Hình phạt tiền trong luật hình sự Việt Nam và việc áp dụng hình phạt này ở nước ta hiện nay - Pdf 25


đại học quốc gia hà nội
khoa luật

trần lệ trinh Hình phạt tiền trong Luật hình sự Việt Nam
và việc áp dụng hình phạt này ở n-ớc ta hiện nay

luận văn thạc sĩ luật học

Hà nội - 2009


Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng mở đầu Ch-ơng 1: một số vấn đề lý luận về hình phạt và
hình phạt tiền
6
1.1.
Khái niệm, mục đích của hình phạt và hình phạt tiền
6
1.1.1.
Khái niệm, mục đích và hệ thống hình phạt
6
1.1.1.1.
Khái niệm hình phạt
6

Hình sự năm 1999 có hiệu lực
31
1.2.2.1.
Hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Việt Nam từ năm
1945 đến tr-ớc năm 1985
31
1.2.2.2.
Hình phạt tiền trong Bộ luật Hình sự năm 1985
33

Ch-ơng 2: Hình phạt tiền trong Bộ luật Hình sự năm 1999
41
2.1.
Những quy định mới của hình phạt tiền trong Bộ luật Hình
sự năm 1999 so với Bộ luật Hình sự năm 1985
41
2.1.1.
Về phạm vi, điều kiện áp dụng hình phạt tiền
41
2.1.2.
Về số l-ợng các điều luật có quy định hình phạt tiền
42
2.1.3.
Về mức phạt tiền
43
2.1.4.
Về cách thức thi hành hình phạt tiền
43
2.2.
Những quy định cụ thể về hình phạt tiền trong Bộ luật Hình

2.2.3.2.
Miền hình phạt tiền
66
2.2.3.3.
Thời hiệu thi hành bản án phạt tiền
66
2.2.3.4.
Giảm mức hình phạt tiền đã tuyên
68
2.2.3.5.
Xóa án tích đối với ng-ời bị kết án phạt tiền
69
2.2.3.6.
Hình phạt tiền áp dụng đối với ng-ời ch-a thành niên phạm tội
70

Ch-ơng 3: Thực tiễn áp dụng hình phạt tiền và Một số
giảI pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc
áp dụng hình phạt này ở n-ớc ta hiện nay
73
3.1.
Thực tiễn áp dụng hình phạt tiền ở n-ớc ta hiện nay
73
3.1.1.
Thực trạng việc áp dụng hình phạt tiền trong quá trình xét
xử của Tòa án
73
3.1.2.
Những khó khăn, hạn chế trong việc áp dụng hình phạt tiền
trong thực tế

74
3.2
Việc áp dụng hình phạt tiền trong xét xử sơ thẩm năm 2006
75
3.3
Việc áp dụng hình phạt tiền trong xét xử sơ thẩm năm 2007
77
3.4
Việc áp dụng hình phạt tiền trong xét xử sơ thẩm 8 tháng
đầu năm 2008
79
1
Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Là một bộ phận cấu thành cơ bản trong hệ thống hình phạt, hình phạt
tiền có một lịch sử lâu dài cũng như vị trí rất quan trọng trong pháp luật hình
sự Việt Nam.
Các quy định về hình phạt tiền đã xuất hiện và tồn tại từ rất lâu trong
lịch sử. Từ khi các bộ luật đầu tiên của các triều đại phong kiến Việt Nam,
hình phạt tiền đã được hình thành và được pháp luật hình sự thừa nhận như
một loại hình phạt góp phần quan trọng vào việc bảo vệ Nhà nước, trật tự xã
hội, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân dưới chế độ cũ. Trong một thời
gian khá dài, nước ta dưới chế độ thực dân nửa phong kiến, mặc dù pháp luật
thời kỳ này tồn tại rất nhiều hạn chế nhưng chúng ta thấy được sự ghi nhận
của pháp luật hình sự các quy định về hình phạt tiền, các quy định này ít
nhiều cũng chứa đựng những nhân tố tích cực, góp phần không nhỏ đến quá

các quy định về hình phạt tiền trong thực tế có những điểm còn chưa đúng,
chưa đủ, chưa hợp lý, đòi hỏi các nhà làm luật và thi hành pháp luật phải nhìn
nhận và đánh giá một cách toàn diện.
Cùng với chế định tội phạm, chế định về hình phạt là một chế định rất
cơ bản và hết sức quan trọng của luật hình sự và bởi vai trò xã hội và hiệu quả
của luật hình sự phụ thuộc rất nhiều vào hình phạt nên việc tiếp tục nghiên
cứu sâu sắc hơn nữa để làm sáng tỏ về mặt khoa học những vấn đề về hình
phạt tiền và việc áp dụng các quy định về hình phạt tiền trong thực tế đời sống
xã hội, đồng thời đưa ra những giải pháp hoàn thiện để góp phần nâng cao
hiệu quả của các quy định đã nêu không những có ý nghĩa lý luận - thực tiễn
và pháp lý quan trọng, mà còn là vấn đề mang tính cấp thiết. Đây chính là lý
do luận chứng cho việc chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài "Hình phạt tiền
trong luật hình sự Việt Nam và việc áp dụng hình phạt này ở nước ta hiện
nay" làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình. 3
2. Mục đích của đề tài
Hình phạt tiền là một loại hình phạt có vị trí và vai trò quan trọng
trong hệ thống hình phạt của nước ta. Khi nghiên cứu hình phạt tiền, luận văn
nhằm đạt được các mục đích như sau:
- Đưa ra một nhận thức toàn diện và có hệ thống về hình phạt tiền;
- Đánh giá thực tiễn áp dụng hình phạt tiền qua đó đưa ra những kiến
nghị cho việc hoàn thiện hình phạt tiền trong luật hình sự Việt Nam nhằm
nâng cao hiệu quả của hình phạt này trong công cuộc đấu tranh phòng, chống
tội phạm.
3. Nội dung của đề tài, các vấn đề cần giải quyết
Để hoàn thành các mục đích đã đề ra, luận văn tập trung trình bày các
nội dung sau:
- Phân tích về khái niệm, mục đích, ý nghĩa của hình phạt, hệ thống

Qua việc nghiên cứu về hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Việt
Nam và việc áp dụng hình phạt này ở nước ta hiện nay, luận văn đã góp phần
làm sáng tỏ quá trình hình thành, phát triển và nội dung pháp lý của hình phạt
tiền, đưa ra bức tranh khái quát về tình hình áp dụng hình phạt tiền trong thực
tiễn ở nước ta hiện nay; đồng thời luận văn đưa ra những điểm chưa hợp lý về
hình phạt tiền trong các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, những hạn
chế còn tồn tại trong quá trình áp dụng quy định về hình phạt tiền để đề xuất
các phương hướng, kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của hình
phạt tiền trong thực tiễn.
Bên cạnh đó, ý nghĩa về mặt khoa học của luận văn biểu hiện ở chỗ,
đây là một công trình nghiên cứu chuyên khảo tương đối đầy đủ và toàn diện
ở cấp độ một luận văn thạc sĩ đề cập riêng đến hình phạt tiền trong khoa học
luật hình sự Việt Nam, vì vậy luận văn còn có thể làm tài liệu tham khảo cần 5
thiết cho các cán bộ nghiên cứu khoa học, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu sinh,
học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề về hình phạt và hình phạt tiền.
Chương 2: Hình phạt tiền trong Bộ luật Hình sự năm 1999.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng hình phạt tiền và một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả của việc áp dụng hình phạt này ở nước ta hiện nay. 6
Chương 1
Một số vấn đề lý luận về hình phạt và hình phạt tiền

vi vi phạm quy định của pháp luật hình sự. Theo đó, tính chất trừng trị của các
hình phạt theo quan niệm này rất dã man, hà khắc. Nhà nước cho phép áp
dụng phổ biến và rộng rãi các hình phạt có tính chất nhục hình, đầy đọa thể
xác và chà đạp lên phẩm giá của con người. Điều này được biểu hiện ở nhiều
nhà nước chiếm hữu nô lệ và nhà nước phong kiến.
Quan niệm thứ hai mang tính chất tiến bộ và nhân đạo hơn khi coi
hình phạt là công cụ đấu tranh để phòng ngừa tội phạm. Theo đó, hình phạt
được đặt ra không chỉ nhằm trừng trị người thực hiện hành vi phạm tội mà
còn nhằm mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm.
Mục đích cuối cùng được đặt ra đối với việc áp dụng hình phạt trong trường
hợp này là hạn chế và đi đến triệt tiêu các nguyên nhân và điều kiện của tình
hình tội phạm, tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. Quan điểm
này về tội phạm và hình phạt được biểu hiện rất sâu sắc trong các nhà nước
dân chủ tiến bộ.
Có thể nói, việc quan niệm thế nào về hình phạt phụ thuộc rất nhiều
vào chính sách kinh tế - xã hội nói chung và chính sách hình sự nói riêng của
mỗi một quốc gia. Pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay cho thấy chúng ta đã
kết hợp hài hòa trong việc kế thừa truyền thống văn hóa nhân đạo chủ nghĩa
với việc tiếp thu những tinh hoa văn minh của luật hình sự thế giới, đồng thời
có xét đến thực trạng và yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm
trong thực tế để xây dựng những vấn đề có liên quan đến hình phạt, mà trước
tiên là khái niệm hình phạt. Về cơ bản, các nhà khoa học hình sự đã luôn coi
hình phạt là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Tòa án áp dụng đối với
người thực hiện tội phạm, nhằm mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội và
ngăn ngừa tội phạm. Điều đó biểu hiện trong các quan niệm cụ thể như sau: 8
TS. Uông Chu Lưu, TS. Nguyễn Đức Tuấn đưa ra khái niệm: "Hình
phạt là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Tòa án áp dụng đối với người

áp dụng đối với người phạm tội nhằm tước bỏ hay hạn chế quyền, tự do của
người bị kết án với mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa
tội phạm.
Như vậy, tuy Bộ luật Hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam năm 1985 chưa quy định cụ thể khái niệm về hình phạt song
ngay từ trước khi khái niệm về hình phạt chính thức được ghi nhận trong một
văn bản pháp lý thì các nhà khoa học luật hình sự nước ta đều đã thống nhất
trong việc đánh giá về bản chất, nội dung cũng như mục đích của hình phạt.
Những quan điểm khoa học đó là một trong những cơ sở lập pháp quan trọng
cho sự ra đời của khái niệm hình phạt theo Điều 26 của Bộ luật Hình sự năm
1999. Theo đó:
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của
Nhà nước, nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người
phạm tội.
Hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự và do Tòa
án quyết định [22].
Khái niệm trên cho thấy trước hết hình phạt là biện pháp cưỡng chế
nghiêm khắc nhất của Nhà nước. Tính nghiêm khắc ở đây thể hiện ở chỗ
người bị kết án bị tước đi các quyền và lợi ích thiết thân nhất như quyền tự
do, quyền chính trị, quyền sở hữu, thậm chí cả quyền sống. Ví dụ như khi bị
kết án ba năm tù giam thì đồng nghĩa với việc họ bị mất quyền tự do trong
thời hạn ba năm khi chấp hành án phạt tù, bên cạnh đó các quyền khác của
người chấp hành hình phạt cũng bị ảnh hưởng trong thời gian họ thực hiện án
phạt giam đó.
Mặt khác, hình phạt bao giờ cũng để lại cho người bị kết án hậu quả
pháp lý là án tích. Và trong trường hợp chưa được xóa án tích thì người bị kết
án và thi hành hình phạt chưa được hoàn toàn chấm dứt việc thực hiện trách 10

phạm thì không được áp dụng hình phạt mà chỉ có thể áp dụng các chế tài
pháp luật khác như chế tài hành chính, dân sự, kinh tế…
- Không được áp dụng hình phạt nếu hình phạt đó không được quy
định trong hệ thống hình phạt hiện hành và trong chế tài của điều luật cụ thể.
Tòa án chỉ được áp dụng những hình phạt được quy định trong Điều 28 Bộ
luật Hình sự năm 1999 đối với người thực hiện hành vi phạm tội và hình phạt
được áp dụng đó còn phải được quy định trong chế tài của điều luật quy định
về tội phạm áp dụng đối với người bị kết án.
- Hình phạt chỉ được áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm
tội. Điều đó có nghĩa là chỉ đặt ra việc áp dụng hình phạt đối với chính người
phạm tội vì họ đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhằm đạt được
những mục đích nhất định, không thể áp dụng hình phạt đối với những thành
viên trong gia đình cũng như những người thân thích khác của người phạm tội
và pháp luật hiện hành cũng không cho phép người khác chịu hình phạt thay
cho người phạm tội bởi như thế sẽ không thể đạt được mục đích của hình
phạt. Đây là một nội dung cho thấy sự tiến bộ trong quy định về hình phạt của
pháp luật hiện hành so với những quan niệm về hình phạt trong các nước
chiếm hữu nô lệ và các quốc gia phong kiến trước kia khi cho phép áp dụng
hình phạt đối với cả những người không thực hiện hành vi phạm tội như
trường hợp hình phạt chu di tam tộc.
Thứ ba, hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự. Hiện nay, Bộ
luật Hình sự năm 1999 là văn bản pháp lý duy nhất của Nhà nước quy định
đầy đủ và cụ thể về các hình phạt. Trong Bộ luật, hình phạt được quy định ở
cả Phần chung và Phần các tội phạm. Phần chung quy định về khái niệm, mục
đích, hệ thống hình phạt, các nguyên tắc áp dụng hình phạt, miễn hình phạt,
giảm thời hạn chấp hành hình phạt… Phần các tội phạm quy định về loại và
mức hình phạt áp dụng cho từng tội phạm cụ thể. Hình phạt chỉ được quy 12

điểm như thế nào là mục đích của hình phạt không chỉ có ý nghĩa về mặt lý
luận mà còn có vai trò quan trọng trong thực tiễn.
Hình phạt tuy không ảnh hưởng trực tiếp đến những điều kiện và
nguyên nhân làm phát sinh tội phạm nhưng với nội dung hạn chế hoặc tước
bỏ những quyền và lợi ích của người phạm tội, hình phạt có tác động nhất
định đến người phạm tội cũng như những người khác trong xã hội theo những
hướng khác nhau tùy thuộc vào việc quy định và áp dụng hình phạt. Và luật
hình sự đòi hỏi sự tác động đó của hình phạt phải đạt được những mục đích
nhất định. Xác định được đúng mục đích của hình phạt là một yêu cầu quan
trọng giúp xác định hiệu quả của hình phạt. Mục đích đặt ra sẽ chi phối quá
trình xây dựng và áp dụng các biện pháp nhằm đạt mục đích đó.
Khi xác định mục đích của hình phạt, Điều 20 Bộ luật Hình sự năm
1985 quy định như sau: "Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội
mà còn nhằm cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân
theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ
phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật,
đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm" [20].
Điều 27 Bộ luật Hình sự năm 1999 cũng xác định cụ thể:
Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn
nhằm cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội, tuân theo pháp
luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ
phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm mục đích giáo dục người khác
tôn trọng pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm [22].
Theo quy định của pháp luật hình sự thống nhất từ trước tới nay thì
như vậy hình phạt được xác định có ba mục đích chính:
- Mục đích trừng trị và cải tạo, giáo dục người phạm tội, ngăn ngừa
họ phạm tội mới; 14

với người phạm tội và với tội phạm mà họ thực hiện. Nói cách khác đây chính
là mục đích trừng trị của hình phạt. Hình phạt được áp dụng nhằm trừng trị
những người đi ngược lại lợi ích của Nhà nước, của xã hội bởi hành vi phạm
tội của họ đã xâm phạm các điều kiện tồn tại của Nhà nước. Mục đích này đặt
ra để người phạm tội hiểu được hình phạt chính là hậu quả pháp lý của hành
vi phạm tội. Việc người phạm tội phải chịu sự tước bỏ hay hạn chế các quyền
hoặc lợi ích nhất định là hậu quả pháp lý của tội phạm do người bị kết án thực
hiện. Mức độ của hình phạt được xác định tùy thuộc vào tính chất và mức độ
nghiêm trọng của hành vi phạm tội, mức độ lỗi, các đặc điểm về nhân thân
của người phạm tội và hoàn cảnh phạm tội. Về nguyên tắc, tội phạm càng
nguy hiểm thì hình phạt càng nghiêm khắc. Như vậy, trừng trị là mục đích
đầu tiên và có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng lớn tới việc thực hiện các mục
đích khác củ hình phạt cũng như hiệu quả đạt được của hình phạt.
- Để tránh việc coi hình phạt được đặt ra để nhằm mục đích trả thù
người phạm tội thì bên cạnh mục đích trừng trị, hình phạt còn mục đích phòng
ngừa riêng, đó là giáo dục, cải tạo người phạm tội thành người có ích cho xã
hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của xã hội, ngăn ngừa họ
phạm tội mới. Có thể nói đây chính là nội dung chủ yếu của mục đích phòng
ngừa riêng bởi pháp luật hình sự rất coi trọng khả năng giáo dục, cải tạo
người phạm tội, tác động, thức tỉnh họ, giúp họ nhận ra sai lầm từ đó cố gắng
sửa chữa để họ trở lại hòa nhập với cuộc sống xã hội. Bên cạnh đó, tính
cưỡng chế của một số loại hình phạt làm cách ly hoặc kiểm soát sự tiếp xúc
của người phạm tội với những yếu tố tiêu cực là nguyên nhân và điều kiện
của tội phạm. Tất cả những yếu tố trên là cơ sở nhằm hạn chế và loại trừ khả
năng phạm tội mới của người bị áp dụng hình phạt. Như vậy, mục đích giáo
dục, cải tạo và ngăn ngừa người phạm tội phạm tội mới đã thể hiện rất rõ tính
nhân đạo và tiến bộ trong chính sách hình sự của Nhà nước ta. 16

17
phòng ngừa chung là đòi hỏi tất yếu để đảm bảo mục đích chung của hình
phạt nhằm thực hiện chính sách hình sự của Nhà nước ta trong công cuộc đấu
tranh phòng và chống tội phạm.
1.1.1.3. Hệ thống hình phạt
Hệ thống hình phạt được định nghĩa "là tổng hợp các biện pháp
cưỡng chế về hình sự nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong
pháp luật hình sự, căn cứ vào mức độ nghiêm khắc của mỗi loại được sắp xếp
thành một danh mục cụ thể theo trình tự nhất định từ nhẹ đến nặng (hay
ngược lại) và chỉ do Tòa án quyết định trong bản án kết tội đối với bị cáo vì
đã thực hiện tội phạm" [8] hay nói một cách chung nhất "Hệ thống hình phạt
là tập hợp các loại hình phạt thành thể thống nhất theo trật tự nhất định"
[36].
Như vậy, có thể thấy mặc dù các hình phạt đều có nội dung, phạm vi
đối tượng và điều kiện áp dụng khác nhau song chúng được liên kết với nhau
theo một phương thức nhất định và chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
trong cùng một hệ thống.
Và việc quy định các loại hình phạt trong hệ thống hình phạt phải dựa
trên những yếu tố cơ bản như điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể, truyền
thống văn hóa, đạo đức dân tộc, truyền thống lập pháp, sự phát triển của khoa
học luật hình sự cũng như yêu cầu và thực tiễn của công cuộc đấu tranh
phòng, chống tội phạm và chính sách của nhà nước trong từng thời kỳ. Bên
cạnh đó, để xây dựng được một hệ thống hình phạt khả thi, góp phần đạt được
hiệu quả cao trong việc áp dụng các hình phạt trong thực tiễn đòi hỏi các nhà
làm luật phải căn cứ vào những tiêu chí chủ yếu như sau:
- Hệ thống hình phạt trong Phần chung Bộ luật Hình sự phải được xây
dựng khoa học, cân đối và hợp lý để làm cơ sở cho việc quy định một cách
chính xác các chế tài cụ thể đối với các tội phạm tương ứng trong Phần riêng.
19
dụng đối với những tội phạm nhất định. Bộ luật Hình sự quy định rất cụ thể
đối với loại tội phạm nào và hình phạt chính gì thì Tòa án được phép áp dụng
hình phạt bổ sung đối với người phạm tội. Trường hợp Bộ luật Hình sự quy
định việc áp dụng hình phạt bổ sung là bắt buộc thì Tòa án phải áp dụng hình
phạt đó nếu không có căn cứ để miễn hình phạt (ví dụ: Theo Điều 39 thì tất
các công dân Việt Nam bị kết án phạt tù về tội xâm phạm an ninh quốc gia thì
bị áp dụng hình phạt tước một số quyền công dân), còn trong thực tế, căn cứ
vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các đặc
điểm nhân thân người phạm tội, mức độ lỗi và các quy định của điều luật cụ
thể, Tòa án quyết định việc có áp dụng hình phạt bổ sung với người phạm tội
hay không, áp dụng mấy loại và mức hình phạt cụ thể. Trong hệ thống hình
phạt hiện hành có hai hình phạt được quy định vừa là hình phạt chính, vừa là
hình phạt bổ sung là hình phạt tiền và hình phạt trục xuất, tuy nhiên luật
không cho phép áp dụng đồng thời đối với cùng một tội phạm hình phạt đó
vừa là hình phạt chính, vừa là hình phạt bổ sung.
Thứ hai, trong 15 điều tại Chương V Phần chung, Bộ luật Hình sự
năm 1999 còn quy định một cách chính xác và chặt chẽ nội dung, phạm vi và
điều kiện áp dụng của 12 loại hình phạt (Điều 29 đến Điều 40) có tính chất
bắt buộc đối với Tòa án bao gồm:
Hình phạt chính: - Cảnh cáo (Điều 29);
- Phạt tiền (Điều30);
- Cải tạo không giam giữ (Điều 31);
- Trục xuất (Điều 32);
- Tù có thời hạn (Điều 33);
- Tù chung thân (Điều 34);
- Tử hình (Điều 35).

Trích đoạn Về phạm vi, điều kiện ỏp dụng hỡnh phạt tiền Về số lượng cỏc điều luật cú quy định hỡnh phạt tiền Về số lượng cỏc điều luật cú quy định hỡnh phạt tiền Phạm vi và điều kiện ỏp dụng Mức tiền phạt
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status