các quan hệ
tranh chấp này không chủ yếu dựa trên cơ sở hàng hóa – tiền tệ, không mang tính
chất đền bù ngang giá (đây là điểm khác biệt lớn của quan hệ hôn nhân gia đình so
với các quan hệ dân sự khác). Như vậy, khi các chủ thể tranh chấp với nhau do yếu
vợ chồng để giành phần phải về mình. Gần đây, hình ảnh đó đã được thay thế bằng
cách cư xử hòa nhã, nhẹ nhàng hơn. "Một phần do trình độ văn hóa, nhận thức pháp
luật của người dân ngày càng được nâng lên, nhưng phần khác, ẩn sau cách cư xử
văn minh đó là cơn sóng ngầm rất dữ dội" [48].
Khi hai bên đương sự đang tranh chấp về việc giải quyết việc ly hôn, tranh
chấp việc chia tài sản khi ly hôn, tranh chấp về chia tài sản chung của vợ
chồng…với sự trợ giúp của Thẩm phán vô tư khách quan và thành thạo kỹ năng giải
quyết vụ án hôn nhân và gia đình. Thẩm phán phổ biến cho các đương sự biết các
quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên hệ đến
quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hoà giải thành để họ
tự nguyện thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Hòa giải đã được quy định
trong BLTTDS năm 2004 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam thông qua ngày 15/6/2004, có hiệu lực từ ngày 01/01/2005, LHNGĐ năm
2000, Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành các quy định trong
Phần thứ hai “thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng
Dân sự và Nghị định số 70/CP ngày 12 tháng 6 năm 1997 của Chính phủ về án phí,
lệ phí Tòa án và Công văn của Tòa án nhân dân Tối cao số 107/KHXX ngày 23
tháng 6 năm 2006 về việc công báo đính chính biên bản hòa giải thành và các văn
bản hướng dẫn thi hành BLTTDS năm 2004 và LHNGĐ năm 2000. Khi tiến hành
thủ tục hòa giải vụ án hôn nhân và gia đình đều phải xuất phát từ bản chất của
những quan hệ hôn nhân và gia đình trên cơ sở bình đẳng, tự do, tự nguyện, cam
kết, thỏa thuận. Trong quá trình giải quyết các quan hệ pháp luật hôn nhân và gia
23
đình Toà án phải tiến hành hoà giải để giúp các đương sự thoả thuận được với nhau
về việc giải quyết các quan hệ pháp luật đó, trừ những trường hợp không hoà giải
được hoặc pháp luật quy định không được hoà giải. Thủ tục hòa giải vụ án hôn nhân
và gia đình là một yêu cầu tất yếu khách quan trước sự phát triển của đời sống xã
hội, đời sống gia đình trong tình hình mới và là một yêu cầu cần xây dựng một mọi
tranh chấp trước tiên nên được giải quyết bằng thương lượng, hòa giải.
Việc quy định hòa giải thành một thủ tục trong quá trình giải quyết vụ án hôn
nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân, một điểm xuất phát khá quan trọng của nó là
truyền thống của dân tộc nói riêng và truyền thống tập quán trên thế giới nói chung.
Dân tộc ta là một dân tộc có truyền thống đoàn kết từ lâu đời, tình cảm giữa người
với người, giữa cha mẹ với con cái, giữa các thành viên trong gia đình bao giờ cũng
là một vấn đề hàng đầu mỗi khi quy định một vấn đề nào đó liên quan đến quyền lợi
của cá nhân. Quan niệm có từ thời rất xa xưa trong lịch sử các dân tộc ta “lấy hòa
làm trọng” đã tác động không nhỏ đến cách đối nhân xử thế trong nội bộ gia đình.
Thời kỳ năm 1945 thủ tục hòa giải tuy không được quy định trong các văn bản pháp
luật có giá trị pháp lý cao như Pháp lệnh, Bộ luật nhưng công tác hòa giải vẫn diễn
ra một cách thường xuyên trong phạm vi nhỏ tại các khu phố khi các thành viên
trong gia đình và huyết thống xảy ra mâu thuẫn, va chạm hoặc hiểu lầm. Việc làm
trên có ý nghĩa quan trọng nhằm hạn chế các những quan hệ hôn nhân và gia đình
tiếp tục tranh chấp, yêu cầu đến Tòa án nhân dân cấp huyện giải quyết, các vụ hòa
giải không thành UBND các xã - thị trấn đều ban hành thông báo để người dân có
cơ sở tiếp tục làm đơn tranh chấp, vụ việc đó đến Tòa án nhân dân cấp huyện hoặc
khởi kiện dân sự tại Tòa án
Thủ tục hòa giải vụ án hôn nhân và gia đình tại Toà án nhân dân đã phát huy
tác dụng rất tốt trong việc giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình. Tổng kết thực
tiễn xét xử đã chứng minh công tác hòa giải các quan hệ hôn nhân và gia đình theo
luật định có ý nghĩa và tầm quan trọng của nó. Tòa án đã thực hiện được một nhiệm
vụ lớn lao mà Nhà nước giao cho là giáo dục trình độ hiểu biết pháp luật và nâng
cao ý thức chấp hành pháp luật cho mỗi công dân. Đây là một hiệu quả thực tế đã
được chứ không chỉ nói trên phương diện lý thuyết vì một mặt, khi tiến hành trình
tự, thủ tục hòa giải, Tòa án phổ biến cho các đương sự biết các quy định của pháp