Thủ tục xét xử các vụ án dân sự tại phiên toà sơ thẩm - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT PHƯƠNG THẢO Thủ tục xét xử các vụ án dân sự tại phiên toà sơ thẩm

luËn v¨n th¹c sÜ LUẬT


Hµ néi - 2006

LỜI CAM ĐOAN
TÔI XIN CAM ĐOAN ĐÂY LÀ CÔNG TRÌNH
NGHIÊN CỨU CỦA RIÊNG TÔI. CÁC SỐ LIỆU
NÊU TRONG LUẬN VĂN LÀ TRUNG THỰC.
NHỮNG KẾT LUẬN KHOA HỌC CỦA LUẬN VĂN
CHƢA TỪNG ĐƢỢC AI CÔNG BỐ TRONG BẤT
KỲ CÔNG TRÌNH NÀO KHÁC. TÁC GIẢ LUẬN VĂN
PHƢƠNG THẢO


1.3.2 Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét
xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
1.3.3 Nguyên tắc Toà án xét xử tập thể.

Trang 1.3.4 Nguyên tắc xét xử công khai
1.3.5 Nguyên tắc bảo đảm sự vô tƣ của những ngƣời tiến
hành hoặc tham gia tố tụng dân sự.
1.3.6 Nguyên tắc thực hiện hai cấp xét xử.
1.4 Quá trình hình thành và sự phát triển các quy định pháp
luật về Thủ tục xét xử các vụ án dân sự tại phiên toà sơ thẩm từ năm
1945 đến nay.
1.4.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960.
1.4.2 Giai đoạn sau năm 1960 đến năm 1989.
1.4.3 Giai đoạn từ sau năm 1989 đến năm 2005.
1.4.4 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay.
Chƣơng 2. NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ
THỦ TỤC XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI PHIÊN TOÀ SƠ
THẨM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CÁC TAND Ở THÀNH PHỐ
HÀ NỘI.
2.1 Vấn đề chuẩn bị cho việc xét xử.
2.2 Phiên toà sơ thẩm.
2.2.1 Thủ tục bắt đầu phiên toà.
2.2.2 Thủ tục hỏi tại phiên toà.
2.2.3 Thủ tục tranh luận tại phiên toà.
2.2.4 Thủ tục nghị án.
2.2.5 Thủ tục tuyên án
2.2.6 Những thủ tục sau phiên toà.

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
BLTTDS
HĐXX
HĐTP
NxB
PLTTGQCVADS
PLTTGQCTCLĐ
PLTTGQCVAKT
TAND
tr
VKSND
XHCN

Bộ luật tố tụng dân sự
Hội đồng xét xử
Hội đồng Thẩm phán
Nhà xuất bản
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
Toà án nhân dân
Trang
Viện kiểm sát nhân dân
Xã hội chủ nghĩa

cỏc v ỏn dõn s (theo ngha rng, bao gm c vic gii quyt cỏc v ỏn dõn s,
hụn nhõn v gia ỡnh, kinh doanh thng mi, lao ng trc õy), trong ú cỏc quy định về Thủ tục xét xử các vụ án dân sự tại phiên toà sơ thẩm đã đáp ứng đƣợc
tƣơng đối rõ ràng về yêu cầu cải cách tƣ pháp, đặc biệt là thể hiện một bƣớc trong
hoạt động tranh tụng tại phiên toà. Song các quy định đó còn tƣơng đối mới, một số
quy định chƣa rõ ràng nên việc áp dụng còn nhiều quan điểm khác nhau, văn bản
hƣớng dẫn thi hành của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền chƣa đầy đủ và nhiều vấn
đề liên quan đến xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự chƣa đƣợc nghiên cứu. Do vậy,
tiễn xét xử của Toà án đã có không ít các bản án của Toà án cấp dƣới đã bị Toà án
cấp trên huỷ do vi phạm các thủ tục tố tụng.
Mặt khác, trong hoạt động xét xử của Toà án, vẫn tồn tại không ít trƣờng hợp
có ngƣời coi nhẹ công tác phiên toà, cho rằng xét xử ở phiên toà chỉ là việc “công
khai hoá” hay “hợp pháp hoá” một chủ trƣơng xét xử mà Toà án đã dự kiến, Thẩm
phán xây dựng hồ sơ và đã có dự kiến trƣớc về đƣờng lối xét xử nên tại phiên toà
khó có sự kiện gì mới. Tƣ tƣởng sai lầm này còn có phần coi nhẹ vai trò của HTND,
coi nhẹ việc xét xử tập thể.
Việc nghiên cứu về trình tự thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án dân sự nhằm hoàn
thiện pháp luật và thấy rõ đƣợc vai trò quan trọng của việc xét xử vụ án, từ đó nâng
cao hoạt động cải cách tƣ pháp, nâng cao hoạt động tranh tụng công khai tại phiên
toà là một trong những yêu cầu cấp bách nhất của pháp luật tố tụng dân sự hiện nay.
Với ý nghĩa trên, tôi lựa chọn đề tài “Thủ tục xét xử các vụ án dân sự tại
phiên toà sơ thẩm” để làm luận văn thạc sỹ luật học nhằm góp phần hoàn thiện làm
rõ hơn nữa các quy định trong pháp luật thực định cũng nhƣ áp dụng pháp luật tại
các Toà án, đáp ứng yêu cầu hiện nay.
2- Tình hình nghiên cứu đề tài:
Từ trƣớc tới nay, đã có một số tác giả viết về vấn đề “Thủ tục xét xử các vụ
án dân sự tại phiên toà sơ thẩm”, nhƣng chủ yếu đề cập đến một số khía cạnh của
thủ tục xét xử các vụ án dân sự đăng trên các tạp chí TAND hay tạp chí Dân chủ và

năm 2005; “Một số quy định chung về thủ tục giải quyết việc dân sự” của tác giả
Tƣởng Duy Lƣợng đăng trên tạp chí TAND số 6 năm 2005; “Ngƣời tham gia tố
tụng dân sự” của tác giả Nguyễn Việt Cƣờng đăng trên tạp chí TAND số 8 năm
2005; “Về cách thức ban hành bản án” của tác giả Lê Thị Hiền đăng trên tạp chí
TAND số 11 năm 2005.
Cũng đã có tác giả chọn đề tài này làm luận văn thạc sỹ nhƣ: “Thủ tục xét xử
các vụ án dân sự tại phiên toà sơ thẩm” của tác giả Ngô Thị Minh Ngọc năm 2000.
Tuy nhiên, từ khi BLTTDS năm 2004 có hiệu lực pháp luật thi hành cho đến
nay, chƣa có công trình nào nghiên cứu hoàn chỉnh trong phạm vi từ giai đoạn
chuẩn bị cho việc xét xử đến khi ra bản án. Do vậy, tác giả mạnh dạn lựa chọn đề
tài “Thủ tục xét xử các vụ án dân sự tại phiên toà sơ thẩm” với mong muốn nghiên
cứu một cách toàn diện những quy định mới về Thủ tục xét xử các vụ án dân sự tại
phiên toà sơ thẩm đƣợc quy định trong BLTTDS năm 2004.
3- Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu đề tài.
Mục đích chủ yếu của luận văn là tập trung phân tích các quy định hiện hành
về Thủ tục xét xử các vụ án dân sự tại phiên toà sơ thẩm, từ đó đƣa ra những kiến
nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, áp dụng pháp luật tố tụng nói chung, áp dụng pháp
luật trong việc xét xử các vụ án dân sự tại phiên toà sơ thẩm nói riêng.
Nhiệm vụ của luận văn là: thông qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực
tiễn của vấn đề thủ tục xét xử các vụ án dân sự tại phiên toà sơ thẩm qua các quy
định của BLTTDS nhằm làm rõ:
+ Khái niệm, nội dung, phạm vi và các nguyên tắc của thủ tục xét xử các vụ
án dân sự tại phiên toà sơ thẩm.
+ Trình tự xét xử các vụ án tại phiên toà sơ thẩm
+ Những điểm mới của Thủ tục xét xử các vụ án dân sự tại phiên toà sơ thẩm
trong BLTTDS so với các Pháp lệnh thủ tục trƣớc đây. + Phân tích, đánh giá đƣa ra các kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật tố
tụng dân sự về thủ tục xét xử các vụ án dân sự trong quá trình hoàn thiện pháp luật

Luận văn có thể đƣợc sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên
cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, khoa học luật tố tụng dân sự, Thủ
tục xét xử các vụ án dân sự tại phiên toà sơ thẩm nói riêng. Ngoài ra, luận văn còn
có thể đƣợc sử dụng làm tài liệu tham khảo cho ngƣời đang làm công tác tƣ pháp
nhƣ: cán bộ kiểm sát, cán bộ ngành Toà án, luật sƣ, ngƣời làm công tác pháp luật
khác.
6- Cơ cấu của luận văn;
Gồm có: Lời nói đầu, 3 chƣơng và phần kết luận.
Có phần danh mục tài liệu tham khảo.
Lời nói đầu: Trình bày sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài, mục đích,
nhiệm vụ, phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu đề tài.
Chƣơng 1: Nhữn vấn đề chung về “Thủ tục xét xử các vụ án dân sự tại phiên
toà sơ thẩm”.
Chƣơng 2: Những quy định của pháp luật hiện hành về “Thủ tục xét xử các
vụ án dân sự tại phiên toà sơ thẩm” và thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTDS
về phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự tại các TAND ở thành phố Hà Nội.
Chƣơng 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, áp dụng pháp luật tố tụng
dân sự Việt Nam về Thủ tục xét xử các vụ án dân sự tại phiên toà sơ thẩm.
Kết luận:
Nêu các vấn đề đã nghiên cứu trong luận án, từ đó rút ra các những ƣu điểm
và những mặt còn hạn chế của luận án. Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC XÉT XỬ
CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI PHIÊN TOÀ SƠ THẨM.
1.1 KHÁI NIỆM “THỦ TỤC XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI PHIÊN TOÀ SƠ THẨM”.
Nhiều ngƣời quan niệm đơn giản thủ tục tố tụng chỉ là những vấn đề kỹ thuật
và vì vậy, để đảm bảo giải quyết một vụ án đảm bảo tính khách quan, công bằng thì
trƣớc tiên và cần thiết nhất là phải áp dụng đúng pháp luật nội dung. Quan niệm này

Trong thực tế, pháp luật tố tụng có ảnh hƣởng rất lớn đến hiệu quả công việc
của các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là đối với Toà án trong hoạt động xét xử
đặc thù của mình. Nếu quá trình điều tra, xét xử tốt thì bản án tuyên ra cũng đƣợc
thi hành. Ngƣợc lại, nếu có những vi phạm thủ tục tố tụng trong qúa trình xét xử thì
chắc chắn bản án tuyên ra cũng không có sức thuyết phục và không thi hành đƣợc,
dẫn đến khiếu nại kéo dài.
Để tìm hiểu khái niệm “Thủ tục xét xử các vụ án dân sự tại phiên toà sơ
thẩm”, chúng ta bắt đầu từ khái niệm “vụ án dân sự”.
Từ điển luật học do Nhà xuất bản từ điển bách khoa xuất bản năm 1999
không có định nghĩa về vụ án dân sự. Tuy nhiên, trong cuốn từ điển này có đƣa ra 2
khái niệm là khái niệm “vụ án kinh tế” và khái niệm “vụ kiện dân sự”.
“Vụ án kinh tế: các tranh chấp kinh tế mà một bên hoặc các bên tranh chấp
khởi kiện ở Toà án. Vụ án kinh tế bao gồm: các vụ án về tranh chấp hợp đồng kinh
tế, các vụ án về tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các
thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể
công ty; các vụ án về tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu; các vụ án về tranh chấp khác theo quy định của pháp luật” [Từ điển luật học, Nxb
Bách khoa, 1999, tr.571].
“Vụ kiện dân sự: việc những cá nhân hay pháp nhân làm đơn gửi đến các toà
dân sự yêu cầu xét xử để bảo vệ các quyền, quyền lợi dân sự của cá nhân hay của
pháp nhân, hay của tập thể, của Nhà nƣớc mà họ cho là bị xâm phạm.
Bên kiện dân sự- nguyên đơn dân sự có thể đòi bên bị kiện- bị đơn dân sự
phải thi hành, nếu chƣa thi hành hoặc phải tiếp tục thi hành, nếu đã thi hành một
phần các nghĩa vụ dân sự theo hợp đồng dân sự nhƣ thanh toán tiền, trả nợ, giao tài
sản, vv… hoặc yêu cầu Toà án thừa nhận một sự kiện pháp lý nhất định nhƣ: công
nhận hợp đồng vô hiệu, li hôn, công nhận mất tích, chết… nhằm mục đích thay đổi
hoặc đình chỉ những quan hệ pháp luật dân sự nhất định” [Từ điển luật học, Nxb
Bách khoa, 1999, tr.571].

kiện để yêu cầu Toà án xử chấm dứt quan hệ hôn nhân hợp pháp đang tồn tại (xử
cho mình đƣợc thực hiện quyền ly hôn) vì ngƣời chồng (hoặc ngƣời vợ) không
đồng ý ly hôn. Theo Hiến pháp, Luật tổ chức TAND thì Toà án là cơ quan duy nhất
thực hiện chức năng xét xử, có trách nhiệm giải quyết các tranh chấp dân sự.
Hành vi khởi kiện tại TAND của cá nhân, cơ quan, tổ chức là sự kiện pháp lý
tiền đề làm phát sinh vụ án dân sự.
Xuất phát từ cách hiểu nhƣ trên về vụ án dân sự, chúng ta cần lƣu ý hai điểm
sau:
+ Thứ nhất, ở nƣớc CHXHCNVN, Nhà nƣớc tôn trọng và bảo vệ quyền khởi
kiện vụ án dân sự của các chủ thể để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình, bảo vệ lợi
ích công cộng, bảo vệ lợi ích của Nhà nƣớc thuộc lĩnh vực mình phụ trách. + Trong vụ án dân sự, luôn tồn tại mâu thuẫn giữa các bên, có tranh chấp về
quyền và nghĩa vụ giữa các bên đƣơng sự mà họ không tự dàn xếp ổn thoả đƣợc,
cho nên họ phải yêu cầu Toà án xét xử để giải quyết tranh chấp đó.
Nhƣ vậy, vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND và các vụ án
dân sự đều có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ. Với cách hiểu nhƣ vậy, các vụ án
dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án, là đối tƣợng điều chỉnh của luật tố
tụng dân sự gồm những vụ án tranh chấp dân sự, kinh doanh thƣơng mại, lao động
và hôn nhân gia đình.
Ngoài ra, còn có thể phân biệt khái niệm vụ án dân sự với khái niệm việc dân
sự (một khái niệm mới đƣợc quy định trong BLTTDS). Theo quy định tại Điều 311
BLTTDS thì: “Việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp,
nhƣng có yêu cầu Toà án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý làm
căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thƣơng
mại, lao động của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác; yêu cầu Toà án
công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thƣơng
mại, lao động”.
Nhƣ vậy, điểm khác cơ bản của vụ án dân sự với việc dân sự là trong vụ án

So với khái niệm đƣơng sự trong các Pháp lệnh thủ tục trƣớc đây, khái niệm
đƣơng sự trong BLTTDS có điểm khác, cụ thể:
- Đƣơng sự trong PLTTGQCVADS là công dân và pháp nhân (Điều 19).
- Đƣơng sự trong PLTTGQCVAKT là cá nhân và pháp nhân (Điều 20).
- Đƣơng sự trong PLTTGQCTCLĐ là cá nhân, tập thể lao động, tổ chức sử
dụng lao động (Điều 19). So sánh giữa 3 Pháp lệnh tố tụng với BLTTDS, chúng ta thấy có chung nhau
một loại chủ thể tham gia tố tụng đó là cá nhân (công dân) và khác nhau ở các chủ
thể còn lại.
Nhƣ vậy, khái niệm “đƣơng sự” trong BLTTDS mở rộng và khái quát hơn.
PLTTGQCVADS quy định các đƣơng sự là công dân, pháp nhân;
PLTTGQCVAKT quy định đƣơng sự là cá nhân, pháp nhân. Với các quy định này,
các tổ chức không có tƣ cách pháp nhân nhƣ: tổ hợp tác, doanh nghiệp tƣ nhân,
doanh nghiệp hợp danh… không phải là đƣơng sự. Rõ ràng quy định nhƣ trên
không bao quát đƣợc tất cả các chủ thể tham gia quan hệ dân sự đã đƣợc quy định
trong Bộ luật dân sự. Với quy định trong Điều 56 BLTTDS đã khắc phục đƣợc
những thiếu sót trong các Pháp lệnh tố tụng và đã bao quát đƣợc tất cả các chủ thể
tham gia quan hệ dân sự đã đƣợc quy định trong Bộ luật dân sự.
Ngoài ra, Điều 162 BLTTDS cũng quy định quyền khởi kiện vụ án dân sự để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời khác, lợi ích công cộng và lợi ích của
Nhà nƣớc:
“1. Cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liện hiệp phụ nữ trong phạm
vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình
trong trƣờng hợp do Luật hôn nhân và gia đình quy định.
2. Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao
động trong trƣờng hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể ngƣời lao
động do pháp luật quy định.
3. Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền

Về mặt lý thuyết, Luật tố tụng dân sự là một ngành luật độc lập trong hệ
thống pháp luật của nƣớc CHXHCNVN, là tổng hợp những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tố tụng phát sinh giữa Toà án và những ngƣời tham gia tố
tụng khác trong quá trình Toà án giải quyết các vụ án dân sự. Trong công tác xét
xử, Toà án không những phải nắm vững pháp luật về mặt nội dung (nhƣ Luật dân
sự, Luật lao động, Luật kinh tế, Luật hôn nhân và gia đình…) mà còn phải nắm
vững cả pháp luật tố tụng dân sự.
Tố tụng dân sự khác tố tụng hình sự ở chỗ: Các vụ án hình sự chỉ phát sinh
khi có tội phạm xảy ra và đều do các cơ quan: Công an, VKSND điều tra. Còn trong
tố tụng dân sự thì sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán phải tự mình xây dựng hồ sơ
bằng các biện pháp pháp luật quy định nhƣ: xác minh, lấy lời khai đƣơng sự, lấy lời
khai ngƣời làm chứng, trƣng cầu giám định, xem xét thẩm định tại chỗ, thành lập
hội đồng định giá… để hoàn chỉnh hồ sơ và mở phiên toà đƣa ra xét xử sơ thẩm vụ
án.
Một trong những nguyên tắc rất quan trọng trong tố tụng dân sự ở Việt Nam
là: Thực hiện chế độ hai cấp xét xử. Đó là xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm.
Xét xử sơ thẩm là một giai đoạn quan trọng của tố tụng dân sự thể hiện rõ
chức năng xét xử của Toà án, ở đó tất cả các chứng cứ mà Toà án đã thu thập đƣợc
trong quá trình giải quyết vụ án, những yêu cầu của các đƣơng sự đƣợc đƣa ra xem
xét, kiểm tra và đánh giá tại phiên toà công khai, từ đó HĐXX quyết định ra bản án
hay quyết định khác một cách khách quan, chính xác, phù hợp với thực tế và đúng
pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đƣơng sự. Cũng tại phiên toà,
Toà án cũng tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân, xác định uy tín của các
cơ quan pháp luật nói chung và Toà án nói riêng. Từ đó, nhân dân hiểu và thực hiện
đúng pháp luật. Việc xét xử ở cấp sơ thẩm hay cấp phúc thẩm tại phiên toà… cũng
phải đƣợc tuân theo những trình tự thủ tục mà pháp luật tố tụng quy định. Phiên toà
phải thể hiện rõ địa vị pháp lý (quyền và nghĩa vụ) của cơ quan tiến hành tố tụng,
tuân thủ các nguyên tắc tố tụng nói chung và các quy định về xét xử nói riêng. Đó là

thẩm huỷ để xét xử sơ thẩm lại từ đầu.
Theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trƣờng Đại học luật Hà Nội
thì sơ thẩm là việc “Xét xử lần đầu vụ án dân sự” [Nhà xuất bản Công an nhân dân,
1999, tr.225].
Theo Từ điển Tiếng Việt cũng giải thích: “Sơ thẩm, lần đầu tiên đƣa một vụ
án ra xét xử tại một Toà án có thẩm quyền. Công tác xét xử ở Việt Nam đƣợc thực
hiện theo chế độ hai cấp xét xử: sơ thẩm và phúc thẩm” [Nhà xuất bản từ điển bách
khoa, 1999, tr.434].
Điều 30, điều 32 Luật tổ chức TAND quy định: Toà chuyên trách TAND cấp
tỉnh, TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền sơ thẩm
những vụ án theo quy định của pháp luật.
Thủ tục sơ thẩm các vụ án dân sự bao gồm những việc nhƣ: “Khởi kiện, khởi
tố và thụ lý vụ án dân sự, hoà giải vụ án dân sự (trừ những vụ án pháp luật quy định
không phải hoà giải), điều hành phiên toà xét xử vụ án dân sự”. Toàn bộ những việc
của thủ tục sơ thẩm đều đƣợc tiến hành theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Từ những phân tích trên có thể xác định: Thủ tục xét xử các vụ án dân sự tại
phiên toà sơ thẩm là những việc cụ thể mà Toà án phải làm theo quy định của pháp
luật tố tụng dân sự về thủ tục xét xử các vụ án dân sự tại phiên toà sơ thẩm khi tiến
hành trình tự xét xử lần đầu những tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền của Toà án.
1.2 ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI CỦA VIỆC XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI PHIÊN TOÀ SƠ
THẨM.
Khác với PLTTGQCVADS; PLTTGQCVAKT; PLTTGQCTCLĐ trƣớc đây,
BLTTDS năm 2004 quy định 2 thủ tục riêng biệt: Thủ tục xét xử các vụ án dân sự
và Thủ tục giải quyết các việc dân sự. Theo quy định tại phần thứ nhất, chƣơng II,
mục 1, các Điều 25, 27, 29, 31 BLTTDS thì TAND có thẩm quyền xét xử các vụ án
dân sự nhƣ sau: * Nhng tranh chp v dõn s thuc thm quyn gii quyt ca To ỏn
1. Tranh chp gia cỏ nhõn vi cỏ nhõn v quc tch Vit Nam.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status