Nâng cao hiệu quả thi hành bản án hình sự tại thành phố Hải Phòng - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

BÙI THANH TÙNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH BẢN ÁN HÌNH SỰ
TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2010
MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng MỞ ĐẦU
1

Chương 1: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ VIỆC ĐƯA
BẢN ÁN HÌNH SỰ VÀO THI HÀNH

41
2.2.
Tình hình đưa các loại hình phạt có trong bản án hình sự vào
thi hành tại thành phố Hải Phòng
49
2.2.1.
Bản án tử hình
49
2.2.2.
Bản án phạt tù
53 2.2.3.
Bản án không phải hình phạt tù tại trại giam
60
2.3.
Những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đưa bản án hình
sự đã có hiệu lực pháp luật vào thi hành
63
2.3.1.
Hoàn thiện các quy định của pháp luật thi hành bản án hình sự
63
2.3.2.
Hoàn thiện quan hệ phối hợp cơ quan thi hành bản án hình sự
với các cơ quan tư pháp tại thành phố Hải Phòng
66
2.3.3.
Tổ chức, động viên các tầng lớp nhân dân tham gia vào công
tác thi hành án hình sự

2.4
Mức và loại hình phạt được áp dụng trong năm 2005
46
2.5
Mức và loại hỡnh phạt được ỏp dụng trong năm 2006
47
2.6
Mức và loại hỡnh phạt được ỏp dụng trong năm 2007
47
2.7
Mức và loại hình phạt được áp dụng trong năm 2008
48
2.8
Mức và loại hỡnh phạt được ỏp dụng trong năm 2009
48 1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Thi hành án hình sự là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước với nội
dung là thi hành chính xác, kịp thời phán quyết tại các bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Thực tế đã chỉ ra, các hoạt động khởi tố,
điều tra, truy tố, xét xử chỉ có ý nghĩa khi các bản án và các quyết định của
Tòa án đã có hiệu lực được đưa vào thi hành. Do vậy, việc thi hành bản án
hình sự chiếm vị trí rất quan trọng trong tố tụng hình sự. Điều 22 Bộ luật Tố
tụng hình sự quy định: Bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật phải được thi hành và phải được các cơ quan, tổ chức và mọi công dân
tôn trọng. Cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan trong phạm vi trách nhiệm

2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về thi
hành án hình sự. Trước hết, hoạt động thi hành án hình sự được phân tích
trong một số giáo trình và sách tham khảo như: Giáo trình Luật tố tụng hình
sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, tái bản lần thứ 5, năm 2009, của tập thể
tác giả do TS. Hoàng Thị Minh Sơn chủ biên; Sách chuyên khảo: Pháp luật thi
hành án hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp,
năm 2006, của tập thể tác giả do PGS.TS Võ Khánh Vinh - PGS.TS Nguyễn
Mạnh Kháng chủ biên; Sách chuyên khảo Một số vấn đề về thi hành án hình
sự, Nxb Công an nhân dân, năm 2002, của TS. Trần Quang Tiệp Hoặc được
đề cập trong một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành như: "Nhu cầu
hoàn thiện pháp luật về thi hành án hình sự ở nước ta hiện nay", của Nguyễn
Trọng Hách, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5/2002; "Thi hành án: Bất
cập từ cơ quan pháp luật", của Nguyễn Khắc Bộ, Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp, số 7/2003; "Một số vấn đề về thi hành án tử hình", của Võ Khánh Vinh,
Tạp chí Tòa án nhân dân, số 10/2004; "Quan niệm quyền lực nhà nước là
thống nhất, có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc

3
thực hiện quyền lực nhà nước từ góc nhìn của hoạt động thi hành án hình sự",
của Phạm Văn Tỉnh, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1/2003; "Về Tạm đình
chỉ chấp hành hình phạt tù", của Mai Bộ, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 4/2005;
và khi xây dựng Bộ luật thi hành án, Ban soạn thảo của Bộ Tư pháp cũng có
một số nghiên cứu, sơ kết tình hình thi hành bản án hình sự.
Những nghiên cứu trên đây của các tác giả mới chỉ dừng lại dưới dạng
các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, một phần, mục
trong các giáo trình. Mặt khác, từ trước đến nay chưa có một đề tài nghiên
cứu nào đề cập đến tình hình thi hành bản án hình sự trên địa bàn thành phố
Hải Phòng. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài này không trùng với bất kì công
trình nào đã được nghiên cứu trước đây.

của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, Viện kiểm sát nhân dân thành phố
Hải Phòng tổng kết công tác xét xử và công tác thi hành án hình sự trong
những năm (2002 - 2009), và thông tin trên mạng Internet để phân tích, đánh
giá, tổng hợp các vấn đề thực tiễn xung quanh việc thi hành bản án hình sự
trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 2chương:
Chương 1: Những quy định của pháp luật về việc đưa bản án hình sự
vào thi hành.
Chương 2: Thực trạng đưa bản án hình sự vào thi hành tại thành phố
Hải Phòng từ 2002 đến 2009 và những đề xuất, kiến nghị.

5
Chương 1
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VỀ VIỆC ĐƯA BẢN ÁN HÌNH SỰ VÀO THI HÀNH

1.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA VIỆC ĐƯA BẢN ÁN HÌNH SỰ
VÀO THI HÀNH
1.1.1. Khái niệm
Thi hành án hình sự (hay còn gọi là thi hành bản án, quyết định của
Tòa án) là hoạt động có ý nghĩa hết sức quan trọng, có liên quan trực tiếp tới
việc thực hiện quyền lực nhà nước, đến trật tự xã hội, tinh nghiêm minh của
hệ thống pháp luật, đến công lý và công bằng xã hội. Việc đảm bảo cho các
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án được thi hành một
cách chính xác, kịp thời có ý nghĩa góp phần khôi phục những thiệt hại do tội
phạm gây ra, cũng như đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham
tố tụng có liên quan. Tuy nhiên, đưa bản án hình sự vào thi hành là một trong
hoạt động xã hội cần phải có sự thống nhất về nhận thức.

đình chỉ việc xét xử phúc thẩm (khoản 2 Điều 238 Bộ luật Tố tụng hình sự).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Quyết
định phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày ra quyết định (khoản 3 Điều 248 Bộ
luật Tố tụng hình sự). Quyết định của hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định (khoản 1 Điều 288 và khoản 1
Điều 299 Bộ luật Tố tụng hình sự).
Về các bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật,
nhưng được phép thi hành ngay được quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật
Tố tụng hình sự. Theo hướng dẫn tại tiểu mục 1.2 mục 1 Phần I Nghị quyết số
02/2007/NQ-HĐTP các trường hợp bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ
thẩm được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị là trường
hợp Thẩm phán ra quyết định đình chỉ vụ án trong thời hạn chuẩn bị xét xử

7
theo quy định tại các Điều 39, 176 và 180 của Bộ luật Tố tụng hình sự; trường
hợp Hội đồng xét xử sơ thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử vụ án theo quy
định tại Điều 199 của Bộ luật Tố tụng hình sự; trường hợp Hội đồng xét xử sơ
thẩm ra bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 199 Bộ luật Tố tụng hình sự
(về việc bị cáo không phạm tội) và Điều 227 Bộ luật Tố tụng hình sự (về việc
trả tự do cho bị cáo) của Bộ luật Tố tụng hình sự; và trường hợp bị cáo bị phạt
tù nhưng được hưởng án treo và khi bản án đã có hiệu lực pháp luật mà thời
gian thử thách vẫn còn.
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án hình sự số
53/2010/QH12 được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 29/6/2010 sẽ có hiệu
ngày 1/7/2011 ngoài các bản án, quyết định nêu trên, các bản án, quyết định
được thi hành sẽ có thêm: quyết định của Tòa án Việt Nam tiếp nhận người
đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam chấp hành án và đã có
quyết định thi hành; quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù
tại Việt Nam cho nước ngoài; bản án, quyết định về áp dụng biện pháp tư
pháp bắt buộc chữa bệnh, giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường

phạt, biện pháp tư pháp được thực hiện trong thực tế. Thứ hai, giáo dục, cải
tạo người bị kết án trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội, tạo điều
kiện để cho người bị kết án tái hòa nhập với cộng đồng và phòng ngừa họ tiếp
tục phạm tội mới. Theo đó, việc thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật của Tòa án là cơ sở để đánh giá hiệu quả của các hình phạt, biện
pháp pháp tư pháp được quy định tại Bộ luật Hình sự, cũng như đảm bảo mục
đích của hình phạt. Và cuối cùng, giáo dục ý thức tôn trọng, tuân thủ và thực
hiện nghiêm chỉnh quy định của pháp luật góp phần thực hiện đấu tranh
phòng, chống tội phạm trong thực tiễn.
Như vậy, thông qua phân tích nêu trên về nội dung, nhiệm vụ của hoạt
động thi hành án hình sự, có thể hiểu đưa bản án hình sự vào thi hành là một
hình thức hoạt động thực thi quyền lực nhà nước thông qua việc tổ chức thi
hành các bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật của các

9
cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành bản án và quyết định của Tòa án theo
một thủ tục do pháp luật quy định, nhằm bào đảm người bị kết án phải chấp
hành án để họ tự giáo dục trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội,
phòng ngừa họ tiếp tục phạm tội mới và góp phần giáo dục ý thức tôn trọng,
tuân thủ pháp luật của người dân.
1.1.2. Những đặc điểm của việc đưa bản án hình sự vào thi hành
Hiện nay, trong khoa học pháp lý ở nước còn tồn tại nhiều quan điểm
khác nhau về bản chất của thi hành án hình sự. Theo TS. Nguyễn Hữu Thư và
một số nhà luật học khác cho rằng, thi hành án hình sự là một giai đoạn của tố
tụng, bởi nếu tách ra thì sẽ không thực hiện được mục tiêu chung của toàn bộ
quá trình tố tụng. Khi chân lý được làm sáng tỏ thể hiện trong bản án, quyết
định của Tòa án thì mới dừng lại ở việc làm rõ đúng hay sai, phải hay trái trên
văn bản, giấy tờ. Muốn nó được thực hiện trên thực tế, cần phải chờ ở hiệu
quả công tác thi hành án hình sự. Vì vậy, "thi hành án là giai đoạn tiếp theo
của quá trình xét xử" [28, tr. 12]. Quan điểm khác của PGS.TS. Nguyễn Tất Viễn

cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cấm cư trú, quản chế ); các
biện pháp tư pháp (tịch thu tang vật, bồi thường thiệt hại; giáo dục tại xã,
phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng v.v… Theo đó, các quan hệ phát
sinh trong quá trình thi hành án hình sự cũng hết sức phức tạp. Các quan hệ
này tuân theo các nguyên tắc mang đậm tính hành chính hơn là tính tố tụng và
do pháp luật thi hành án hình sự điều chỉnh. Có thể phân loại các quan hệ xã
hội phát sinh trong quá trình thi hành án thành các nhóm cơ bản sau:
- Các quan hệ xã hội phát sinh phát sinh sau sau khi bản án, quyết
định của Tòa án có hiệu lực pháp luật (quan hệ phản ánh nội dung của việc thi
hành và chấp hành các bản án, quyết định của Tòa án, xác định quyền và
nghĩa vụ của các chủ thể trong việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án);
- Quan hệ liên quan đến việc hình thành cơ cấu tổ chức, quy định thẩm
quyền và quy chế hoạt động của Cơ quan thi hành án hình sự;

11
- Quan hệ phát sinh trong quá trình giáo dục, cải tạo người bị kết án;
quan hệ của các cơ quan khác của Nhà nước và các tổ chức xã hội khi tham
gia vào quá trình giáo dục, cải tạo người bị kết án.
Bên cạnh đó, tính độc lập tương đối của thi hành án hình sự so với các
hoạt động tố tụng còn được thể hiện ở đặc trưng thi hành bản án, quyết định
của Tòa án là hoạt động mang tính hành chính - tư pháp. Theo quy định của
pháp luật hiện hành, không phải các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực
pháp luật thì sẽ được thi hành ngay mà phải thông qua một thủ tục hình chính,
đó là việc Chánh án Tòa án xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án được ủy thác thi hành
án ra quyết định thi hành án hình sự mới được thi hành. Hơn nữa, việc thi
hành các hình phạt không phải là hình phạt tù và tử hình, như cải tạo không
giam giữ, phạt tù nhưng cho hưởng án treo được giao cho các cơ quan, tổ
chức, chính quyền địa phương thực hiện theo thủ tục hành chính. Việc thi
hành các hình phạt khác như phạt tiền, trục xuất, các biện pháp tư pháp cũng
được thực thiện theo thủ tục hình chính. Vì vậy, không phải mọi hoạt động

cho nội dung tại bản án, quyết định của Tòa án được thi hành một cách chính
xác, kịp thời trong thực tiễn. Tòa án nhân dân với tư cách là cơ quan "xét xử
của nước của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" (Điều 127 Hiến
pháp năm 1992), đại diện cho nhà nước, đưa ra các phán quyết bằng việc ra
bản án, quyết định việc bị cáo có tội hay không có tội, hình phạt và các biện
pháp tư pháp khác. Các phán quyết này là ý chí, thái độ của Nhà nước đối với
người bị kết án khi họ xâm phạm tới những quan hệ xã hội được luật hình sự
bảo vệ. Do đó, việc thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật là
hoạt động đảm bảo cho ý chí của Nhà nước được thể hiện trong các phán
quyết của Tòa án trở thành hiện thực, cũng như đạt được mục đích của hình
phạt do Tòa án áp dụng đối với người bị kết án.
Thứ hai, đây là hoạt động mang tính bắt buộc chấp hành đối với tất cả
các chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan. Đặc điểm này được xác
định trên cơ sở nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án và quyết định của
Tòa án quy định tại Điều 136 Hiến pháp năm 1992: "Các bản án và quyết

13
định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà
nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi
công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp
hành" và khoản 1 Điều 22 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
phải được thi hành và phải được các cơ quan, tổ chức và mọi công
dân tôn trọng. Cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan trong phạm vi
trách nhiệm của mình phải chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết
định của Tòa án và phải chịu trách nhiệm trược pháp luật về việc
chấp hành đó [24].
Nội dung của đặc điểm nêu trên của thi hành án hình sự được thể hiện
ở những phương diện, Tòa án nhân dân nhân danh nhà nước áp dụng các biện
pháp cưỡng chế được pháp luật thi hành án quy định đối với người bị kết án,

biệt Tòa án cấp huyện đó đã được tăng thẩm quyền theo Nghị quyết
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hay chưa [17].
Mặt khác, việc ủy thác ra quyết định thi hành án chỉ được thực hiện
trong các hai trường hợp sau: Cơ quan Công an cùng cấp có trách nhiệm thi
hành bản án, quyết định của Tòa án thông báo bằng văn bản cho Tòa án biết
là người bị kết án đã chuyển đi nơi khác và có địa chỉ cụ thể hoặc Tòa án đã
xét xử sơ thẩm vụ án có căn cứ về việc người bị kết án đang cư trú trên địa
bàn hành chính khác (điểm c tiểu mục 2.1 mục 2 Phần I Nghị quyết số
02/2007/NQ-HĐTP). Thời hạn Tòa án phải ra quyết định thi hành án là 7 ngày
kể từ ngày bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày
nhận được bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, quyết
định tái thẩm. Trong trường hợp ủy thác ra quyết định thi hành án, Chánh án
Tòa án được ủy thác phải ra quyết định thi hành án trong thời hạn 7 ngày, kể
từ ngày nhận được quyết định ủy thác thi hành án. Sau khi Chánh án Tòa án
được quy định tại khoản 1 Điều 256 Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định thi
hành án, thủ tục đưa ra thi hành các bản án, quyết định của Tòa án được thực
hiện như sau: Đối với người bị kết án phải chấp hành hình phạt tù đang tại

15
ngoại thì trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án
phải có mặt tại Cơ quan công an để thi hành án. Nếu người bị kết án bỏ trốn
thì Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án yêu cầu cơ quan cùng cấp ra
quyết định truy nã. Trong trường hợp bị cáo bỏ trốn trước khi xét xử, cơ quan
quan công an đã có quyết định truy nã những không bắt giữ được người đó và
Tòa án đã xét xử vắng mặt thì khi bản án có hiệu lực pháp luật, Tòa án ra
quyết định thi hành án gửi Cơ quan công an cùng cấp mà không phải yêu cầu
ra quyết định truy nã mới. Đối với vụ án hình sự có nhiều bị cáo, mà trong
thời hạn kháng cáo, kháng nghị chỉ có một hoặc một số bị cáo có kháng cáo,
hoặc bị kháng cáo, kháng nghị thì phần của bản án đối với bị cáo không
kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật và Tòa

thuộc Bộ Công an, các cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng; thành lập cơ sở
chuyên khoa y tế để thi hành biện pháp bặt buộc chữa bệnh; cơ quan thi hành
án dân sự thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản. Đối với việc thi hành các
hình phạt khác, Nhà nước chưa thành lập cơ quan chuyên trách mà giao cho
chính quyền xã, phường, thị trấn, cơ quan, tổ chức nơi người bị kế án cư trú
hoặc làm việc thực hiện. Có thể nói, tổ chức hệ thống cơ quan thi hành án
hình sự nước ta rất phức tạp gồm cơ quan chuyên trách do Nhà nước thành
lập, vừa có sự tham gia của chính quyền địa phương, của các cơ quan khác và
các tổ chức xã hội. Sở dĩ như vậy là do sự đa dạng của các loại hình phạt, biện
pháp tư pháp, cũng như sự phong phú về thủ tục thực hiện các hình phạt, biện
pháp tư pháp này. Trong thực tiễn, cơ thi hành án hình sự không chỉ có nhiệm
vụ đảm bảo thực hiện thống nhất, kịp thời các bản án, quyết định của Tòa án.
Bên cạnh đó, cơ quan này còn có trách nhiệm thực hiện các biện pháp giáo
dục, cải tạo người bị kết án thành người có ích cho xã hội, phòng ngừa họ
phạm tội mới, tạo điều kiện để họ tái hòa nhập cộng đồng.
Nguyên tắc nói chung được hiểu là tư tưởng, quan điểm cơ bản, đóng
vai trò chỉ đạo các hành động cụ thể. Theo đó, có thể xác định nguyên tắc thi
hành án hình sự là tư tưởng, quan điểm:

17
Chỉ đạo toàn bộ quá trình xây dựng và áp dụng các quy định
của pháp luật thi hành án hình sự trong khi thực hiện các bản án,
quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trên thực tế;
giáo dục, cải tạo người bị kết án, phòng ngừa để họ không phạm tội
mới, tạo điều kiện để họ tái hòa nhập cộng đồng và giáo dục người
khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng chống tội phạm [28, tr. 21].
Theo quy định tại Điều 4 Luật Thi hành án hình sự năm 2010, việc thi
hành án hình sự phải theo các nguyên tắc: Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, bảo
đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;
bản án, quyết định có hiệu lực thi hành phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân

hành hình phạt tử hình (Điều 259 Bộ luật Tố tụng hình sự).
Về thủ tục xem xét bản án trước khi đưa ra thi hành được thực hiện
được quy định tại khoản 1 Điều 258 Bộ luật Tố tụng hình sự: Sau khi bản án
tử hình có hiệu lực pháp luật, hồ sơ vụ án phải được gửi ngay lên Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao và bản án phải được gửi ngay lên Viện trường Viện
kiểm sát nhân dân tối cao. Trong thời hạn hai tháng, kể từ ngày nhận được
bản án và hồ sơ vụ án, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trường Viện
kiểm sát nhân dân tối cao phải quyết định kháng nghị hoặc không kháng nghị
giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Như vậy, trách nhiệm xem xét lại bản án tử hình được trao cho Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Đồng thời, quy định rõ về thời hạn mà Chánh án Tòa án Tòa án nhân dân tối
cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét để quyết định
kháng nghị hoặc không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Trong trường hợp phát hiện bản án tử hình đã có hiệu lực pháp do Tòa án
tuyên không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của
hành vi phạm tội do có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án
(đối với thủ tục giám đốc thẩm) hoặc khi có tình tiết mới được phát hiện có

19
thể làm thay đổi nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án không biết trước
khi ra bản án, quyết định đó (đối với thủ tục tái thẩm), thì bản án tử hình đó
được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Đây là một thủ
tục đặc biệt nhằm kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật nói chung khi bị kháng nghị. Qua đó, đảm bảo việc
kịp thời tránh được những sai lầm trong việc quyết định áp dụng hình phạt tử
hình của Tòa án đối với người bị kết án nói riêng.
Tại giai đoạn này, người bị kết án tử hình có quyền gửi đơn xin ân
giảm án tử hình lên Chủ tịch nước. Theo quy định tại Điều 258 Bộ luật Tố
tụng hình sự việc gửi đơn xin ân giảm án tử hình được thực hiện trong hai

án nhân dân tối cao và quyết định không kháng nghị của Viện trường Viện
kiểm sát nhân dân tối cao đối với các bản án sơ thẩm và phúc thẩm; đơn xin
ân giảm án cho người bị kết án của tổ chức xã hội, nhân dân, chính quyền địa
phương hoặc của những người thân thích như bố, mẹ, anh, chi, em ruột của
người bị kết án (nếu có); biên bản khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của
người bị kết án gây ra. Cuối cùng, hậu quả pháp lý của việc xem xét đơn xin
ân giảm án tử hình là: án tử hình được chuyển thành từ chung thân nếu đơn
xin ân giảm được Chủ tịch nước chấp thuận hoặc bản án tử hình được thi
hành nếu Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm.
Về điều kiện thi hành bản án tử hình, theo quy định tại tiểu mục 1.2
Mục 1 Phần II Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP bản án tử hình được thi
hành khi người bị kết án tử hình không làm đơn xin ân giảm hình phạt tử hình
và Tòa án xử sơ thẩm đã nhận được quyết định không kháng nghị của Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao và quyết định không kháng nghị của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao; người bị kết án tử hình có làm đơn xin ân
giảm hình phạt tử hình và Tòa án xử sơ thẩm đã nhận được quyết định không
kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, quyết định không kháng
nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và bản sao quyết định
của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm hình phạt tử hình (do Tòa án nhân dân
tối cao gửi đến); người bị kết án tử hình không làm đơn xin ân giảm hình phạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status