ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ THU NGA Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả thi hành án dân sự ở Việt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT DÂN SỰ
Ch-ơng 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành
án dân sự
27
2.1.
Thực trạng pháp luật về thi hành án dân sự
27
2.2.
Thực tiễn thi hành án dân sự
70
Ch-ơng 3: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi
hành án dân sự
78
3.1.
Những giải pháp tr-ớc mắt nhằm tháo gỡ những khó khăn
v-ớng mắc trong thi hành án dân sự (từ nay đến năm 2006)
78
3.2.
Giải pháp lâu dài nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự
(bắt đầu từ năm 2007)
82
Kết luận
91
Danh mục tài liệu tham khảo
93 1
2
chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, và sự quan tâm, mong mỏi
của Đảng, Nhà nước và nhân dân; hoạt động thi hành án chưa thật sự đảm bảo
được tính công bằng và nghiêm minh của pháp luật.
Tồn tại lớn nhất trong công tác thi hành án dân sự những năm qua là
tình trạng án "tồn đọng" kéo dài, với số lượng lớn ngày càng tăng, song chưa
có biện pháp hữu hiệu để giải quyết. Tính đến hết năm 2002 trong tổng số
trên 450 ngàn vụ việc phải thi hành, thì có trên 173 ngàn vụ việc không có
điều kiện thi hành, chiếm gần 39% với tổng số tiền lên tới 8.000 tỷ đồng.
Riêng năm 2002 trong số 276.749 việc có điều kiện thi hành thì chỉ có
247.000 việc các Cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành được, chiếm
89.23% nhưng số vụ việc thi hành xong hoàn toàn chỉ đạt 160.061 vụ, chiếm
57.83%, chưa kể số vụ việc chưa có điều kiện thi hành.
Đây là vấn đề rất bức xúc đặt ra trong công tác thi hành án dân sự hiện
nay. Thực trạng này, một phần xuất phát từ nguyên nhân: ý thức tuân thủ
pháp luật của một số bộ phận nhân dân nói chung và một số cơ quan, tổ chức,
các nhà quản lý doanh nghiệp và cá nhân (kể cả chính quyền địa phương) còn
yếu kém. Mặt khác, là do chưa có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các cơ
quan bảo vệ pháp luật, cũng như cơ quan hữu quan trong quá trình thi hành
án; cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự chưa được hoàn
thiện, hệ thống các văn bản pháp lý về thi hành án dân sự chưa đầy đủ, chậm
được bổ sung, sửa đổi kịp thời; cơ chế quản lý và cơ chế thi hành án hiện nay
không hợp lý, gây cản trở và làm giảm hiểu quả công tác thi hành án nói
chung và thi hành án dân sự nói riêng.
Vì vậy, muốn giải quyết tình trạng "án tồn đọng", nâng cao hiệu quả
thi hành án dân sự cần phải nghiên cứu đề ra các giải pháp đồng bộ về nhiều
mặt: Kinh tế, pháp luật, chính sách xã hội, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ
Nhưng trong khuôn khổ luận văn luật học, chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu
những vấn đề liên quan đến pháp luật.
4
đã đề cập đến vấn đề thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành
án dân sự, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề đó một cách toàn
diện, chuyên sâu.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục tiêu
Mục tiêu tổng quát của đề tài là tìm ra các luận cứ khoa học và thực
tiễn cho việc đưa ra các giải pháp nhằm năng cao hiệu quả công tác thi hành
án dân sự ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Để đạt được mục tiêu lớn đó cần
phải thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ những cơ sở lý luận về thi hành án và thi hành án dân sự.
- Đánh giá đúng đắn và toàn diện về thực trạng pháp luật về thi hành
án dân sự, thực tiễn thi hành án dân sự.
- Phân tích nguyên nhân của thực trạng đó.
- Đưa ra những giải pháp trước mắt và lâu dài nhằm nâng cao hiệu quả
thi hành án dân sự.
4. Phạm vi nghiên cứu
"Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự
ở Việt Nam" là một đề tài có tính khái quát cao, nội dung rất rộng, phong phú
và phức tạp. Vì vậy, trong khuân khổ luận văn thạc sĩ luật học, tác giả tập
trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về thi hành án và thi hành án dân
sự; đánh giá thực trạng thi hành án dân sự và từ đó rút ra những giải pháp
hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án
dân sự trong điều kiện mới của đất nước ta.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5
- Phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật
1.1.1. Khái niệm, bản chất thi hành án
Kể từ khi hoạt động thi hành án dân sự được chuyển giao từ Tòa án
nhân dân các cấp sang các cơ quan của Chính phủ thì khái niệm thi hành án
(nhất là thi hành án dân sự) trở thành đề tài tranh luận sôi nổi trên diễn đàn
khoa học pháp lý. Có nhiều quan điểm khác nhau dựa trên những lập luận và
cách tiếp cận khác nhau về thi hành án nhưng trong đó nổi lên hai quan điểm
cơ bản, đó là quan điểm coi thi hành án là giai đoạn tố tụng và quan điểm coi
thi hành án là hoạt động hành chính - tư pháp [27].
Quan điểm thứ nhất cho rằng, thi hành án là giai đoạn cuối cùng của
quá trình tố tụng. Theo quan điểm này thì thi hành án là giai đoạn nằm trong
quá trình giải quyết vụ án, theo đó giai đoạn tố tụng trước của giai đoạn xét
xử là giai đoạn chuẩn bị xét xử, còn thi hành án là giai đoạn kế tiếp của giai
đoạn xét xử, giai đoạn thực thi các phán quyết của Tòa án trên thực tế. Căn cứ
duy nhất để thi hành án là bản án, quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu
lực pháp luật. Tính lệ thuộc của thi hành án vào công tác xét xử được thể hiện
ở việc khẳng định xét xử là tiền để của thi hành án. Trong quá trình thi hành
án, vai trò và trách nhiệm của Tòa án gắn chặt với hoạt động thi hành án, thể
hiện ở trách nhiệm của Tòa án trong việc "giải thích những điểm chưa rõ, có
sai sót hoặc sai lầm về số liệu" trong bản án, quyết định khi cơ quan thi hành
án yêu cầu, hoặc thẩm quyền của Tòa án trong việc hoãn thi hành án theo thời
gian luật định, hay "xem xét, kháng nghị để xét xử theo thủ tục giám đốc
thẩm, tái thẩm đối với bản án quyết định có vi phạm thủ tục tố tụng" khi cơ
quan thi hành án kiến nghị. Hậu quả pháp lý của việc xem xét theo trình tự
7
này có thể làm thay đổi kết quả thi hành án hay cách thức tiến hành thi hành
án của cơ quan thi hành án.
Với quan điểm này, thi hành án được hiểu là giai đoạn kết thúc trình
tự tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử làm cho phán
quyết của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
là hoạt động của cơ quan Tòa án xét xử để đi tìm "chân lý", mà cần xem xét
đến bản chất của tố tụng. Đó là việc thực hiện các quy định của pháp luật hình
thức theo thủ tục nhất định để giải quyết các quan hệ xã hội theo đúng sự điều
chỉnh của pháp luật nội dung nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân. Tố tụng được thực hiện bởi nhiều cơ quan,
hoạt động nào tuân theo thủ tục do pháp luật hình thức quy định là hoạt động
tố tụng. Do đó có nhiều loại tố tụng: tố tụng dân sự, tố tụng hình sự, tố tụng
hành chính, tố tụng thi hành án. Ngoài ra, khi xem xét về tính chất của việc thi
hành án, thì tất cả các bản án, quyết định của Tòa án và của Trọng tài đều có
tính chất tư pháp hiểu theo nghĩa rộng, tức không chỉ là việc xét xử mà bao
gồm cả lĩnh vực bổ trợ tư pháp. Vì tất cả những lý do nêu trên thi hành án
được hiểu theo nghĩa rộng là thủ tục tố tụng tư pháp.
Mỗi quan điểm trên đều có những lập luận và cơ sở khoa học riêng. Tuy
nhiên, theo chúng tôi, quan điểm thứ hai coi thi hành án là hoạt động hành chính-
tư pháp là có nhiều điểm hợp lý hơn cả. Bởi vì, thi hành án không chỉ đơn thuần
là hoạt động mang tính tư pháp, hay là giai đoạn cuối cùng của hoạt động tố
tụng, cũng không nên hiểu tố tụng theo một nghĩa không truyền thống như quan
điểm thứ tư để coi thi hành án là hoạt động tố tụng tư pháp. Mà bản chất thi hành
án thể hiện cả hai đặc điểm rất rõ đó là tính hành chính và tính tư pháp trong hoạt
động của mình. Vì thế nên coi thi hành án là hoạt động hành chính - tư pháp.
* Thi hành án với những đặc điểm của hoạt động quản lý hành chính
- Thi hành án là một hoạt động diễn ra sau quá trình xét xử của Tòa
án. Các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là cơ sở để
9
tiến hành các hoạt động thi hành án. Do đó, không có kết quả của hoạt động
xét xử thì không có hoạt động thi hành án. Là một dạng hoạt động hành chính
nhà nước, thi hành án thể hiện tính chấp hành, quản lý rất rõ "bởi toàn bộ quá
trình thi thành án với những hoạt động, biện pháp, cách thức khác nhau đều
nhằm thực hiện những nội dung đã được thể hiện trong các bản án, quyết định
- Cơ sở để tiến hành các hoạt động thi hành án. Bao gồm các quy định
của pháp luật (được thể hiện trong các văn bản qui phạm pháp luật) và các
bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác theo quy định của pháp
luật (văn bản áp dụng pháp luật).
- Mục đích của hoạt động thi hành án là đảm bảo cho nội dung của các
bản án, quyết định nói trên được thực thi trên thực tế.
Xuất phát từ những đặc điểm nêu trên của thi hành án, có thể hiểu thi
hành án là hoạt động hành chính - tư pháp của Nhà nước, do các cơ quan
Nhà nước, người có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục luật định,
nhằm đảm bảo thi hành các bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định
khác của cơ quan có thẩm quyền.
1.1.2. Khái niệm, bản chất thi hành án dân sự
Vì thi hành án dân sự là một loại hình của thi hành án, nên cũng có thể
hiểu thi hành án dân sự là hoạt động hành chính - tư pháp của Nhà nước, do
cơ quan thi hành án tiến hành theo một trình tự, thủ tục luật định, nhằm đảm
bảo thi hành các bản án, quyết định về dân sự của Tòa án hoặc quyết định
khác của cơ quan có thẩm quyền.
Trong khái niệm này, vấn đề cần tiếp tục làm rõ là phải hiểu như thế
nào về "dân sự" trong thi hành án?
Theo ý kiến thứ nhất thì "dân sự" được hiểu theo nghĩa hẹp. Cơ sở để
đưa ra ý kiến này xuất phát từ quy định của Điều 1 Bộ luật dân sự năm 1995
11
cho rằng, quan hệ dân sự bao gồm quan hệ về tài sản và nhân thân phi tài sản
phát sinh trong giao lưu dân sự. Vì vậy, những bản án, quyết định dân sự
trong thi hành án bao gồm bản án, quyết định liên quan đến quan hệ tài sản và
nhân thân phi tài sản (như bản án, quyết định về tranh chấp các loại hợp đồng
dân sự, về hôn nhân gia đình và một số loại bản án, quyết định có tính chất dân
sự).
Ý kiến thứ hai hiểu "dân sự" theo nghĩa rộng. Theo pháp luật của nhiều
quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà không được thi hành trên
thực tế cho thấy sự thiếu nghiêm minh của pháp luật, dễ gây ra sự mất đoàn
kết, xung đột kéo dài trong nhân dân, tạo kẽ hở để các phần tử phản động lợi
dụng tuyên truyền lôi kéo nói xấu chế độ, kích động thù hận, gây chia rẽ
trong nội bộ nhân dân.
* Thi hành án là thước đo hiệu quả hoạt động xét xử của Tòa án và
hoạt động tư pháp khác
Hoạt động điều tra, truy tố và xét xử diễn ra rất phức tạp và tốn kém,
song những hoạt động đó có thể chỉ là con số không nếu như bản án, quyết
định của Tòa án không được đưa ra thi hành trên thực tế. Với ý nghĩa đó, thi
hành án dân sự là một hoạt động không thể thiếu được trong quá trình bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Thông qua thi hành án, kết quả của
công tác xét xử được củng cố, hiệu lực các bản án, quyết định của Tòa án
được đảm bảo. Mặt khác, thi hành án dân sự còn là giai đoạn kiểm nghiệm
qua thực tiễn những phán quyết của Tòa án, phản ánh, trung thực chất lượng
và hiệu quả của hoạt động xét xử. Vì nếu như bản án tuyên đúng với bản chất,
hiện thực khách quan, có lý, có tình thì trong quá trình thi hành án sẽ thuận lợi
hơn những trường hợp bản án, quyết định của Tòa án không đúng sự thật,
không phù hợp với thực tế khách quan. Thực tế cho thấy có nhiều vụ việc
đương sự không tự nguyện thi hành hoặc gửi đơn khiếu nại, tố cáo đi nhiều
13
nơi không phải vì cơ quan thi hành án làm sai mà vì không đồng tình với
quyết định của Tòa án nên cố tình trì hoãn việc thi hành án.
* Thi hành án dân sự góp phần nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân
Đặc thù của thi hành án dân sự là sự kết hợp chặt chẽ giữa vai trò chủ
động, phát huy trách nhiệm của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án và sự chỉ
đạo của chính quyền địa phương, sự phối hợp các cơ quan tổ chức có liên quan
và sự đồng tình của quần chúng, tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao ý thức trách
nhiệm của cộng đồng. Trong hoạt động thi hành án dân sự, thi hành án không chỉ
Thừa phát lại tiếp tục được duy trì. Tại Nghị định số 37 ngày 01/12/1945 về
tổ chức Bộ Tư pháp, phòng giám đốc Hộ vụ được thành lập, trong đó có Ban
công lại thực hiện nhiệm vụ quản lý Thừa phát lại. Cũng theo tinh thần Sắc
lệnh 10/10/1945 nói trên, những quy định về thủ tục thi hành án dân sự tiếp
tục được áp dụng, đáp ứng yêu cầu hoạt động tư pháp trong những năm đầu
của chính quyền cách mạng [6]. Ngày 20/11/1994, Chủ tịch Chính phủ lâm
thời Việt Nam dân chủ cộng hòa ký Sắc lệnh số 13 về tổ chức các Tòa án và
các ngạch thẩm phán đã đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho tổ chức thi hành án
dân sự Việt Nam. Tại khoản 3, Điều 3 của Sắc lệnh qui định: Ban tư pháp xã
có quyền thi hành những mệnh lệnh của thẩm phán cấp trên.
Như vậy, tổ chức thi hành án dân sự đã được hình thành ngay trong
những năm đầu Cách mạng tháng Tám thành công và tồn tại dưới hai hình
thức là: Thừa phát lại và Ban tư pháp xã. Tuy tồn tại hai lực lượng thi hành
án, nhưng việc thực hiện thi hành án do Thừa phát lại hay Ban tư pháp xã tiến
hành, đều thể hiện quyền lực nhà nước và được đảm bảo bởi sức mạnh cưỡng
chế của Nhà nước. Điều này được thể hiện tại Sắc lệnh số 130 ngày 19/7/1945
của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Điều thứ nhất của Sắc
lệnh này quy định: "Các bản toàn sao hoặc trích sao bản án hoặc mệnh lệnh
15
do các phòng Lục sự phát cho các đương sự để thi hành bản án, hoặc mệnh
lệnh của các Tòa án hộ đều có thể thức thi hành, ấn định". "Vậy, Chủ tịch
Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa truyền cho các Thừa phát lại theo yêu
cầu của đương sự thi hành bản án này, các ông Chưởng lý, và Biện lý kiểm
sát việc thi hành án, Cai thị chỉ huy binh lực giúp đỡ mỗi khi đương sự chiếu
luật yêu cầu".
Về trình tự thi hành án, Thông tư số 24-BK ngày 26/4/1949 của Bộ
trưởng Bộ Tư pháp về việc thi hành án Hình và Hộ đã qui định cụ thể những
nguyên tắc chấp hành, thể thức chấp hành, cách thức thi hành các bản án,
quyết định của Tòa án. Thông tư đã xác định trách nhiệm thi hành án của
hoàn trả lại tài sản trong các bản án, quyết định hình sự; giúp Chánh án Tòa
án nhân dân đôn đốc, kiểm tra công tác thi hành án tại các Tòa án nhân dân
cấp dưới. Chấp hành viên thực hiện nhiệm vụ dưới sự chỉ đạo của Chánh án
Tòa án nhân dân nơi mình công tác. Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, Chấp
hành viên có quyền định cho đương sự một thời hạn để thi hành án, áp dụng biện
pháp cưỡng chế mà pháp luật cho phép sau khi có sự thỏa thuận của Chánh án
nơi Chấp hành viên công tác, yêu cầu lực lượng bảo vệ trật tự trị an giúp sức khi
cần thiết, đề nghị Tòa án cấp có thẩm quyền hoãn, tạm đình chỉ thi hành án.
Đồng thời, Chấp hành viên có trách nhiệm thi hành đầy đủ và nhanh chóng bản
án, quyết định của Tòa án (Điều 4, Điều 5 Quyết định số /86/ TC ngày
13/10/1972).
Ngoài ra, pháp luật còn quy định trách nhiệm của ủy ban hành chính
xã, phường cùng các cơ quan có liên quan trong việc tổ chức hỗ trợ thi hành
án.Viện kiểm sát nhân dân các cấp kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
việc chấp hành bản án, quyết định của Tòa án nhân dân (Điều7 Luật tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân).
* Thời kỳ 1981 - 1989
17
Hiến pháp 1980 ra đời đã tạo tiền đề cho sự ra đời các văn bản pháp
luật khác. Trong đó có các Đạo luật về tổ chức của bộ máy nhà nước, nhằm
kiện toàn bộ máy nhà nước, phân tích rõ chức năng của từng loại cơ quan,
tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước bằng pháp luật. Theo qui định tại Điều 16
Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 thì việc quản lý Tòa án nhân dân địa
phương về mặt tổ chức được giao cho Bộ Tư pháp. Nghị định số 143 /HĐBT
ngày 22/11/1981 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã qui định: Bộ
Tư pháp có chức năng quản lý Tòa án nhân dân địa phương về mặt tổ chức,
trong đó bao gồm cả việc quản lý công tác thi hành án dân sự.
Sau khi thực hiện việc chuyển giao công tác thi hành án dân sự, ngày
18/7/1982, Bộ Tư pháp và Tòa án nhân dân tối cao đã ký Thông tư liên ngành
pháp luật đã được ban hành như: Thông tư liên ngành số 06-89/ TTLN ngày
17/7/1989 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ
Tư pháp; Thông tư liên ngành số 07-89/TTLN ngày 10/12/1989 của Tòa án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ Cùng với sự
hoàn thiện hơn về pháp luật, đội ngũ cán bộ làm công tác thi hành án cũng được
củng cố và tăng cường, được chuyên môn hóa, có chức danh, tiêu chuẩn riêng
và chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc thực hiện các phán quyết của Tòa
án.
Tuy vậy, sự điều hành chỉ đạo công tác thi hành án vẫn chưa được
thay đổi phù hợp. Cơ quan thi hành án, Chấp hành viên thuộc Tòa án, do Tòa
án trực tiếp chỉ đạo về nghiệp vụ và chịu trách nhiệm báo cáo trước cấp trên
về kết quả hoạt động thi hành án. Mọi quyết định quan trọng trong thủ tục thi
hành án đều thuộc thẩm quyền của Chánh án, Chấp hành viên với trách nhiệm
là "người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định của
Tòa án" thực ra chỉ là những người thừa hành sự chỉ đạo của Chánh án, không
có quyền năng thực sự để đảm bảo thực thi nhiệm vụ của mình. Mặt khác,
Chánh án với tư cách là người chịu trách nhiệm về tổ chức và hoạt động xét
19
xử lại là người chỉ đạo việc thi hành những phán quyết của Tòa án nên không
khách quan và quá tải về công việc. Đội ngũ cán bộ thi hành án luôn bị xáo
trộn, không được qui hoạch, đào tạo bồi dưỡng thường xuyên. Cơ sở vật chất,
phương tiện phục vụ hoạt động thi hành án hầu như không được trang bị làm
ảnh hưởng đến công tác thi hành án.
1.3.3. Giai đoạn từ 1993 đến nay
Để khắc phục hạn chế nói trên, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa IX
ngày 06/10/1992 đã thông qua nghị quyết về việc bàn giao công tác thi hành
án từ Tòa án nhân dân các cấp sang cơ quan của Chính phủ. Pháp lệnh thi hành
án dân sự 1993 thay thế Pháp lệnh dân sự năm 1989 đã tạo bước ngoặt lớn về
tổ chức và hoạt động thi hành án, đưa công tác này sang một giai đoạn mới, đáp
Ở mô hình này tổ chức thi hành án bao gồm hệ thống các cơ quan
thuộc bộ máy nhà nước, các Chấp hành viên và công chức, viên chức hưởng
lương từ Ngân sách Nhà nước. Mô hình tổ chức thi hành án công có thể phân
làm hai loại: Cơ quan thi hành án nằm trong cơ cấu tổ chức của Tòa án và các
cơ quan hành chính tư pháp hoặc cơ quan thuế.
- Cơ quan thi hành án nằm trong Tòa án
Tổ chức thi hành án ở các nước này là một bộ phận nằm trong cơ cấu
tổ chức của Tòa án, Chấp hành viên là công chức đặt tại Tòa án do Chánh án
hoặc Bộ trưởng Bộ tư pháp bổ nhiệm. Toàn bộ hoạt động thi hành án đặt dưới
sự giám sát chỉ đạo của Chánh án Tòa án địa phương hoặc thẩm phán thi hành
án. Mặc dù vậy, hoạt động thi hành án được tiến hành theo một thứ tự chặt
chẽ cho Chấp hành viên tiến hành theo quy định của pháp luật.
Điển hình là Trung Quốc. Tòa án đảm nhiệm việc thi hành án dân sự,
bản án, quyết định dân sự và phần tài sản trong bản án, quyết định hình sự đã
có hiệu lực pháp luật do Tòa án nhân dân sơ thẩm thi hành. Những bản án,
quyết định mà pháp luật qui định do Tòa án nhân dân thi hành sẽ do Tòa án
nhân dân nơi người phải thi hành án cư trú hoặc nơi có tài sản của người phải
21
thi hành án tiến hành. Công tác thi hành án do Thi hành viên đảm nhiệm. Căn
cứ vào yêu cầu thực tế, Tòa án nhân dân cơ sở, Tòa án nhân dân trung cấp có
thể lập cơ quan thi hành án. Chức trách của cơ quan thi hành án do Tòa án
nhân dân Tối cao quy định.
- Cơ quan thi hành án thuộc cơ quan hành chính hoặc cơ quan thuế
Các cơ quan thi hành án loại này được chia làm hai dạng sau:
Một là, mô hình tổ chức thi hành án dân sự công, độc lập tạo thành
một hệ thống từ Trung ương đến địa phương thuộc thẩm quyền quản lý của
các cơ quan quản lý hành chính tư pháp.
Ví dụ như Thái Lan: Tổ chức cơ quan thi hành án bao gồm: Ban thư
ký, Ban tài chính, Ban thi hành án dân sự, Ban thực hiện dịch vụ theo chỉ định
Là mô hình tổ chức chủ yếu theo quy chế Thừa phát lại. Thừa phát lại
do Nhà nước bổ nhiệm, là người hành nghề theo quy chế tự do, Nhà nước không
trả lương mà hưởng thù lao theo luật định. Thừa phát lại vừa thực hiện chức
năng công quyền (lập văn bản, thu hồi nợ, làm đại diện) và chức năng trợ giúp
khác cho người được thi hành án.Thừa phát lại - tổ chức nghề nghiệp, không
phải là cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, việc thi hành án có sự giám sát của Tòa án,
trực tiếp là thẩm phán thi hành án. Trong quá trình thi hành án, nếu có các vấn
đề tranh chấp phát sinh, thì thẩm phán thi hành án giải quyết. Thừa phát lại
không phải là công chức nhà nước mà là người được Nhà nước bổ nhiệm để
thực hiện sứ mệnh công, nhưng theo qui chế của người hành nghề tự do,
không ăn lương Nhà nước mà tự hạch toán. Điển hình cho mô hình này là
Cộng hòa Pháp.
1.4.2. Thủ tục thi hành án dân sự một số nƣớc trên thế giới
Theo nghiên cứu của Thạc sĩ Nguyễn Thanh Thủy, thì thủ tục thi hành
án dân sự của một số nước trên thế giới được thể hiện qua những vấn đề sau:
23
* Về quyền yêu cầu thi hành án
Hầu hết ở các nước đều ghi nhận nguyên tắc tự định đoạt của đương
sự, điều đó được thể hiện bằng việc pháp luật qui định về quyền yêu cầu thi
hành án. Nếu bên phải thi hành án không tự nguyện thi hành, thì người được
thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án cưỡng chế thi hành. Cơ
quan thi hành không được từ chối yêu cầu của người được thi hành án nếu
không có lý do đã được pháp luật qui định, cho dù cơ quan thi hành án là một
cơ quan nhà nước hay hoạt động với tính chất là tổ chức Thừa phát lại.
* Về lệ phí thi hành án
Pháp luật nhiều nước (Pháp, Nhật, Thụy Điển ) đều cho phép cơ
quan thi hành án thu lệ phí thi hành án. Tùy điều kiện của mỗi nước mà mức
lệ phí có khác nhau, nhưng về nguyên tắc mức lệ phí đó thu đủ để chi phí cho
hoạt động thi hành án. Lệ phí thi hành án được tính trên cơ sở mức lệ phí tối