[ Bản Full ] Vai trò của Thẩm phán tòa án nhân dân cấp quận, huyện trong xét xử các vụ án hình sự (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn Thành phố Hà Nội, giai đoạn 2009- 2013) - Pdf 29


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT HONG TH THOA VAI TRò CủA THẩM PHáN TòA áN NHÂN DÂN
CấP QUậN, HUYệN TRONG XéT Xử CáC Vụ áN HìNH Sự
(TRÊN CƠ Sở Số LIệU THựC TIễN ĐịA BàN THàNH PHố Hà NộI,
GIAI ĐOạN 2009 - 2013) Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
MỤC LỤC

Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA THẨM
PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP QUẬN, HUYỆN TRONG
XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ 8
1.1. Khái niệm Thẩm phán và vai trò của Thẩm phán Tòa án
nhân dân cấp quận, huyện trong xét xử các vụ án hình sự 8
1.1.1. Khái niệm Thẩm phán 8
1.1.2. Vai trò của Thẩm phán nhân dân cấp quận, huyện trong xét xử
vụ án hình sự 12
1.2. Mối quan hệ pháp luật giữa Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp
quận, huyện với các chức danh tư pháp khác trong xét xử các
vụ án hình sự 14
1.2.1. Mối quan hệ bên trong Tòa án 15
1.2.2. Quan hệ bên ngoài Tòa án 19
1.3. Một số nguyên tắc cơ bản của hoạt động xét xử các vụ án
hình sự và sự tác động của chúng tới vai trò của Thẩm phán
Tòa án nhân dân cấp quận, huyện trong xét xử vụ án hình sự 23
1.3.1. Nguyên tắc suy đoán vô tội 23
1.3.2. Nguyên tắc độc lập xét xử 24

3.1.1. Mục đích, yêu cầu 69
3.1.2. Phương hướng hoàn thiện 72
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật 74
3.3. Một số giải pháp khác tăng cường vai trò Thẩm phán của Tòa án
nhân dân cấp quận, huyện trong xét xử các vụ án hình sự 80
3.3.1. Giải pháp đổi mới cơ chế tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán của
Tòa án nhân dân cấp quận, huyện 80
3.3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi
dưỡng Thẩm phán của Tòa án nhân dân cấp quận, huyện 84
3.3.3. Giải pháp nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của Thẩm
phán trong công tác xét xử các vụ án hình sự cấp quận, huyện 87
3.3.4. Giải pháp nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp
của Thẩm phán của Tòa án nhân dân cấp quận, huyện 89
3.3.5. Giải pháp đổi mới chế độ, chính sách đối với Thẩm phán của
Tòa án nhân dân cấp quận, huyện 96
3.3.6. Giải pháp tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của
Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp quận, huyện 98
3.3.7. Giải pháp về điều kiện đảm bảo nâng cao năng lực đội ngũ Thẩm
phán Tòa án nhân dân cấp quận, huyện 100
KẾT LUẬN 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
pháp. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến
lược Cải cách tư pháp đến năm 2020” đã khẳng định: “Tổ chức các cơ quan
tư pháp và các chế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại về cơ cấu
tổ chức và điều kiện, phương tiện làm việc; trong đó xác định toà án có vị trí
trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm” [10]. Toà án nhân dân có vai trò
quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo
môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc. TAND là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý,
quyền con người, đồng thời là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế
xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm. Tòa
án thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình thông qua đội ngũ Thẩm phán-
những người có trách nhiệm chính trong công tác xét xử và giải quyết các vụ
án hình sự, dân sự, hôn nhân-gia đình, kinh tế, lao động, hành chính và những
vụ việc khác do luật quy định.
Thẩm phán chính là những người đại diện cho Tòa án để thực hiện các
chức năng nêu trên. Thẩm phán có vị trí, vai trò rất quan trọng, họ có nhiệm
vụ cùng với các cơ quan chức năng có liên quan góp phần làm cho xã hội hoạt
động theo các quy định của pháp luật Thẩm phán với tư cách là người đại

2
diện cho Nhà nước, họ được pháp luật quy định quyền ban hành các quyết
định công nhận, hướng dẫn, dẫn dắt và quyết định các vấn đề có liên quan đến
quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan tổ chức. Đặc biệt trong các vụ
án hình sự, vai trò của Thẩm phán xét xử được thể hiện rõ nét nhất. Thẩm
phán là người điều khiển, dẫn dắt việc tranh tụng để việc tranh tụng diễn ra
một cách tôn nghiêm, có trật tự, đi đúng vào trọng tâm của vụ án. Để từ đó,
các chứng cứ, các sự thật khách quan của vụ án đều được đưa ra làm rõ tại
phiên tòa. Trên cơ sở tranh tụng khách quan, hội đồng xét xử (HĐXX) sẽ áp
dụng pháp luật một cách đúng đắn để đưa ra một bản án với các quyết định
hợp tình, hợp lý.

trong thời đại kinh tế trí thức hiện nay, nên đã phạm sai lầm khi giải quyết các
vụ án. Tại báo cáo tổng kết công tác năm 2012 TANDTC cũng đã khẳng định:
Một số Thẩm phán, cán bộ chưa nêu cao tinh thần trách
nhiệm trong công tác, chưa tích cực học tập để nâng cao năng lực,
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nên nhiều vấn đề đã được quy định
trong pháp luật đã được hướng dẫn cụ thể nhưng chưa nắm được để
áp dụng trong công tác xét xử [35].
Trước tình hình trên và trong bối cảnh Việt Nam từng bước đi vào quỹ
đạo toàn cầu hóa, hội nhập với thế giới, nhất là đang thực hiện cải cách tư
pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08 ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị về một
số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 49
ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
và xây dựng Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự ở Việt Nam, cũng như
hàng loạt vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến Tòa án và Thẩm phán ở
nước ta vẫn tiếp tục đặt ra và cần giải đáp. Bởi vậy, việc tiếp tục nghiên cứu
lý luận, thực tiễn để làm sáng tỏ về mặt khoa học và đưa ra những giải pháp

4
quan trọng nâng cao năng lực đội ngũ Thẩm phán của các Tòa án các cấp là
đòi hỏi khách quan, cấp thiết, vừa có tính lý luận vừa có tính thực tiễn.
Việc xác định đúng vị trí, vai trò của Thẩm phán trong tố tụng tại Tòa
án là một vấn đề quan trọng. Xây dựng được Nhà nước pháp quyền XHCN
đòi hỏi nhiều biện pháp đồng bộ, trong đó việc làm sao cho mọi người nhận
thức một cách đúng đắn vị trí vai trò của Thẩm phán, hoàn thiện hệ thống
pháp luật, hoàn thiện những mô hình tố tụng, tổ chức bộ máy, các chế độ
chính sách đãi ngộ đối với Thẩm phán, nhằm tạo điều kiện cho đội ngũ Thẩm
phán thực hiện tốt vai trò của mình là một nhiệm vụ vô cùng cần thiết. Vì vậy,
việc nghiên cứu đề tài “Vai trò của Thẩm phán TAND cấp quận, huyện trong
xét xử các vụ án hình sự (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn Thành phố Hà
Nội, giai đoạn 2009 - 2013)” là cần thiết và mang tính khách quan.

cho ra mắt “Sổ tay Thẩm phán”. Sổ tay Thẩm phán sẽ đóng góp cho quá
trình hình thành nên một hệ thống tư pháp hiệu quả, công bằng và minh
bạch, tăng cường năng lực thể chế của hệ thống Tòa án thông qua việc nâng
cao tính chuyên nghiệp của Thẩm phán khi thực hiện các hoạt động tư pháp
của mình. Sổ tay Thẩm phán cũng đóng góp vào sự độc lập của ngành Tòa
án Việt Nam. Đặc biệt, ngày 09 tháng 07 năm 2010, Ban Chỉ đạo cải cách tư
pháp Trung ương đã xây dựng đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà
án, Viện kiểm sát và cơ quan điều tra theo Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ
Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
Ngoài ra còn có các bài viết của nhiều tác giả liên quan đến đội ngũ
Thẩm phán được công bố trên các tạp chí như: Tạp chí TAND, Tạp chí Dân
chủ và pháp luật, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp Các nghiên cứu đã đánh giá năng lực của đội ngũ Thẩm phán và đề ra
những khuyến nghị để nâng cao.
Có thể nói, qua nghiên cứu, khảo sát nội dung các sách chuyên khảo,
các luận án, các bài báo khoa học đã công bố ở Việt nam trong thời gian qua,
nhất là từ khi có Nghị quyết 49 của Bộ chính trị về cải cách tư pháp ở Việt
Nam đến năm 2020, cho thấy hầu hết các công trình đó là những công trình
nghiên cứu cơ bản và trực diện về tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án,
còn về Thẩm phán chưa được khoa học pháp lý Việt Nam quan tâm một cách

6
đúng mức. Những nghiên cứu về Thẩm phán chỉ mới dừng lại ở các công
trình nghiên cứu đơn lẻ, hoặc là chỉ đề cập đến một số vấn đề liên quan đến
địa vị pháp lý của Thẩm phán, chưa có một công trình khoa học nào nghiên
cứu có hệ thống, toàn diện và sâu sắc về vai trò của đội ngũ Thẩm phán của
các Tòa án các cấp trước yêu cầu cải cách tư pháp do Bộ Chính trị đề ra. Bên
cạnh đó, ở nước ta cũng chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào đánh
giá toàn vai trò đội ngũ Thẩm phán của các Tòa án hiện nay ở nước ta, vì vậy
những bất cập, hạn chế của đội ngũ Thẩm phán của các Tòa án các cấp hiện

nhân dân cấp quận, huyện trong xét xử các vụ án hình sự.
Chương 2: Những quy định của pháp luật về vai trò của Thẩm phán
Tòa án nhân dân cấp quận, huyện trong xét xử các vụ án
hình sự và thực tiễn áp dụng.
Chương 3: Một số giải pháp
hoàn thiện pháp luật và tăng cường vai
trò của Thẩm phán nhân dân cấp quận, huyện trong xét xử
vụ án hình sự.
8
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP QUẬN, HUYỆN TRONG XÉT XỬ
CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1. Khái niệm Thẩm phán và vai trò của Thẩm phán Tòa án nhân
dân cấp quận, huyện trong xét xử các vụ án hình sự
1.1.1. Khái niệm Thẩm phán
Hoạt động xét xử là yêu cầu khách quan, là một trong những chức năng
của Nhà nước xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước. Tuy nhiên, đội ngũ
Thẩm phán ra đời khá muộn (chỉ vào cuối chế độ phong kiến, đầu chế độ tư
bản mới xuất hiện Thẩm phán) mặc dù nhiệm vụ xét xử đã có từ rất lâu và
không thể thiếu trong bộ máy Nhà nước. Khi mà quyền lực nhà nước được
chia thành 3 quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập, kiềm chế đối
trọng nhau thì cũng đồng nghĩa với sự tách biệt của Toà án ra khỏi quyền

Toà án, Hội thẩm. GS. TS Võ Khánh Vinh cho rằng chức danh tư pháp bao
gồm những người thực hiện nhiệm vụ trong các cơ quan tư pháp (điều tra,
truy tố, xét xử, thi hành án) được đào tạo kỹ năng thực hành nghề và hành
nghề theo một chuyên môn nhất định, có danh xưng, được bổ nhiệm hoặc
thừa nhận theo pháp luật khi đáp đứng đầy đủ các tiêu chuẩn và điều kiện xác
định theo quy định của pháp luật [52, tr.5]. Trong các chức danh tư pháp thì
Thẩm phán được xác định là một chức danh tư pháp quan trọng và có ý nghĩa
quyết định đến việc thực hiện quyền tư pháp. Thẩm phán (hoặc cùng với Hội
thẩm) nhân danh Nhà nước để đưa ra phán quyết và khi bản án có hiệu lực
pháp luật thì tất cả cơ quan, tổ chức và mọi công dân đều phải chấp hành, kể
cả những cơ quan nhà nước. Có thể thấy, Thẩm phán là một chức danh tư

10
pháp quan trọng mang tính chuyên nghiệp của Tòa án nói riêng và trong bộ
máy nhà nước nói chung.
Dưới góc độ xã hội, Thẩm phán được xem như là một nghề theo sự phân
công của xã hội. Hoạt động xét xử là một hoạt động nghề nghiệp đặc thù so với
các nghề nghiệp khác ở chỗ hoạt động xét xử của Thẩm phán đòi hỏi một trình
độ chuyên môn cao trong các lĩnh vực pháp luật, chính trị và xã hội. Hầu hết họ
phải có kiến thức uyên thâm trên mọi lĩnh vực bởi lẽ họ là ngời đại diện cho
nền công lý, cho lẽ phải cho công bằng của toàn xã hội. Tính chuyên nghiệp
của Thẩm phán trong hoạt động xét xử là một trong những đặc tính quan trọng
không những thể hiện trình độ cao về nghề nghiệp của Thẩm phán mà còn
khẳng định vị thế của Thẩm phán trong bộ máy nhà nước và đối với xã hội.
Theo đó, hoạt động xét xử của Thẩm phán có những đặc trưng riêng. Thứ nhất
là tính đặc thù trong áp dụng pháp luật, thể hiện ở chỗ Thẩm phán với vai trò là
người đưa ra phán quyết dựa trên những chứng cứ khách quan, thực tế, không
định kiến với mục đích duy nhất là bảo vệ công lý. Tất cả mọi tranh luận tại
phiên Toà phải đảm bảo sự bình đẳng cho các bên trong vụ án. Mọi hành vi ép
buộc làm ảnh hưởng tới sự khách quan đối với phán quyết của Thẩm phán đều

Thẩm phán phải bênh vực cho ngời bị hại, không thiên vị hay dao động ý chí
trước bất kỳ sự việc nào. Tất cả những yêu cầu trên sẽ góp phần tạo dựng nên
hình ảnh một nghề biểu tượng cho sự khát khao công lý. Thứ tư là hoạt động
xét xử của Thẩm phán tuân theo một trình tự tố tụng chặt chẽ do pháp luật quy
định. Phán quyết của Thẩm phán có liên quan trực tiếp tới quyền lợi và nghĩa
vụ của cá nhân, tổ chức có liên quan. Để bảo đảm phán quyết đó thấu tình đạt
lý thì hoạt động xét xử phải tuân theo một trình tự tố tụng chặt chẽ là điều dễ
hiểu. Việc quy định như vậy tránh sự tuỳ tiện lạm quyền, bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Vi phạm các quy định của pháp luật tố tụng,

12
bản án dù có hiệu lực pháp luật cũng sẽ được Toà án cấp trên xem xét lại theo
thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Có thể thấy, chỉ khi nào thực sự coi Thẩm
phán là một nghề, có vị trí, chức danh nhất định trong xã hội thì họ mới có cơ
sở và điều kiện pháp lý để phát huy hết năng lực, phấn đấu cho sự nghiệp của
mình.Khi thực thi quyền hạn của mình, Thẩm phán đã thực hiện công việc
thuộc nghề nghiệp của mình mà xã hội đã phân công, đó là nghề xét xử.
Như vậy, từ các phân tích trên có thể đưa ra định nghĩa khái niệm
Thẩm phán như sau: Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của
pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác
thuộc thẩm quyền của Toà án.
1.1.2. Vai trò của Thẩm phán nhân dân cấp quận, huyện trong xét xử
vụ án hình sự
Trong tố tụng hình sự nói chung và trong xét xử sơ thẩm các vụ án
hình sự nói riêng, Thẩm phán cấp quận, huyện đóng một vai trò vô cùng
quan trọng. Ở nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, bộ máy nhà nước được tổ
chức theo nguyên tắc tập trung quyền lực có sự phân công và phối hợp chặt
chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành
pháp, tư pháp. Hiến pháp 2013 quy định “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử
của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”

nghĩa vụ liên quan , xem xét các vật chứng, đọc biên bản, công bố lời khai,
công bố tài liệu, xem xét tại chỗ áp dụng các biện pháp được BLTTHS quy
định để xem xét, đánh giá các tình tiết của vụ án một cách khách quan, toàn
diện, nhằm xác định sự thật của vụ án, đồng thời loại bỏ những tình tiết không
liên quan đến vụ án.
- Đối với việc tranh tụng diễn ra tại phiên toà thì vai trò của Thẩm phán
được hiện một cách rõ nét đầy đủ nhất. Bởi vì cũng chính tại phiên toà là nơi
diễn ra đỉnh điểm của sự tranh tụng, nó hàm chứa đầy đủ các dấu hiệu, đặc

14
điểm của việc tranh tụng và cũng tại giai đoạn xét xử sơ thẩm vai trò của
Thẩm phán trong việc đấu tranh cũng thể hiện sự nổi bật, thông qua kết quả
tranh tụng, Thẩm phán đánh giá được đúng nội dung thực chất của vụ án, các
chứng cứ, các quan điểm lập luận của mỗi bên, trên cơ sở đó căn cứ vào quy
định của pháp luật, Thẩm phán ra các quyết định đúng đắn đúng người, đúng
tôi, đúng pháp luật.
Thông qua vai trò xét xử các vụ án hình sự, Thẩm phán nói chung và
Thẩm phán cấp quận, huyện nói riêng đã góp phần to lớn vào việc trừng trị
kịp thời những kẻ phạm tội nhằm duy trì trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền
con người và bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Ngoài ra, Thẩm phán còn là
trụ cột, là chỗ dựa vững chắc cho công dân, tổ chức Nhà nước trong lĩnh vực
đấu tranh phòng chống tội phạm.
Đồng thời, bằng việc xét xử tại phiên toà, Thẩm phán còn góp phần vào
việc phổ biến, tuyên truyền giáo dục pháp luật đối với người phạm tội và đối
với cộng đồng xã hội. Bên cạnh đó bằng công tác áp dụng pháp luật trong
thực tiễn xét xử, bằng kinh nghiệm tích luỹ trong mỗi vụ án cụ thể, Thẩm
phán có thể rút ra những kinh nghiệm quý báu trong việc kiến nghị, sửa đổi,
bổ sung và hoàn thiện pháp luật.
Từ những phân tích trên, một lần nữa khẳng định Thẩm phán đóng vai
trò vô cùng quan trọng, không thể thiếu trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án

viên của cơ quan, do đó chịu sự chi phối chung của hoạt động quản lý, điều
hành của Chánh án, Phó Chánh án. Quan hệ chi phối này thể hiện trong mối
quan hệ hành chính, nghĩa là lãnh đạo Tòa án chỉ quản lý về mặt con người,
còn trong lĩnh vực xét xử Thẩm phán được độc lập về chuyên môn trong việc
áp dụng pháp luật, Chánh án và Phó Chánh án không được can thiệp vào.
Mối quan hệ tố tụng giữa lãnh đạo và Thẩm phán chỉ thể hiện trong
một số phạm vi nhất định như: Chánh án phân công Thẩm phán giải quyết,

16
xét xử vụ án hình sự; Quyết định thay đổi Thẩm phán trước khi mở phiên tòa;
Ra quyết định thi hành án, hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp
hành hình phạt tù, quyết định xóa án tích đối với những bản án mà Thẩm phán
đã xét xử Khi Thẩm phán được Chánh án giao hồ sơ vụ án để giải quyết,
Thẩm phán phải nghiên cứu và đề xuất những vấn đề thuộc thẩm quyền của
Chánh án để Chánh án giải quyết như việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện
pháp ngăn chặn, quyết định chuyển vụ án nếu vụ án không thuộc thẩm quyền
giải quyết… . Trong các quan hệ này, Thẩm phán buộc phải chấp hành các
quyết định của lãnh đạo Tòa án.
Trường hợp Thẩm phán đồng thời là Chánh án hoặc Phó Chánh án thì
người nay phải thực hiện đầy đủ, rạch ròi những nhiệm vụ quyền hạn nào là
của Chánh án hay Phó Chánh án và Thẩm phán mà pháp luật quy định. Chẳng
hạn, Thẩm phán đồng thời là Chánh án thì Quyết định đưa vụ án ra xét xử vẫn
ghi người ký ban hành là Thẩm phán, nhưng trong quyết định tạm giam thì
ghi người ký là Chánh án.
* Quan hệ giữa Thẩm phán với nhau:
Mối quan hệ giữa các Thẩm phán phát sinh trong hoạt động xét xử và
trong hoạt động bình thường Tòa án. Theo quy định của pháp luật hiện hành,
HĐXX xét xử vụ án hình sự ở cấp huyện gồm có 01 Thẩm phán là chủ tọa
phiên tòa. Vì vậy, mỗi quan hệ giữa các Thẩm phán Tòa án cấp huyện với
nhau chủ yếu là quan hệ phối hợp công tác, hỗ trợ lẫn nhau trong việc thực

thủ tục đến phần tuyên án. Trong quá trình nghị án, Hội thẩm là người nêu ý
kiến trước về việc giải quyết vụ án và biểu quyết giữa 03 thành viên HĐXX
về từng vấn đề. Tuy nhiên, nếu thấy Hội thẩm có ý kiến không đúng thì Thẩm
phán có quyền phân tích, giải thích và tiến hành biểu quyết lại bởi trên thực
tế, các hội thẩm nhân dân được bầu hoặc cử thường giữ các chức vụ kiêm

18
nhiệm và không phải là những người được đào tạo chuyên về pháp luật. Do
đó, Thẩm phán với tư cách là những người xét xử chuyên nghiệp” phải là
người giữ vị trí và vai trò trung tâm trong xét xét vụ án hình sự.
* Quan hệ giữa Thẩm phán và thư ký phiên tòa:
Thư ký phiên tòa là người tiến hành tố tụng, được Chánh án phân công
làm thư lý đối với từng vụ án cụ thể. Thư ký phiên tòa có thể là thư ký toà án
hoặc chuyên viên hoặc thẩm tra viên của Tòa án được Chánh án hoặc người
được Chánh án ủy quyền phân công làm nhiệm vụ thư ký trong từng phiên tòa
cụ thể. Tuy nhiên, ở TAND cấp quận, huyện, thư ký phiên tòa không bao gồm
chuyên viên và thẩm tra viên.
Thư ký Tòa án được hiểu là người giúp việc cho Thẩm phán khi thực
hiện nhiệm vụ quyền hạn mà pháp luật đã quy định. Thẩm phán và Thư ký
Tòa án đều là những người tiến hành tố tụng nên mối quan hệ giữa Thẩm
phán và Thư ký Tòa án là mối quan hệ được điều chỉnh bằng pháp luật tố
tụng và nó chỉ phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án. Thẩm phán không
phải là thủ trưởng của Thư ký Tòa án và Thư ký Tòa án cũng không phải là
thư ký riêng của Thẩm phán. Thư ký Tòa án là người giúp việc cho Thẩm
phán để thực hiện những công việc trong quá trình xét xử, do đó, trong mối
quan hệ này, Thẩm phán giữ vai trò chỉ đạo nhiệm vụ cho Thư ký, giám
sát, kiểm tra, đôn đốc và hướng dẫn Thư ký thực hiện các công việc, nhiệm
vụ và quyền hạn theo quy định của pháp luật. Ví dụ như Thư ký Tòa án
giúp Thẩm phán lấy lời khai, biên bản xác minh, làm giấy triệu tập bị can,
bị cáo; thực hiện việc chuẩn bị mở phiên tòa như triệu tập phiên tòa, thông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status